Trật Tự Thế Giới - Chương 08
Chương 8
MỸ: SIÊU CƯỜNG NƯỚC ĐÔI
Tất cả 12 đời tổng thống hậu chiến đã nhiệt thành khẳng định vai trò nổi bật của Mỹ trên thế giới. Mỗi vị tổng thống đều cho là hiển nhiên khi Mỹ bắt đầu tìm kiếm cách thức bất vụ lợi cho giải pháp đối với các cuộc xung đột và sự bình đẳng giữa tất cả các quốc gia, trong đó tiêu chí thành công cao nhất là hòa bình thế giới và sự hài hòa chung.
Tất cả các tổng thống từ cả hai chính đảng đều đã tuyên bố về khả năng áp dụng những nguyên tắc Mỹ cho toàn thế giới, trong đó có lẽ sự diễn đạt hùng hồn nhất (dù không có cảm giác độc đáo) là diễn văn nhậm chức của Tổng thống John F. Kennedy ngày 20 tháng Một năm 1961. Kennedy kêu gọi quốc gia của mình “trả bất kỳ giá nào, mang bất kỳ gánh nặng nào, đối mặt với bất kỳ khó khăn nào, hỗ trợ bất kỳ người bạn nào, và chống lại bất kỳ kẻ thù nào để bảo đảm bảo sự tồn tại và thành công của tự do.” Ông không phân biệt các mối đe dọa, không đặt ra ưu tiên nào cho sự tham gia của Mỹ. Ông đặc biệt bác bỏ những tính toán nhằm thay đổi sự cân bằng quyền lực truyền thống. Những gì ông kêu gọi là một “nỗ lực mới” – “không phải sự cân bằng quyền lực, mà là một thế giới mới của luật pháp.” Nó sẽ là một “liên minh toàn cầu và vĩ đại” chống lại “những kẻ thù chung của nhân loại.” Điều mà ở các nước khác sẽ bị coi như một sự gây chú ý sáo rỗng thì ở Mỹ được coi như một kế hoạch cụ thể cho hành động toàn cầu. Phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc một tháng sau vụ ám sát Tổng thống Kennedy, Lyndon Johnson khẳng định cam kết toàn cầu vô điều kiện tương tự:
Bất kỳ ai và bất kỳ quốc gia nào tìm kiếm hòa bình, và căm ghét chiến tranh, và sẵn sàng tham gia vào một cuộc chiến tốt đẹp chống lại nạn đói, bệnh tật và đau khổ, sẽ thấy Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đứng bên cạnh họ, sẵn sàng đi cùng họ từng bước trên con đường đó.
Ý thức trách nhiệm đó về trật tự thế giới và về sự không thể thay thế của quyền lực Mỹ, được củng cố thêm bằng sự đồng thuận đặt chủ nghĩa đạo đức toàn cầu của các nhà lãnh đạo dựa trên cam kết của nhân dân Mỹ về tự do và dân chủ, đã dẫn đến những thành tựu phi thường trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh và sau đó. Mỹ giúp tái thiết các nền kinh tế châu Âu bị tàn phá nặng nề, thành lập Liên minh Đại Tây Dương và hình thành một mạng lưới toàn cầu về an ninh và hợp tác kinh tế. Mỹ chuyển từ việc cô lập Trung Quốc sang chính sách hợp tác với nước này. Mỹ thiết kế một hệ thống thương mại thế giới mở, thúc đẩy năng suất, sự thịnh vượng và (cũng như hơn một thế kỷ qua) dẫn đầu gần như tất cả các cuộc cách mạng công nghệ của thời kỳ này. Mỹ hỗ trợ cai trị có sự tham gia cộng đồng ở cả những nước thân thiện và đối địch; đóng vai trò hàng đầu trong việc truyền bá các nguyên tắc nhân đạo mới, và từ năm 1945, trong năm cuộc chiến và nhiều trường hợp khác, đã dùng máu của chính người Mỹ để cứu rỗi những nguyên tắc này ở những nơi xa xôi trên thế giới. Không một quốc gia nào khác có thể có chủ nghĩa lý tưởng đó và đủ nguồn lực để đương đầu với một loạt các thách thức như vậy, hay có khả năng để thành công trong rất nhiều thách thức này. Chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa biệt lệ của Mỹ là những động lực đằng sau việc xây dựng một trật tự quốc tế mới.
