Vườn tình - Chương 21

Rồi anh nằm sấp chờ một lúc. Tai anh ù đến mức không còn nghe
hơi thở của chính mình nữa. Anh nhìn chăm chăm vào bóng tối trước mặt
nhưng không thấy gì. Không còn bóng người nào nữa. Không còn ánh sáng
nào nữa. Không còn gì động đậy nữa. Chỉ có bầu trời thoáng đãng và biển
khơi. Dần dà, anh lại nghe tiếng sóng biển rì rào, biển vỗ dưới vách đá.
Anh nghe tiếng rung của biển ngay dưới bụng mình. Anh trườn về phía
trước, trườn được vài mét rồi anh đứng dậy và thận trọng đi về phía bờ
vực. Trước khi đến nơi, anh thấy có cái gì đó đang lóe sáng dưới đất. Đó
là một cái chai không. Một chai vodka. Đúng loại rượu mà anh hay uống.
Anh không biết tại sao nhưng rất ngạc nhiên khi nhìn thấy cái chai đó.
Anh đứng như trời trồng nhìn nó một lúc lâu. Anh cưỡng lại cơn buồn nôn.
Anh muốn bằng mọi giá phải làm cho đầu mình sáng suốt và mạch lạc nhưng
anh không thể. Anh bước vài ba bước nữa rồi quỳ xuống nghiêng mình trên
khoảng không.

Phải mất một lúc khá lâu anh mới tìm thấy thi thể.
Một vệt trắng giữa những hốc đá. Trắng như bọt biển. Vệt trắng đó bắt
đầu uốn lượn một cách nguy hiểm trước mắt anh. Chóng mặt và buồn nôn.
Vào lúc đó, anh ngẩng đầu lên, một giọng nói lại cất lên sau lưng anh:

- Cảm ơn ông đã đến, Édouard Dayms nói.

Trong
khoảng vài giây, anh đã thực sự tin vào một hiện tượng siêu nhiên. Anh
vừa mới bắn hạ thằng này, anh mới thấy xác của hắn sâu ba mươi mét dưới
kia, thế mà bây giờ hắn lại đứng ngay trước mặt anh!... Lạy Chúa, mong
Chúa rủ lòng thương cho con thêm một chút sáng suốt và minh mẫn... Anh
nhìn hắn, miệng há hốc, như nhìn ma hay quỷ. Như nhìn một con quỷ bằng
xương bằng thịt. Nếu đó chỉ là một con quỷ thì cần gì súng để dọa nó.

Đó
là khẩu Ruger đáng nhớ. Édouard Dayms chĩa thẳng vào người anh. Có thể
hơi lạ nhưng sự hiện diện của khẩu súng làm cho anh yên tâm hơn mọi thứ
khác. Có nó, anh đang rời thế giới của những điều kỳ diệu và của ma
thuật đen để trở về với những mảnh đất quen thuộc, những nơi nhớp nhúa
và thê thảm mà những con người hèn hạ đang sống.

Anh hơi chỉ tay xuống vực. Rồi anh lắp bắp:

- Ai... Ai...?

- Cha tôi, Édouard Dayms nói. Người đã đẻ ra tôi.

Anh
ngớ người ra. Choáng váng. Anh hết nhìn cái vực đến nhìn chai vodka rồi
lại nhìn Édouard cùng khẩu súng của hắn... Và bỗng nhiên, một ánh sáng
lóe lên trong đầu óc u mê của anh. Anh chợt hiểu ra những điều vừa diễn
ra thực hư thế nào. Cái bẫy. Một âm mưu!

Édouard Dayms đã bắn anh.
Hắn không tìm cách bắn trúng anh. Không hề. Hắn chỉ muốn anh bắn trả.
Anh đã bắn trả thật. Nhưng bóng người loáng thoáng trong bóng đêm mà anh
đã nã súng không phải là hắn. Đó là cha hắn. Và cái xác nằm dưới những
hốc đá là cha hắn. Và chính anh là người đã giết ông ta!

Một vụ
giết người đã chết. Một hành động đã được tính toán từ trước. Lạnh lùng.
Lạnh lùng như sự thù hận của hắn đối với con người đó. Édouard Dayms đã
lợi dụng anh. Hắn đã bịp anh rất đẹp.

