Vườn tình - Chương 10

Rồi tôi thấy Ariel rời tôi và tiến gần tới con chim. Con chim
vẫn đậu trên ghế, không hề tỏ ra sợ hãi, thậm chí không hề run cánh. Hắn
và con chim giờ đã đối diện nhau, cách nhau hai bước, hẳn đang chuyện
trò với nhau bằng ngôn ngữ mà chỉ có họ thông hiểu. Tôi do dự không dám
đến gần họ. Tôi sợ sự có mặt đường đột của tôi làm cho cả hai sợ hãi và
khiến cho sự kỳ diệu bị đổ vỡ. Tôi cảm thấy mình bất lực, bị bỏ rơi,
ruồng rẫy. Đồng thời tôi nhận ra rằng đó là thời điểm then chốt, thời
điểm mà số phận của chính tôi đang trong thế một mất một còn. Hoặc tôi
cứ đứng trên bến mà nhìn họ xa dần trong đôi mắt nhòa lệ của tôi, hoặc
tôi gò ép vận may của mình và cố lên thuyền bằng mọi giá, để cũng được
đi theo. Lén lút như một kẻ cháy túi đi chui. Tôi đã quyết định. Tôi từ
từ đi lại gần họ. Từ từ. Tôi thâm nhập phạm vi của họ. Tôi nhẹ nhõm cả
người khi con chim không cất cánh bay xa. Tôi đứng đó, bên cạnh Ariel,
hơi lùi một tí, ngoan ngoãn, bất động, lặng lẽ, tôn trọng cuộc đối thoại
câm lặng mà giờ tôi chắc chắn là đang được kết nối giữa họ. Tay tôi vẫn
cầm bánh mì kẹp. Sau một lúc lâu, Ariel lấy một cái bánh mà không quay
đầu lại. Hắn bóp nát một miếng bánh rồi để cho những mẩu vụn rơi xuống
bàn. Con chim chỉ nhảy một cú là đã đổi chỗ đậu. Quà đã nhận được. Nó
bắt đầu mổ.

Làm sao tôi có thể quên điều đó, và nhất là làm sao tôi có thể không nhận ra điều đó?

Tôi
chấp nhận rủi ro, là có thể bị xem là một kẻ ủy mị, một kẻ lãng mạn, bí
hiểm, thậm chí bị coi là một người ngây thơ hay gì khác, nhưng tôi đoán
chắc mình chưa bao giờ nhìn thấy một sự thông hiểu hơn giữa hai sinh
vật. Đó là một điều kỳ diệu và xúc động vô cùng. Đó là một sự hiến thân
thực sự. Bởi vì, khi nghiền nát cái bánh trong tay, rõ ràng là Ariel
đang nghiền nát chính trái tim mình và hắn làm như thế là để đặt con tim
mình vào tầm với của con chim, để thu nhỏ con tim đúng tầm với của
những cú mổ nhỏ nhẻ của nó. Con chim cứ tha hồ đánh chén. Nó cứ tha hồ
hút hết tinh chất của con tim cho no nê suốt cả mùa đông này và những
mùa đông sắp tới.

Ồ! Đúng thế, đó là một điều rất lớn lao, đẹp đẽ và cao thượng.

Khi
con chim cổ đỏ đã thỏa lòng thỏa dạ, nó nhảy nhót, xoay một vòng lạ mắt
trước mặt chúng tôi. Rồi nó cất cánh bay đi. Rồi nó biến mất trên bầu
trời.

Chỉ còn vài mẩu bánh mì trên bàn. Và còn tôi với gánh nặng
của mình. Chân tôi bủn rủn. Tôi ngồi xuống, ngả người xuống ghế. Trong
người có bao nhiêu hơi tôi thở ra hết. Đó là một điều quá đẹp, quá thanh
cao đối với tôi. Tôi dồn hết sức và nói: “Có phải là em không?”

Tôi còn chưa biết tên cô gái đó.

Ariel
không trả lời. Một nụ cười là lạ vẫn phảng phất trên môi hắn, một nụ
cười hiền từ, một nụ cười đầy sự mê ly thanh thản. Cái nụ cười chết tiệt
đó đã kết liễu đời tôi!

Khi tôi mở mắt ra, sự im lặng bao trùm
căn hộ như một dải sương mù. Tôi như đang bơi và nhỏ dãi lên cái tay
ghế. Tôi cởi áo bludông ra rồi ngồi thêm một lúc, khuỷu tay tì lên đầu
gối, hai tay ôm đầu. Tôi biết mình đã mơ.