Trong vài thập kỷ, có một sự tương đồng đặc biệt giữa những niềm tin truyền thống và kinh nghiệm lịch sử của Mỹ với thế giới mà trong đó Mỹ hiện diện. Đối với thế hệ các nhà lãnh đạo có trách nhiệm xây dựng trật tự thời hậu chiến, hai kinh nghiệm tuyệt vời là việc vượt qua cuộc suy thoái vào những năm 1930 và chiến thắng xâm lược trong những năm 1940. Cả hai nhiệm vụ này tự chúng đã đưa đến những giải pháp rõ ràng: trong lĩnh vực kinh tế, sự phục hồi tăng trưởng và sự bắt đầu của các chương trình phúc lợi xã hội mới; về mặt chiến tranh, sự đầu hàng vô điều kiện của kẻ thù.
Vào cuối cuộc chiến, nổi lên như một nước lớn duy nhất về cơ bản không bị chiến tranh tàn phá, Mỹ tạo ra khoảng 60% tổng sản phẩm quốc dân của thế giới. Do đó có thể định nghĩa sự lãnh đạo là sự tiến triển thiết thực về mặt cơ bản trên những hướng đi được mô phỏng theo những kinh nghiệm bên trong Mỹ; các liên minh giống như các khái niệm của Tổng thống Wilson về an ninh tập thể; sự quản lý như là các chương trình phục hồi kinh tế và cải cách dân chủ. Cam kết Chiến tranh Lạnh của Mỹ bắt đầu như một sự bảo vệ các nước có cùng quan điểm với Mỹ về trật tự thế giới. Đối thủ của Mỹ là Liên Xô được coi là lạc bước khỏi cộng đồng quốc tế, nơi mà cuối cùng nước này sẽ quay trở lại.
Trên hành trình hướng tới tầm nhìn đó, Mỹ bắt đầu gặp phải những quan điểm lịch sử khác về trật tự thế giới. Các quốc gia mới với lịch sử và văn hóa khác nhau xuất hiện trên vũ đài khi chủ nghĩa thực dân kết thúc. Bản chất của chủ nghĩa cộng sản trở nên phức tạp hơn và tác động của nó mơ hồ hơn. Các chính phủ và các học thuyết quân sự không thừa nhận các khái niệm của Mỹ về trật tự nội địa và trật tự quốc tế đã làm gia tăng những thách thức dai dẳng. Các giới hạn đối với khả năng dù rộng lớn tới mức nào của Mỹ đã trở nên hiển hiện. Các ưu tiên cần phải được thiết lập.
Những cuộc đối đầu của Mỹ trước những thực tế này đặt ra một câu hỏi mới cho Mỹ: Liệu chính sách đối ngoại của Mỹ là một câu chuyện có mở đầu và kết thúc, trong đó có thể có chiến thắng cuối cùng? Hay nó là một quá trình quản lý và kiềm chế những thách thức liên tục tái diễn? Liệu chính sách đối ngoại có điểm cuối, hay nó là một quá trình thực hiện không bao giờ hoàn thành?
Với việc trả lời những câu hỏi này, nước Mỹ đã tự mình trải qua những tranh cãi mệt mỏi và những sự chia rẽ trong nước về bản chất vai trò của mình trên thế giới. Chúng là mặt trái của chủ nghĩa lý tưởng lịch sử của Mỹ. Bằng việc đóng khung vấn đề về vai trò của mình trên thế giới như là một thử nghiệm của sự hoàn thiện đạo đức, Mỹ tự trừng phạt mình – đôi khi tới mức có ảnh hưởng sâu sắc – vì đã không đạt được mục tiêu. Mong đợi về một đỉnh cao cuối cùng trong những nỗ lực của mình – một thế giới hòa bình, dân chủ, và dựa trên luật pháp mà Wilson đã tiên tri – nước Mỹ thường không thoải mái với triển vọng của chính sách đối ngoại như một nỗ lực lâu dài cho những mục tiêu bất ngờ. Với việc hầu hết các tổng thống đều nhấn mạnh rằng nước Mỹ có nguyên tắc phổ quát trong khi các nước khác chỉ có lợi ích quốc gia, Mỹ đã mạo hiểm tới những thái cực của sự dàn trải quá mức và sự rút lui vỡ mộng.