- Thời gian thong thả trôi đi..., hắn thì thầm.

Nước mắt anh ứa ra. Anh không hề cảm thấy sợ hãi, chỉ cảm thấy cực kỳ thất vọng. Và điên tiết.

Anh vẫn quỳ trước mặt hắn. Nếu giơ thẳng tay ra anh có thể với tới họng súng. Édouard khẽ lắc đầu.

- Tôi sẽ để ông ở lại, thưa ông Astrid. Tôi sẽ đi. Đó là tất cả những gì tôi có thể làm cho ông.

- Mày bắn đi! Anh hét lên. Bắn đi, đồ chết tiệt! Bắn đi nào!

Cái
vực cách chỗ anh chưa đầy một mét. Anh còn có sự lựa chọn. Anh còn có
thể vớt vát được những gì còn có thể vớt vát: một chút gì gọi là danh
dự. Và có thể đi gặp những thiên thần của anh, ai mà biết được!

Anh đã không làm thế.

Édouard Dayms tiến tới. Anh bắt gặp ánh mắt của hắn lần cuối trong khi hắn giơ thẳng tay lên.

- Bắn đi..., anh van lơn.

Cánh tay hắn bỗng chặt vào không khí. Cả báng súng đập thẳng vào thái dương của anh. Và chỉ còn bóng tối.

Thế đấy.

Tất cả mọi chuyện đã kết thúc như vậy đấy, thưa ông Astrid.

Phải
tiêu diệt cái ác. Phải thanh toán cái ác, như người ta thường nói. Rồi
sau đó phải biết cách tự tha thứ cho mình nếu muốn câu chuyện tiếp tục.

Về
phần tôi, tôi vẫn luôn thích biển vào mùa đông và vẫn tiếp tục dạo chơi
trên bờ biển. Giờ đây, biển đã lặng sóng. Trên cát có vết chân tôi. Có
vết chân của Florence. Có vết chân những đứa con của tôi. Chúng ta có
thể đi theo những vết chân đó đến đâu ta muốn.

Các bạn cứ chờ đó mà xem.

Tôi uống một ngụm nước. Rồi uống thêm ngụm nữa. Rồi tôi nói:

- Bây giờ, em biết đấy... Đó không hoàn toàn là câu chuyện đã được kể trong cuốn sổ tay, không đúng vậy sao?

Marie
im lặng. Trong tư thế đó, một nửa gương mặt của em chìm trong ánh lửa
nóng bỏng của cây nến. Tôi nghĩ đến Léna đang ngồi trước cây đàn piano.
Bỗng tôi muốn được nghe nhạc Chopin hay Debussy. Một cái gì đó tuôn trào
như dòng thác dội vào đá.

Ở cái bàn phía sau chúng tôi, khách
hàng đã đứng dậy. Ba thanh niên, hai cô gái và một cậu con trai. Chắc là
sinh viên. Một cô gái đội chiếc mũ nồi xứ Basque. Tôi nhìn đồng hồ, gần
mười giờ tối rồi.

- Tự vệ chính đáng, khi đó Marie nói. Anh bị
người ta bắn và anh đã bắn trả. Bất cứ ai ở vào địa vị anh đều sẽ hành
động như vậy, anh Alex ạ.

Tôi ung dung trả lời:

- Bạn bè,
đồng nghiệp của anh cũng đã đưa ra cách giải thích như thế. Để bưng bít
vụ án đó mà. Nếu nhìn thẳng vào thực tế thì đó là một sai lầm tai hại.
Cái hay là bố của Édouard Dayms có ba gram cồn trong máu và hai viên đạn
trong người: đạn của anh. Cái dở: Đó là kết cục tất yếu cho sự nghiệp
lâu dài và thảm hại của anh. Đỉnh điểm của nó.

- Anh Alex...