Mơ những giấc mơ chớp
nhoáng, cháy bỏng và nối đuôi nhau với tốc độ chóng mặt. Khi tỉnh dậy,
không còn biết mơ những gì nữa, chỉ còn cảm giác chói lòa, nóng rát nơi
võng mạc. Phải mất nhiều thời gian cảm giác đó mới tan biến. Tôi hài
lòng vì đang ở nhà Marie, chứ không phải ở nhà mình.

Tôi đi xuống
phòng tắm rồi tiến về phòng ngủ. Cánh cửa hé mở. Tôi khẽ gõ cửa một
tiếng rồi đẩy cửa vào. Gian phòng vắng tanh. Một cái đèn tỏa ánh sáng
màu xanh ở góc phòng, trong một góc khác là cây đàn viôlôngxen còn ở
trong tấm bọc, được đặt trên một chiếc ghế mây. Giường vẫn chưa được dọn
dẹp. Nệm lông trắng tinh vẫn còn lưu giữ dấu vết mờ mờ của cơ thể. Tôi
không vào.

Marie ở dưới bếp. Đứng khoanh tay gần cửa sổ, đôi vai
thu lại như thể cái lạnh đang xuyên suốt người em. Em hướng về bóng đêm ở
ngoài, không nói lời nào khi tôi đến gần. Cái bàn một chân nhỏ xíu chễm
chệ ngay giữa gian phòng. Trên đó có xệp giấy, trên xệp giấy là một cặp
kính. Em đã đọc xong. Tôi chờ một lúc, rồi hỏi:

- Mấy giờ rồi em?

Giọng tôi lạc đi. Tôi hắng giọng.

- Em không biết, Marie nói. Mười một giờ, mười hai giờ gì đấy...

Tôi
nhận ra em phải rất cố gắng để trả lời bằng một giọng nói gần như lấp
lửng như thế. Trong khoảng im lặng tiếp theo, tưởng như có thể đào được
một đường ngầm. Em không quay lại. Đèn báo màu vàng của ấm đun cà phê
vẫn sáng.

- Anh đi pha tách cà phê đây. Em uống không? Em lắc đầu.

- Không. Cảm ơn anh.

Tôi
lục đục đi tìm tách. Tôi chuẩn bị rót cà phê thì Marie xoay người đối
diện với tôi. Em nhìn tôi chằm chằm. Bờ mi em sưng đỏ. Vào khoảnh khắc
đó, sự giống nhau hiển nhiên đến nỗi mà tôi bị hút hồn. Léna! Tôi nghĩ
thầm. Tôi bắt đầu run rẩy. Run rẩy đến khi mà Marie vừa thở vừa thốt
lên:

- Em xin lỗi...

Bừng tỉnh, miệng há hốc.

- Cái gì?

- Em xin lỗi, anh Alex ạ.

Đôi mắt em tràn trề thương cảm. Thánh Maria, Đức mẹ của tất cả những đứa con mồ côi trên trái đất chết tiệt này!

- Không, tôi nói. Anh, anh mới là người phải xin lỗi, Marie ạ. Em không biết anh giận mình đến mức nào khi làm khổ em như thế.

Ngay
cả khi đó, tôi thấy những lời nói của mình cũng thật lạc lõng. Em
thoáng mỉm cười - một nụ cười buồn mà tôi chưa bao giờ thấy.

- Anh đã cho em biết trước mà, em nói.

Tôi
những muốn ôm em trong vòng tay lần nữa. Tôi không dám. Em hít sâu. Im
lặng lại kéo dài. Trong khoảng im lặng đó, em quay mặt nhìn vào mênh
mông bất định, như thể đang tìm kiếm cái gì đó ngoài tầm hiểu biết của
em. Một cái gì đó bất định. Rồi em chớp mắt hai lần.

- Giờ thì em lại muốn uống cà phê, em nói rồi ra khỏi phòng.

Kể
từ ngày đó, tôi đã tìm em, đi tìm em khắp nơi. Tôi đi hết các hành lang
ở trường đại học. Tôi, lùng khắp các lối đi trong trường. Tôi rình rập
những cửa vào, lối ra của các giảng đường mỗi khi tôi không thể vào từng
phòng học để nhìn ngó từng sinh viên có mặt. Vài ba lần, tôi tưởng mình
đã thoáng thấy em đâu đó trong đám đông. Tôi vội vàng chạy tới. Hỡi ôi!
Khuôn mặt mà tôi tưởng là em chỉ là một bản sao tái xanh và mơ hồ, một
thế phẩm không hơn không kém. Không phải em. Chưa bao giờ là em.