Kể từ khi Thế chiến II kết thúc, trong công cuộc tìm kiếm tầm nhìn về trật tự thế giới, Mỹ đã nhúng tay vào năm cuộc chiến nhân danh những mục tiêu mở rộng, ban đầu có được sự ủng hộ của hầu hết công chúng mà sau đó trở thành nỗi bất bình – thường trên bờ vực bạo lực. Với ba trong số các cuộc chiến này, sự đồng thuận của giới quyền uy đột ngột chuyển sang việc thực hiện một chương trình mà trên thực tế là đơn phương rút quân vô điều kiện. Ba lần trong hai thế hệ, Mỹ rời bỏ các cuộc chiến giữa chừng vì không có những biến chuyển thích hợp, hoặc vì không được cân nhắc kỹ – tại Việt Nam sau các quyết định của Nghị viện, tại Iraq và Afghanistan bởi sự lựa chọn của Tổng thống.
Chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh tự nó đã mang theo sự mâu thuẫn nước đôi. Mỹ đã tự vấn lương tâm về giá trị đạo đức trong những nỗ lực của mình, đến mức độ mà trong lịch sử khó có nước nào sánh kịp. Hoặc các mục tiêu của Mỹ là không thể trở thành hiện thực, hoặc là Mỹ đã không theo đuổi một chiến lược thích hợp cho việc đạt được những mục tiêu đó. Những kẻ chỉ trích sẽ gán những thất bại này cho những thiếu sót cả về mặt đạo đức và trí tuệ của các nhà lãnh đạo Mỹ. Các nhà sử học có thể sẽ kết luận rằng những thất bại này có nguồn gốc từ sự bất lực trong việc giải quyết mâu thuẫn nước đôi về vũ lực và ngoại giao, chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lý tưởng, quyền lực và tính chính danh, những thứ cắt ngang qua toàn bộ xã hội.
KHỞI ĐẦU CỦA CHIẾN TRANH LẠNH
Không điều gì trong sự nghiệp của Harry S. Truman cho thấy ông sẽ trở thành Tổng thống, chứ chưa nói đến chuyện ông sẽ chủ trì việc hình thành một cấu trúc trật tự quốc tế trải dài qua Chiến tranh Lạnh và góp phần quyết định nó. Tuy nhiên, “người đàn ông bình thường” tiêu biểu này của Mỹ sẽ nổi lên như một trong những tổng thống Mỹ có ảnh hưởng sâu xa.
Chưa từng có một tổng thống nào phải đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn hơn thế. Cuộc chiến tranh đã kết thúc mà không có bất kỳ nỗ lực nào từ các cường quốc nhằm xác định lại trật tự quốc tế giống như Hòa ước Westphalia năm 1648 và tại Hội nghị thành Vienna năm 1815. Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên của Truman là cụ thể hóa tầm nhìn của Roosevelt về một tổ chức quốc tế được hình thành dựa trên thực tế, tên là Liên Hợp Quốc. Được ký ở San Francisco năm 1945, hiến chương của tổ chức này đã sáp nhập hai hình thức ra quyết định quốc tế. Đại Hội đồng sẽ là phổ cập về tư cách thành viên và dựa trên thuyết bình đẳng giữa các quốc gia – “một quốc gia độc lập, một phiếu biểu quyết.” Đồng thời, Liên Hợp Quốc sẽ thực hiện an ninh tập thể thông qua nỗ lực phối hợp toàn cầu là Hội đồng Bảo an, bằng việc chỉ định năm cường quốc lớn (Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, và Trung Quốc) là “thành viên thường trực” nắm quyền phủ quyết. (Anh, Pháp, và Trung Quốc được có mặt trong Hội đồng nhờ ghi nhận những thành tựu tuyệt vời của những nước này tương đương với việc phản ánh năng lực hiện tại của họ.) Cùng với một nhóm chín quốc gia luân phiên, Hội đồng Bảo an được trao trách nhiệm đặc biệt “duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.”