-
Anh đã giết ông ta, Marie ạ, sau khi đã nhạo báng tất cả những nguyên
tắc cơ bản nhất trong nghề của anh. Sau khi đã đi lại hàng tháng trời
với một nghi phạm. Một kẻ được cho là đã giết ít nhất năm người. Anh đã
cố tình làm thế, biết mà anh vẫn làm. Chỉ cần hắn huýt sáo là anh chạy
tới. Anh đã lao vào hắn như một cảnh sát tập sự vô trách nhiệm nhất.
Công khai, không giấu giếm. Và say như một kẻ bợm rượu. Anh không có cớ
gì để biện minh cho mình. Édouard Dayms đã không thể tha thứ, anh lại
càng không.

Marie thở dài ngao ngán. Hết lí lẽ, em nói:

-
Tại sao anh chưa bao giờ nói với em về chuyện đó, anh Alex? Trong những
năm tháng đó, em vẫn ở đây. Anh chẳng nói gì với em cả. Vì sao?

Tôi suy nghĩ một lúc. Rồi nhăn mặt.

- Có lẽ để em không phải xấu hổ vì đã yêu anh.

Marie
tái mặt. Đôi mắt to và long lanh của em sáng lên. Đúng khi đó, cậu bồi
bàn đến dọn bàn. Marie lợi dụng lúc đó để biến vào phòng vệ sinh. Tôi
gọi một tách cà phê. Tôi cảm thấy chán chường, trống rỗng.

Năm
phút sau, Marie lại xuất hiện, mặt vẫn tái xanh. Em ngồi xuống mà không
nói một lời nào. Tôi nhìn em và thấy rõ là mọi thứ đang dao động trong
đầu em. Tôi chờ. Tôi nghĩ em là người có quyền lựa chọn: hoặc tiếp tục
hoặc nói về chuyện khác, hoặc im lặng. Người ta đã đem cà phê lại cho
tôi. Tôi bỏ đường vào tách và khuấy rất lâu. Rồi Marie cầm lấy cái áo
bọc những tờ giấy và đặt lên bàn.

- Về thông tin mà anh đã hỏi em, Marie nói, về cái tiêu đề ấy em đã tìm ra một phương án.

Đó là một cách rời trọng tâm cuộc tranh luận mà không bỏ quá xa.

- Rồi à? Tôi nói. Em đã xoay xở như thế nào?

- Con chuột nhỏ.

- Gì cơ?

- Web, anh Alex ạ, Internet có gợi cho anh điều gì không?

- Anh biết là có cái đó.

-
Ở trường, bọn em được học khá đầy đủ. Một nữ cán bộ thư viện không còn
là một bà già vật lộn với những cuốn sách đầy bụi bặm. Bọn em sử dụng
những phương tiện truyền thông mới. Em dùng một phần thời gian làm việc
trong ngày để tìm kiếm trên Net. Chi phí do Bộ Giáo dục chi trả, thú
thật là như vậy.

Khó mà tôi có thể tưởng tượng nổi Marie trước màn
hình vi tính, đang lái con tàu của mình trong một dải thiên hà, trong
một mê cung ảo khổng lồ vốn rất xa lạ với tôi.

- Thế kết quả thế nào? Tôi hỏi.

- Từ từ đã nào. Em cần một vài ngày nữa để xác minh lại.

- Đồng ý.

- Và em cũng muốn giữ cuốn sổ tay trong thời gian này. Được không anh?

- Em giữ bao lâu cũng được, tôi nói.

Ba
mươi phút sau, tôi cho em xuống phía dưới chung cư của em. Chúng tôi
không nói thêm điều gì quan trọng lắm. Marie bị mệt. Tôi cũng thế. Chúng
tôi thỏa thuận với nhau là khi nào Marie giải quyết xong cái tiêu đề bí
ẩn đó thì em sẽ cho tôi biết. Em chú tâm thực hiện nhiệm vụ đó một cách
nghiêm túc, không quản thời gian. Như thể em chỉ làm mỗi việc đó. Trước
khi em ra khỏi xe, tôi nói:

- Sẽ ổn chứ?

- Anh đang hỏi em à? Marie nói.

- Hình như đã đến lúc anh phải lo lắng rồi, phải không? Lắc đầu nhẹ.

- Anh có biết em làm gì khi em quá buồn không? Marie hỏi.

- Không.