Trưa
nào tôi cũng quay lại nơi mà em đã tung cánh bay đi. Khó mà tưởng tượng
nổi tim tôi đập như thế nào mỗi khi đẩy cánh cửa hướng ra cái sân ấy,
khó mà tưởng tượng nổi hy vọng của tôi tràn trề như thế nào và sự thất
vọng sau đó ê chề biết bao.

Có thể ai đó không tin nhưng thậm chí tôi đã lùng sục các bụi cây ở gần đó để xem có con chim cổ đỏ nào ẩn mình ở đó hay không.

Trong mơ tôi thấy mũi tên đỏ chót của nó xuyên qua đám mây u ám.

Trong gần một tháng trời, có thể nói tôi chỉ làm mỗi việc ấy.

Tôi
tìm kiếm vô ích. Tôi như một kẻ do thám được cử đi khắp vương quốc để
tìm gặp lại cô tiểu thư nông dân mà mình đã thoáng thấy trong một điệu
valse, với những đường nét của một nàng công chúa đích thực. Tôi trở về
tay không, cúi đầu trước cung điện. “Tâu bệ hạ, thần suýt đã...”

Nhưng
không! Không! Thực ra không có sứ mạng, mà cũng chẳng có bảo kê. Không
có vua cũng chẳng có hoàng tử. Cả Ariel cũng không. Tôi khẳng định mình
làm như thế là vì hắn, như thể cuối cùng tôi đã có cơ hội để ban tặng
cho hắn một món quà xứng đáng - một ý trung nhân trên một chiếc mâm bạc.
Nhưng, tôi biết rõ mình làm thế vì mình và theo tiếng gọi của con tim
mình. Tôi chỉ là kẻ do thám cho chính tôi mà thôi.

Ariel không bảo
tôi làm gì hết. Thậm chí hắn cũng không đi tìm. Từ ngày đó hắn không
nói về cô gái hay con chim nữa. Điều kỳ diệu đã xảy ra và dường như với
hắn như thế đã là quá đủ. Hắn hãy còn thỏa mãn, còn hả lòng hả dạ rất
lâu.

Ariel biết. Còn tôi thì không.

Ariel chờ ở Thời gian đã mất.

Hắn
đã chọn quán cà phê trong khu phố cổ, gần tòa án. Thời gian đã mất. Tôi
nghĩ ngay cái tên của quán cà phê cũng không làm hắn phật ý, và tính
hỗn tạp của khách hàng cũng thế.

Ngày hay đêm, người ta có thể
thấy trong quán nào là nhân viên của sở quản lý đường bộ, những người
trồng rau, những ông bà hưu trí, những ông chủ ngân hàng thắt cà vạt,
những kẻ thất nghiệp, một vài du khách, và nhất là sau khi màn đêm buông
xuống, một đám sinh viên ồn ào. Một nơi rất mốt nhưng còn lưu giữ một
chút thực tế nào đó. Chúng tôi đã lấy điểm này làm nơi gặp gỡ.

Hai mươi tám ngày, để nói một cách chính xác, vừa trôi qua.

Một
chu kỳ. Năm giờ chiều thứ tư. Tôi vào phố mua sắm một số thứ. Tay tôi
xách hai túi nhựa trong đó chủ yếu là bánh bích quy và sữa tươi. Tôi đẩy
cửa Thời gian đã mất rồi tiến về phía chỗ ngồi quen thuộc ở góc phòng.
Ariel đã ở đó, nhưng không phải một mình. Cô gái đó cũng ở đó. Người mà
tôi đã cất công đi tìm. Người đã làm cho tôi mất ăn mất ngủ. Một cô gái
chưa hề quen biết. Một con chim ưng. Nàng công chúa bị mất tích. Em ngồi
bên cạnh Ariel và hai người đang nói chuyện như đã quen thân nhau từ
lâu lắm rồi. Tôi sững người giữa gian phòng. Trong lúc nhúc và ồn ào
huyên náo. Hai túi xách đung đưa trên tay tôi. Tôi bất động trên trái
đất đang xoay. Tôi có thể đứng yên tại chỗ cho đến khi có ai đó đến thổi
tung vụn xương tôi. Tôi có thể quay lại và cảm nhận luồng gió buốt giá
ngoài trời. Tôi có thể cầm được nước mắt.