Liên Hợp Quốc chỉ có thể đạt được mục đích đề ra nếu các thành viên thường trực có chung quan niệm về trật tự thế giới. Về những vấn đề mà các nước này còn bất đồng, tổ chức thế giới này có thể ghi nhận chứ không phải làm dịu bớt sự khác biệt giữa họ. Cuộc gặp thượng đỉnh cuối cùng của các đồng minh thời chiến tại Potsdam vào tháng Bảy và tháng Tám năm 1945 giữa Truman, Winston Churchill, và Stalin đã hình thành nên những khu chiếm đóng tại Đức. (Sau một cuộc bầu cử thất bại, Churchill đã bị thay thế giữa chừng bởi Clement Attlee, cấp phó thời chiến của ông.) Điều này cũng đặt Berlin dưới sự quản lý chung của bốn cường quốc thắng trận, với sự đảm bảo tiếp cận vào các vùng chiếm đóng phía tây qua lãnh thổ do Liên Xô chiếm đóng. Điều này hóa ra là thỏa thuận quan trọng cuối cùng giữa các đồng minh thời chiến.
Trong các cuộc đàm phán về việc thực hiện các hiệp định, các đồng minh phương Tây và Liên Xô đối mặt với sự bế tắc ngày càng tăng. Liên Xô kiên quyết hình thành một cấu trúc xã hội và chính trị quốc tế mới ở Đông Âu dựa trên nguyên tắc do Stalin đặt ra năm 1945: “Bất kỳ ai chiếm đóng một vùng lãnh thổ cũng có thể áp đặt lên nó hệ thống xã hội của riêng mình. Mọi người đều áp đặt hệ thống của riêng mình theo như quân đội của họ có thể vươn tới. Không thể nào khác.” Từ bỏ bất kỳ khái niệm nào của nguyên tắc Hòa ước Westphalia ủng hộ “các nhân tố khách quan,” Stalin giờ đây áp đặt hệ thống của Moscow trên khắp Đông Âu dù chỉ từng bước một.
Cuộc đối đầu quân sự trực tiếp đầu tiên giữa các đồng minh thời chiến xảy ra trên các tuyến đường dẫn vào thủ đô của kẻ thù trước kia, Berlin. Năm 1948, phản ứng với việc hợp nhất ba vùng chiếm đóng của các đồng minh phương Tây, Stalin chia cắt các tuyến đường dẫn đến Berlin, mà cho đến khi sự phong tỏa chấm dứt, khu vực này đã được duy trì bởi một chiến dịch không vận cứu trợ phần lớn do Mỹ thực hiện.
Cách Stalin phân tích các nhân tố “khách quan” được minh họa bằng cuộc đối thoại năm 1989 giữa tôi và Andrei Gromyko, Ngoại trưởng Liên Xô trong 28 năm cho đến khi ông bị Mikhail Gorbachev, người mới được bổ nhiệm, thuyên chuyển lên cơ quan thiên về lễ nghi là văn phòng Tổng thống. Vì thế, ông đã có nhiều thời gian để thảo luận về những gì ông đã quan sát được về lịch sử Nga và suy xét về tương lai. Tôi nêu ra một câu hỏi rằng, xét tới những thương vong lớn và sự tàn phá nước này đã phải chịu đựng trong chiến tranh, Liên Xô có thể đã đối phó với phản ứng của quân đội Mỹ trước việc phong tỏa Berlin như thế nào. Gromyko trả lời rằng Stalin đã trả lời câu hỏi tương tự từ cấp dưới về tác động này: ông không cho rằng Mỹ sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân đối với một vấn đề mang tính cục bộ như vậy. Nếu các đồng minh phương Tây tiến hành một cuộc thăm dò bằng lực lượng trên bộ thông thường dọc theo các tuyến đường dẫn đến Berlin, các lực lượng Xô-viết sẽ được điều động để chống lại mà không cần đưa quyết định đó lên Stalin. Nếu các lực lượng Mỹ được huy động dọc toàn bộ chiến trường, Stalin nói “Hãy đến gặp tôi.” Nói cách khác, Stalin tự tin dự cảm một cuộc chiến tranh cục bộ nhưng sẽ không mạo hiểm một cuộc chiến tranh tổng lực với Mỹ.