- Em mở đĩa nhạc của Pierre Perret.

Em
vừa mỉm cười vừa đẩy cửa xe. Tôi không nghĩ đó là một câu nói dí dỏm.
Tôi nhìn em đi qua vỉa hè và mất dạng sau cánh cửa của khu chung cư cũ
kỹ.

… And I saw it was filled with graves(3)

3. … Và ta thấy đầy nấm mồ trong đó

Sáng
hôm sau, tôi đi vào vườn với một tách cà phê cho mình và một bát sữa
cho mèo. Tôi chờ con vật gần mười lăm phút. Nó không đến. Tôi tự nhủ là
cử chỉ trước đó của tôi, ý định vuốt ve nó, đã làm cho nó sợ hãi, những
thói quen của nó đã bị đảo lộn. Và rồi, suy cho cùng, có lẽ nó chỉ muốn
cà người vào quần tôi. Không gì thêm. Sáng hôm sau, tôi vẫn tiếp tục như
vậy. Trời không mưa nhưng vẫn luôn xám xịt. Không khí đầy ẩm ướt. Con
mèo chạy đến đúng lúc tôi thôi không nghĩ đến nó nữa. Nó hít hít bát
sữa. Nó không đụng đến sữa. Lần này, tôi từ từ tiến tới: tôi cúi xuống,
chìa tay ra, lướt nhẹ trên bộ lông của nó. Rồi vuốt ve nó. Tôi cảm thấy
lông của nó hơi ướt. Nó không chạy trốn. Nó bắt đầu gừ gừ, mắt hé mở.

Hai
ngày nay tôi không có tin tức gì của Marie. Tôi không cố tình hỏi han
em. Bằng một cách nào đó, tôi đã thay đổi những thói quen của em. Len
lỏi, bất ngờ trở về trong cuộc đời em. Thời gian thích ứng trở lại. Tôi
tưởng tượng em đang nằm dài trên chiếc giường trắng tinh và phân tích tỉ
mỉ di cảo của Édouard Dayms. Trên nền nhạc của bài Cô gái Giava của
Gainsbourg. “Thú thật em yêu ơi, anh chưa hề đau khổ...”

Sáng ngày
thứ ba, tôi viết đơn xin nghỉ việc và vội vàng đi bỏ vào hòm thư. Khi
bỏ đơn vào hòm thư, lòng tôi hơi quặn thắt. Tôi đã nghĩ đến việc quay
lại sở cảnh sát để lấy đồ đạc của mình, nhưng tôi nhớ ra là mình không
còn gì ở đó nữa. Đúng hơn là không còn gì đáng phải cất công đến đó.
Cũng không còn ai thật sự phật lòng khi tôi tránh không đến chào tạm
biệt. Tôi có gian lận phần nào khi vẫn giữ thẻ cảnh sát của mình, nó có
thể có ích cho nhiệm vụ cuối cùng mà tôi đã quyết tâm hoàn thành. Từ bưu
điện trở về, tôi thấy con mèo đang nằm bên cái bát. Hết sữa, tôi lại
thử mỡ giăm bông. Nó cũng không thèm. Tôi nghĩ chắc chắn là nó có tình
cảm với tôi một cách thành thật và vô tư - trừ phi chủ của nó đã nhồi
cho nó một bụng đầy? Lúc một giờ chiều, Marie gọi điện cho tôi từ
trường. Em mời tôi đến nhà ăn tối đúng hôm đó luôn.

- Anh mang gì cho em đây? Tôi hỏi.

- Mang anh thôi, em nói.


sao tôi cũng mua một bó hoa bên đường. Những bông hoa màu da cam mà tôi
đã quên tên. Marie kết những bông hoa đó với những bông hoa vàng trong
cái bình lớn đặt trong phòng khách. Bàn ở dưới bếp nhỏ quá, là mình sắp
được nghe giảng hay cái gì đó đại loại như thế. Marie có vẻ rất tập
trung, đôi mắt sáng của em nhìn tôi chằm chằm, rồi em nói, giọng như cầu
nguyện:

- So I turn’d to the Garden of Love

That so many sweet flowers bore;

And I saw it was filled with graves

Đôi mắt em ánh lên niềm kiêu hãnh.