Ariel không ra hiệu cho
tôi, hắn chỉ ngước mắt nhìn tôi. Cô gái quay lại. Em mỉm cười với tôi.
Trong chớp mắt, tôi thấy tái hiện hình ảnh con chim cổ đỏ đang mổ vụn
bánh mì. Chúng tôi có những gì mình cần: bánh bích quy và sữa. Tôi tiến
tới. Ariel giới thiệu: “Florence, đây là Matthieu. Matthieu, đây là
Florence.” Chỉ có thế. Hai cái tên của chúng tôi đặt cạnh nhau, nối đuôi
nhau. Sự vinh danh ngắn gọn. Tất cả những gì tôi có thể làm là khẽ gật
đầu. Có. Có. Mình muốn. Có. Mình nhận lời.

Còn một cái ghế trống, tôi ngồi xuống.

Kể từ lúc đó, chúng tôi là ba người và ba chúng tôi đã đủ. Chúng tôi không chờ ai nữa.

Tôi đã nói ra điều cơ bản, có lẽ như vậy.

Florence
hơn chúng tôi hai tuổi. Em đăng ký thi học kỳ như một thí sinh tự do.
Em có tham gia một số buổi học. Dè sẻn thôi. Em còn những việc khác phải
làm. Trong mắt em, sinh viên phần lớn là những oắt con vô tư và dễ
thương. (Ariel gật đầu đồng ý). Em thuê một căn hộ chật hẹp ở một khu
phố cổ trung tâm thành phố. Em phải trả tiền thuê nhà và những khoản
khác. Em biết rất rõ thành phố này. Em rất hiểu đàn ông. Theo tôi, em đã
trải qua nhiều cuộc đời. Em có thể chắp cánh bay đi, chúng tôi biết
điều đó. Em rất mạnh mẽ. Không có ai khác ngoài Ariel có thể bắt được
em. Nhờ hắn, nếu không tôi đã phải dành phần còn lại của đời mình để đi
tìm Florence.

Florence và Ariel. Ariel và Florence. Xung quanh hai cái đèn pha này, xung quanh hai tinh tú sinh đôi này là sa mạc và bóng đêm.

Tôi
vẫn không thể giải thích vì sao họ đã cho phép tôi ẩn náu trong vầng
sáng của họ. Hơn thế nữa: Không những họ chấp nhận tôi, dung tha cho sự
hiện diện của tôi mà còn kéo tôi ra khỏi hư vô và xem tôi là người của
họ. Họ đã nuôi tôi khôn lớn. Họ đã cho tôi ăn và uống tinh chất của
chính họ, họ đã sưởi ấm tôi bằng ngọn lửa của họ, họ đã làm tôi lớn hơn
rất nhiều.

Họ không cần tôi, đó là một điều hiển nhiên mà chưa bao
giờ họ cho tôi biết. Tôi những tưởng mình ngang hàng ngang lứa với họ.
Tôi đã có thể nhắm mắt lại và thấy mình chói sáng mãnh liệt như họ. Giá
như trong tôi không có một phần nào đó không muốn dối mình. Người thứ
hai, thứ ba mà người ta hay nói.

Khi Florence viết: “Anh mà đòi
yêu em, anh mà đòi làm cho em thỏa mãn à”... thì em nói với ai? Hãy cố
trả lời câu hỏi này và những gì còn lại sẽ từ đó mà ra. Còn đối với tôi,
hỡi ôi, học cách phân biệt là một việc gian nan nhất.

Đúng thế,
kể từ đây, chúng tôi gồm ba người và họ xem tôi là người của họ. Ariel
và Florence, Florence và tôi, tôi và Ariel. Hay cả ba cùng một lúc.

Bấy
nhiêu cấu hình có thể. Chúng tôi không rời nhau nửa bước. Căn cứ của
chúng tôi là Thời gian đã mất. Có một số chỗ khác mà chúng tôi ưa thích
là bờ biển đá cuội (“Bờ biển yêu tinh”, Flo thường nói), dạo chơi ở đây
dễ bị trật khớp chân như chơi, là trung tâm luyện tập cưỡi ngựa nằm lẩn
khuất trong một vùng sa mạc thuộc Địa Trung Hải, cách thành phố khoảng
mười lăm cây số. Hacienda. Florence rất thích ngựa. Em cưỡi ngựa một vài
lần mỗi tuần. Đó là nơi mà tôi rất thích dạo chơi cùng em. Tôi rất
thích nhìn em xoay người trên mình ngựa, vượt qua các vật cản, đứng
thẳng người trên yên. Tôi thích được gặp lại em gần chuồng ngựa, nơi mà
em tháo yên cho ngựa, chải chuốt lông ngựa, tôi thích giọng nói êm ái
của em khi em hết lời khen ngợi con ngựa. Con vật gườm gườm khi thấy tôi
đến. Tôi giật cả mình khi nó thở phì phò và khua chân, Florence thấy
thế cười ồ lên còn tôi thì không mong gì đẹp hơn thế. Ngay lần đến
Hacienda đầu tiên, tôi tự hứa với mình là sẽ tặng em con tuấn mã thuần
chủng cùng những đồng cỏ xanh tươi. Cho đến bây giờ, tôi không cảm thấy
nuối tiếc vì đã giữ được lời hứa.