Từ đó về sau, hai khối quyền lực này tìm cách hăm dọa nhau mà không giải quyết những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng đang tiềm ẩn. Được giải phóng khỏi chủ nghĩa phát xít, châu Âu đứng trước nguy cơ rơi vào sự thống trị của một bá quyền mới. Các quốc gia mới độc lập ở châu Á, với thể chế mong manh và sự chia rẽ trong nước (thường là chia rẽ dân tộc) sâu sắc, có thể có được quyền tự trị chỉ để bị thách thức bởi một học thuyết thù địch với phương Tây và có hại cho sự đa nguyên trong nước hoặc quốc tế.
Trước tình hình này, Truman đã thực hiện một lựa chọn chiến lược có vai trò nền tảng đối với lịch sử nước Mỹ và sự phát triển của trật tự quốc tế. Ông đặt dấu chấm hết cho kiểu “tiến hành đơn phương” vốn là sự cám dỗ từ xưa đến nay, bằng cách cam kết Mỹ sẽ tham gia định hình lâu dài một trật tự quốc tế mới. Ông đề xuất một loạt các sáng kiến quan trọng. Chương trình viện trợ Hy Lạp-Thổ Nhĩ Kỳ năm 1947 thay thế các khoản trợ cấp mà Anh đã duy trì cho các nước Địa Trung Hải trụ cột này, nhưng hiện giờ không còn đủ khả năng tiếp tục; Kế hoạch Marshall năm 1948 đưa ra một kế hoạch phục hồi kịp thời sức khỏe kinh tế của châu Âu. Năm 1949, Ngoại trưởng của Truman, Dean Acheson, chủ trì một buổi lễ đánh dấu sự ra đời của NATO (Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương) như đỉnh điểm của trật tự quốc tế mới do Mỹ tài trợ.
NATO là một khởi đầu mới trong việc thiết lập an ninh ở châu Âu. Trật tự quốc tế không còn được đặc trưng bởi sự cân bằng quyền lực truyền thống của châu Âu đúc kết từ những thay đổi liên minh của nhiều quốc gia. Thay vào đó, dù trạng thái cân bằng đang thịnh hành khi đó có là gì, nó đã bị giảm xuống mức trạng thái đang tồn tại giữa hai siêu cường hạt nhân. Nếu một trong hai siêu cường biến mất hoặc không tham gia, trạng thái cân bằng sẽ bị mất và đối thủ của nó sẽ trở thành thống trị. Đầu tiên chính là những gì đã diễn ra năm 1990 khi Liên Xô sụp đổ; thứ hai là nỗi sợ hãi dai dẳng của các đồng minh của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh rằng Mỹ có thể không còn quan tâm tới việc phòng thủ châu Âu. Các quốc gia gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương mang đến một số lực lượng quân sự, nhưng thực chất đây là tấm vé vào cửa cho sự được bảo trợ dưới chiếc ô hạt nhân của Mỹ hơn là một công cụ phòng vệ địa phương. Những gì Mỹ xây dựng trong thời đại Truman là một sự đảm bảo đơn phương dưới hình thức của một liên minh truyền thống.
Với việc tồn tại cấu trúc này, các cuộc tranh luận lịch sử về mục đích cuối cùng trong chính sách đối ngoại của Mỹ tái diễn. Liệu các mục tiêu của liên minh mới này là về đạo đức hay chiến lược? Cùng tồn tại hay đối thủ phải sụp đổ? Mỹ muốn đối thủ phải chuyển biến hay phát triển? Sự chuyển biến đòi hỏi việc thuyết phục đối thủ từ bỏ quá khứ bằng một hành động hay cử chỉ toàn diện. Sự phát triển liên quan đến một quá trình tiệm tiến, sự sẵn sàng theo đuổi các mục tiêu cuối cùng trong chính sách đối ngoại theo từng giai đoạn không hoàn hảo và đối phó với đối thủ như hiện tồn khi quá trình này đang diễn ra. Mỹ sẽ chọn con đường nào? Thể hiện sự nước đôi của mình về vấn đề này, Mỹ đã chọn cả hai.