- Dịch thế nào? Tôi hỏi.

- Thế là ta quay về Khu vườn Tình yêu

Nơi ngàn hoa đang tỏa hương ngào ngạt

Và ta thấy đầy nấm mồ trong đó.

Tôi gật đầu.

- Tiêu đề đầy đủ à?

Marie gật đầu.

- Hay quá, tôi nói. Em tìm ra ở đâu thế?

- Đó là một đoạn trích ra từ một tác phẩm của William Blake(4).

4. Họa sĩ và thi sĩ người Anh thế kỷ XVIII.

Tôi thầm thì đọc lại:

- Và ta thấy đầy nấm mồ trong đó...

Cả khổ thơ quay cuồng trong đầu tôi. Giống như một con rắn biển, vừa hiển hiện lại vừa không thể nắm bắt.

- Thật đẹp, tôi nói.

- Đúng.

- Và buồn nữa.

- Sầu muộn.

- Buồn.

- Đúng thế, Marie công nhận.

Sau đó, hai chúng tôi im lặng không nói gì, y như mặc niệm vậy. Tôi nhìn bó hoa dựng thẳng trong cái bình. Rồi tôi nói:

- Thực sự anh không hiểu làm thế nào mà con chuột vi tính lại có thể dẫn em đến kết quả đó.

- Qua một con đường khá ngoằn ngoèo, Marie thở dài. Hoàn toàn giống gương mặt của kẻ đã vẽ ra nó.

- Ed điên rồ.

- Đúng thế.

- Em tiếp tục đi. Anh nghe đây.

-
Xuất phát từ Ariel cả, Marie nói. Em đã tự hỏi là tại sao Édouard Dayms
đã chọn đúng tên này. Đối với “Matthieu” thì có thể hiểu được vì đó
đúng là cái tên thứ hai của hắn. Nhưng “Ariel”... Tóm lại, em đã tìm
kiếm trên mạng. Và trong khoảng mười kết quả tìm thấy, cuối cùng em tình
cờ tìm ra Ariel hay cuộc đời của Shelley. Đó là một tác phẩm do André
Maurois viết, một dạng tiểu sử về nhà thơ Percy Shelley.

- Thêm một nhà thơ nữa.

-
Đúng. Cuốn sách đó đây này! - Marie vừa nói vừa nhấc cuốn sách nhỏ màu
đỏ tím lên - Em đã phải lùng sục rất nhiều hiệu sách cũ mới tìm ra cuốn
này đấy... Câu thơ của Blake được lấy làm đề từ. Đó là câu đầu tiên em
đọc được khi mở quyển sách ra.

- Percy Shelley quan hệ thế nào với Édouard Dayms?

-
Không rõ ràng lắm. Theo em, những quan hệ duy nhất là những quan hệ mà
Édouard muốn thấy trong đó. Cho dù em đã tìm ra một số điểm tương đồng
giữa hai con người này.

- Những điểm tương đồng nào?

- Bắt
đầu bằng sự giống nhau về hình thức. Shelley hồi còn nhỏ rất đẹp: tóc
vàng, mắt xanh, làn da trắng mịn. Ông cũng xuất thân từ một gia đình rất
giàu có và sống những năm tháng đầu đời trong trang viên rộng lớn, ở đó
ông liên tục sáng tác những câu chuyện ma quỷ cho anh chị em của mình.
Quan hệ với người cha không được tốt. Em cũng để ý thấy Shelley đã ở một
thời gian tại Genève, chính xác hơn là ở Cologny - nơi sinh của Édouard
Dayms. Đặc biệt, cuộc đời của nhà thơ được đánh dấu bằng những cái
chết. Nhiều người nhà của ông đã chết rất thảm: tự sát, tai nạn, chết
đuối. Chính ông cũng đã chết đuối trong một con tàu được đặt tên là…
Ariel.

Khi ấy ông tròn ba mươi tuổi.

- Tuổi của Édouard Dayms khi anh gặp hắn lần cuối.