Khi Ariel có mặt, đúng là tôi thường tránh đi. Vô tình hay hữu ý.

Ngay
trước khi hết quý một, tôi nhận ra là việc học hành của tôi năm này coi
như công toi. Thỉnh thoảng tôi mới đi học, cốt để tự dối mình thôi. Tôi
chẳng ghi chép gì cả, tôi không hiểu những gì giáo viên nói, tôi không
quen biết những cô tú cậu tú ngồi xung quanh tôi, đó chỉ là nơi để tôi
ngủ bù những đêm thức vì Florence, vì hình ảnh của Florence. Có một số
giáo viên mà tôi chưa bao giờ nghe giảng. Sự quan tâm của tôi nằm ở nơi
khác. Sự chú ý của tôi, suy nghĩ của tôi, trái tim của tôi, cuộc sống
của tôi đang ở nơi khác. Chân trời của tôi không chỉ bó hẹp ở kỳ thi học
kỳ sắp tới. Hạnh phúc của tôi chỉ là một sợi chỉ mong manh nối liền hai
tinh tú cháy bỏng. Khi chúng tôi về nhà vào ngày nghỉ cuối tuần, thỉnh
thoảng Florence về theo chúng tôi. Ariel để cho Florence lái chiếc xe
Saab, hắn ngồi bên cạnh em, chỗ của tôi là ở phía sau. Luôn là như vậy,
không phải thế sao?

Trong khi tôi trở về với căn phòng của mình ở
nhà bố mẹ tôi thì Florence qua đêm ở phòng của những người bạn sống
trong khu biệt thự. Điều đó khiến tôi không thể nào chợp mắt. Tôi ở cách
con chim cổ đỏ vài trăm mét theo đường chim bay. Tôi nghĩ đến em. Đến
họ. Tôi tìm cách gặp lại hai người càng nhanh càng tốt. Những bữa ăn
trưa ngày chủ nhật cùng bố mẹ đối với tôi là sự giày vò dai dẳng khôn
nguôi. Sau khi ăn ngấu nghiến món tráng miệng, tôi vội vội vàng vàng đến
ngay biệt thự. Tôi đi như chạy. Đầu óc tôi đầy những linh cảm và những
tưởng tượng vớ vẩn giăng hàng trước mắt tôi theo nhịp chạy. Tôi luôn sợ
mình đến quá muộn.

Tôi thấy hai người đang ngoan ngoãn ngồi trên
ghế đu trong vườn. Chiếc ghế đu của chúng tôi. Tôi có vẻ ma mãnh, mặt đỏ
ngầu, miệng phì phò như một con bò đực. Trong mắt Ariel ánh lên một cái
nhìn láu cá. Tôi giả vờ lại vách đá ngồi ngắm cảnh từ trên cao, để lấy
hơi và nguyền rủa sự ngu ngốc của mình. Cả buổi chiều chúng tôi ở với
nhau. Đôi khi, tôi bắt gặp gương mặt của Weiss lấp ló sau cửa sổ. Tôi
còn nhớ như in cuộc gặp gỡ đầu tiên của Florence và bố Ariel. Một buổi
tối, chúng tôi vừa đến và cả ba đang ngồi trong phòng khách tầng một.
Ông Weiss xuất hiện ở cầu thang. Chân trần, sơmi trắng. Ông bước xuống
bốn bậc. Khi nhìn thấy Florence, nét mặt của ông gần giống với nét mặt
của Ariel, ngày đầu tiên, tại quán Xnachba ở trường đại học. Có thể còn
rõ nét hơn. Trong mắt ông có cái gì đó khó hiểu và sợ hãi. Ông quay về
phía con trai, miệng há hốc, môi run run, tôi nghĩ kiểu gì ông cũng gào
lên, nhưng không, ông chỉ lúng ba lúng búng: “tôi...”, hay là “toi...”,
ai mà biết được? Rồi ông rơm rớm nước mắt.