CHIẾN LƯỢC TRONG TRẬT TỰ CHIẾN TRANH LẠNH
Thiết kế chiến lược toàn diện nhất của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh do một viên chức ngoại giao khi đó còn ít được biết tới đề xuất, George Kennan, Trưởng phòng Chính trị của Đại sứ quán Mỹ ở Moscow. Không có một viên chức ngoại giao nào lại từng định hình các cuộc tranh luận ở Mỹ về vai trò của Mỹ trên thế giới đến mức như vậy. Trong khi Washington vẫn đang tận hưởng niềm phấn khích thời chiến dựa trên niềm tin vào thiện chí của Stalin, Kennan đã dự đoán một cuộc đối đầu đang hiện ra lờ mờ. Năm 1945, trong một bức thư cá nhân cho đồng nghiệp, ông khẳng định Mỹ cần phải đối mặt với thực tế rằng đồng minh Liên Xô của nước này sẽ trở thành địch thủ khi chiến tranh kết thúc:
Một cuộc xung đột căn bản vì thế đang nảy sinh trên khắp châu Âu giữa những lợi ích của cường quốc trên biển ở Đại Tây Dương, yêu cầu duy trì đời sống chính trị mạnh mẽ và độc lập trên Bán đảo châu Âu, với những lợi ích của cường quốc trên mặt đất đang ghen tức ở lục địa Á-Âu, luôn luôn tìm cách bành trướng về phía tây và sẽ không bao giờ tìm được một nơi không kém gì Đại Tây Dương, nơi mà quốc gia này có thể an toàn dừng lại theo quan điểm riêng của nó.
Kennan đề xuất một phản ứng chiến lược rõ ràng: “ngay lập tức tập hợp tất cả các quân bài đang nắm giữ vào tay chúng ta và bắt đầu chơi với toàn bộ giá trị của chúng.” Kennan kết luận, Đông Âu sẽ bị Moscow chi phối: phần lục địa này gần các trung tâm quyền lực của Nga hơn là Washington, và thật đáng tiếc, quân đội Liên Xô đã tới đó trước. Do đó, Mỹ cần củng cố khu vực Tây Âu dưới sự bảo trợ của Mỹ – với đường ranh giới chạy qua Đức – làm cho khu vực này có đủ sức mạnh và sự gắn kết để duy trì sự cân bằng địa chính trị.
Dự đoán có tính tiên tri này về kết cục hậu chiến đã bị đồng nghiệp của Kennan, Charles “Chip” Bohlen chối bỏ trên cơ sở tư tưởng của Wilson, rằng “không thể đưa ra chính sách đối ngoại kiểu đó trong một nền dân chủ. Chỉ những nhà nước độc tài toàn trị mới có thể đưa ra và tiến hành những chính sách như vậy.” Washington có thể chấp nhận sự cân bằng quyền lực như một thực tế; chứ không thể chấp nhận nó như một chính sách.
Tháng Hai năm 1946, Đại sứ quán Mỹ tại Moscow nhận được một câu hỏi từ Washington, rằng liệu bài phát biểu mang tính học thuyết của Stalin có khởi đầu một thay đổi trong cam kết của Liên Xô về một trật tự quốc tế hài hòa hay không. Đang là phó đại sứ khi đó, Kennan đã được trao một cơ hội mà nhiều cán bộ ngoại giao mơ ước: trực tiếp trình bày quan điểm tới các lãnh đạo cấp cao mà không cần được đại sứ chấp thuận trước. Kennan đã trình bày trong một điện tín phúc đáp gồm năm phần, dài 19 trang giấy. Cốt lõi của cái gọi là Bức điện Dài đó là toàn bộ cuộc tranh luận của Mỹ về những ý định của Liên Xô cần phải được xem xét lại. Các nhà lãnh đạo Liên Xô coi mối quan hệ Đông-Tây như một cuộc đấu tranh giữa các khái niệm đối chọi nhau về trật tự thế giới. Họ đã tiếp nhận một “cảm giác bất an mang tính truyền thống và theo bản năng của Nga” và ghép vào nó một học thuyết cách mạng ảnh hưởng trên toàn cầu. Điện Kremlin sẽ nhìn nhận mọi khía cạnh của các vấn đề quốc tế dưới ánh sáng của học thuyết Xô-viết về một cuộc chiến giành lợi thế giữa những gì mà Stalin gọi là “hai trung tâm quan trọng tầm cỡ thế giới,” chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, ở đó một cuộc đối đấu toàn cầu là không thể tránh khỏi và chỉ có thể kết thúc khi một bên giành chiến thắng. Họ nghĩ rằng cuộc đối đầu là không thể tránh khỏi, và do đó đã biến nó thành như vậy.