-
Còn một điều nữa, tượng trưng hay ẩn dụ gì đó: người vợ thứ hai của
Shelley, Mary, là tác giả của Frankenstein nổi tiếng. Nhân vật này bất
chấp các vị thần linh bằng cách tự tạo ra con người mình - một con quỷ
được hình thành từ những xác chết - một con quỷ mà rốt cuộc chính hắn đã
mất quyền kiểm soát. Anh thấy em nói đến chỗ nào rồi chứ?

- Ariel xuất thân từ bộ não của Édouard!

-
Chẳng hạn thế... Nhưng xét về tổng thể, một lần nữa, em thấy điều đó có
vẻ gượng gạo thế nào ấy. Đó là một cách nhìn khá lãng mạn về chính cuộc
đời của hắn. Nói thế chứ có thể có những yếu tố khác mà em không biết.

- Mà tất cả chúng ta không biết, tôi nói. Và có thể không bao giờ biết.

Tôi vừa uống cà phê vừa nhâm nhi những gì Marie mới cho tôi hay. Việc tốt đấy. Có vẻ mong manh nhưng có thể đứng vững.

- Em có biết tại sao lại là Blake và Shelley không? - Tôi hỏi thêm. - Nhất là tại sao lại là thơ Anh?

- Không.

- Vì bà Greenhill. Bà gia sư ấy. Bà này gốc Anh. Có thể cậu bé Édouard đã tắm gội trong ngôn ngữ và văn hóa Anh.

- Có thể lắm, Marie nói.

Thêm
một khoảnh khắc im lặng nữa. Những giây phút được kéo ra tùy ý, trong
khoảng thời gian đó, hai người bạn già chỉ biết nhìn những ngọn lửa tàn
dần trong lò sưởi.

Rồi tôi tiếp tục.

- Nhà thơ không nói
mình đã làm gì sau phát hiện kinh khủng đó. Ông quay lại Khu vườn Tình
yêu, ông thấy khu vườn đầy mồ mả, và sau đó?

- Đó là hố đen sâu
thẳm của câu chuyện này, Marie nói. Một khoảng trống chín năm trời chia
cắt ngày Ariel ra đi và ngày hắn trở về. Chín năm vắng bóng... Người ta
có biết là trong thời gian đó, thực ra Édouard Dayms đã làm gì hay
không?

- Không biết. Người ta đã phát lệnh bắt giam hắn nhưng
không tìm thấy dấu vết của hắn. Hoàn toàn biến mất. Em thử xem hắn có
thành lập một công ty vi tính nào ở Tây Ban Nha hay không?

- Trái lại, người ta biết Matthieu đã làm gì, Marie khẳng định.

Mắt Marie nheo lại sau đôi gọng kính. Và một ý nảy ra trong đầu.

- Matthieu à? Tôi hỏi.

-
Đúng thế. Khi rút lui, lần đầu tiên, Ariel đã cho Matthieu một cơ hội.
Và Matthieu nắm lấy. Anh ta tận dụng những năm tháng đó để xây dựng lại
cuộc đời mà anh ta khao khát. Một cuộc đời giản dị, thanh thản. Một cuộc
sống bình thường. Lãng phí như thế là đã quá đủ. May mà chưa mất hết
tất cả. Anh ta lấy Florence, và cả hai làm lại cuộc đời. Một gia đình.
Những đứa con có tên là Étienne và Mattéo. Và một đứa bé trong bụng nữa
mà họ sẽ đặt tên là Nathan... Tóm lại là trong thời gian chín năm đó,
Matthieu thế chỗ anh và sống cuộc đời của anh, anh Alex ạ.

-
Không! - Tôi kêu lên. - Không phải cuộc đời anh, Marie ạ. Đó là cuộc đời
mà nhẽ ra anh phải có. Cuộc đời mà anh đã phá hỏng! Tất cả những cảnh
mà hắn tả, những cuộc dạo chơi trên bờ biển, những buổi sáng Noel, những
trò chơi, tiếng cười, tất cả những khoảnh khắc hạnh phúc bình thường và
thường nhật đó, anh chưa sống qua. Anh đã không biết và anh đã khinh
bỉ. Anh đã làm tiêu tan tất cả!

Báo cáo nội dung xấu