Ariel nhìn bố mình như một tay thợ săn tiến về phía cái bẫy mà mình đã giăng.

Tôi
đã nói là họ giống nhau về mặt hình thức chưa nhỉ? Florence và Ariel
ấy. Thật là ấn tượng. Không thể chối cãi. Đó là một chi tiết phải ghi
vào bộ nhớ. Tối hôm đó, tôi đã thấy một người già đi trước mắt tôi.
Trong vòng chưa đầy một phút, Walter Weiss đã già thêm mười tuổi. Ông
lại nhìn Florence, bây giờ tôi nhìn nhận chính xác hơn cái nhìn thực sự
của ông ấy. Rồi rốt cuộc ông Weiss cũng rút lui. Ông bước lên cầu thang,
chậm chạp, thụt lùi, mắt không rời Florence. Ông biến mất ở vòng xoắn
cầu thang.

Từ đó, nhiều lần tôi thoáng thấy gương mặt nhăn nheo,
già nua của ông phía sau cửa sổ. Khi có Florence ở đó, ông tìm cách lảng
tránh.

Đến giờ, tôi vẫn không rõ trong những ngày nghỉ chớp
nhoáng đó, Ariel có đưa Florence đi thăm phòng mình hay không. Hắn có
nói với Florence về sự vận động vĩnh cửu và về hộp đựng xì gà hay không.
Tôi đã không hỏi hắn về việc đó. Tôi thấy không biết lại hay hơn.

Tối
chủ nhật, cả ba chúng tôi lại lên đường. Đêm. Một dải nhựa đường dài
ngoằng trong ánh sáng của đèn pha. Chúng tôi nói chuyện với nhau rất ít.
Chúng tôi có thể đi bất cứ nơi đâu, tôi cóc cần. Tôi ở đó. Tôi ở cùng
với họ. Florence lái xe. Ariel ngồi bên cạnh. Và ở phía sau là “con chó”
đang lắc lư cái đầu.

Marie giam mình trong phòng tắm hơn mười lăm
phút. Tôi rót đầy hai tách cà phê rồi đặt lên chiếc bàn ở trong phòng
khách. Sau đó tôi về chỗ của mình trên tràng kỷ. Tôi chờ, tai dõi theo
tiếng nước chảy qua vách ngăn.

Marie đi ra, mình mặc một chiếc áo
choàng rộng thùng thình. Chân trần, tóc ướt búi ra sau. Em nằm dài trên
ghế bành, chân khép lại. Em thổi cà phê rồi uống một ngụm. Có vẻ như em
không nhận ra là cà phê đã nguội. Tôi đoán chắc là tâm trí em đang tìm
ra những lời giải đáp, tìm ra một lối thoát nào đó trong cảnh hỗn mang.
Cuối cùng, em bĩu môi buột miệng:

- Em không hiểu...

- Anh không chắc chắn là mình có thể giải thích hết tất cả. Chưa đến lúc.

- Có thể nói là cái gã viết ra những điều ấy là một thằng điên.

-
Đúng thế, Marie ạ. Đúng là như thế. Đó là một trường hợp lâm sàng. Một
kẻ bịa chuyện. Một kẻ bị tâm thần phân liệt. Một tên bị bệnh về nhân
cách, em muốn sao cũng được.

- Nếu thế thì yên tâm rồi.

Tôi nghĩ ai mà đụng đến hắn thì kết cục sẽ như vậy thôi. Sau đó, đúng như tôi đang chờ đợi, một loạt câu hỏi ùa tới.

- Người đó là ai? Marie hỏi. Matthieu là ai? Hắn có quan hệ gì với anh? Tôi nói:

- Còn phức tạp hơn chúng ta tưởng, Marie ạ.

- Những câu chuyện quá đơn giản thì ai thèm quan tâm, Alex.

Thời gian suy nghĩ. Tôi cắn môi, không biết bắt đầu như thế nào. Marie tưởng tôi không muốn nói. Em nói tiếp:

- Alex, có phải anh đến cho em biết tin rồi sau đó tìm cách lẩn trốn?

Đôi mắt to tròn sáng long lanh của em nhìn vào mắt tôi.

- Không, tôi nói. Anh sẽ không bỏ rơi em. Lần này thì không. Tôi dốc cạn tách cà phê, sau đó tôi nói:

- Matthieu không tồn tại.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.