Năm tiếp theo, Kennan, giờ đây là Trưởng Nhóm Hoạch định Chính sách Bộ Ngoại giao, đăng một bài báo trên Tạp chí Foreign Affairs ký bút danh “X.” Bề ngoài, bài báo đưa ra quan điểm tương tự như Bức điện Dài: Áp lực của Liên Xô đối với phương Tây là có thật và cố hữu, nhưng nó có thể bị “ngăn chặn bằng việc khéo léo và thận trọng áp dụng phản lực tại hàng loạt các điểm liên tục thay đổi về địa lý và chính trị.”
Lẽ ra, Theodore Roosevelt đã không gặp khó khăn gì trong việc chuẩn thuận phân tích này. Nhưng khi phác thảo ý tưởng của mình về kết cục có thể có của cuộc xung đột, Kennan lại trở về địa hạt tư tưởng Wilson. Kennan dự đoán rằng, vào một thời điểm nào đó trong cuộc đối đầu vô ích của Moscow với thế giới bên ngoài, một số nhà lãnh đạo Liên Xô sẽ cảm thấy cần thiết phải có thêm sự ủng hộ bằng cách vươn ra ngoài bộ máy của đảng, tới công chúng còn non nớt, thiếu kinh nghiệm và chưa bao giờ được phép phát triển một ý thức chính trị độc lập. Nhưng nếu “sự thống nhất và hiệu lực của đảng như một công cụ chính trị” bị rạn nứt nghiêm trọng, thì “Nga Xô có thể bị thay đổi đột ngột từ một trong những xã hội hùng mạnh nhất thành một trong những xã hội yếu nhất và đáng thương nhất trong các xã hội quốc gia.” Dự đoán này – đúng về mặt bản chất – mang tư tưởng Wilson khi tin rằng vào lúc quá trình này kết thúc, các nguyên tắc dân chủ sẽ thắng thế, tính chính danh sẽ chiến thắng quyền lực.
Niềm tin này là điều mà Dean Acheson, Ngoại trưởng kiểu mẫu và có nhiều ảnh hưởng đối với những người kế nhiệm ông (bao gồm tôi) thi hành. Từ năm 1949 tới năm 1953, ông tập trung vào việc xây dựng những gì ông gọi là “các tình thế của sức mạnh” thông qua NATO; ngoại giao Đông-Tây sẽ ít nhiều tự động phản ánh cán cân quyền lực. Trong chính quyền Eisenhower, người kế nhiệm ông, John Foster Dulles, mở rộng hệ thống đồng minh thông qua Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á – SEATO (1954) và Hiệp ước Baghdad đối với Trung Đông (1955). Trên thực tế, việc ngăn chặn được đánh đồng với việc xây dựng các liên minh quân sự xung quanh toàn bộ chu vi của Liên Xô trên hai châu lục. Trật tự thế giới sẽ bao gồm cuộc đối đầu giữa hai siêu cường không tương đồng – mỗi siêu cường tổ chức một trật tự quốc tế trong khu vực của mình.
Cả hai ngoại trưởng đều coi sức mạnh và ngoại giao như những giai đoạn nối tiếp nhau: đầu tiên Mỹ sẽ củng cố và thể hiện sức mạnh của mình; sau đó Liên Xô sẽ buộc phải ngừng việc thách thức và đi đến một sự chung sống hợp lý với thế giới không cộng sản. Tuy nhiên, nếu ngoại giao được dựa trên vị thế sức mạnh quân sự, vì sao lại cần phải tạm thời hoãn việc này trong các giai đoạn hình thành mối quan hệ Đại Tây Dương? Và thông điệp về sức mạnh của thế giới tự do sẽ được chuyển tải đến phía bên kia như thế nào? Vì trên thực tế, thế độc quyền hạt nhân của Mỹ cùng với việc Liên Xô chịu sự tàn phá nặng nề của chiến tranh đảm bảo rằng cán cân quyền lực thực tế hoàn toàn nghiêng về phương Tây vào thời gian đầu của Chiến tranh Lạnh. Một tình thế sức mạnh không cần phải được xây dựng; nó đã tồn tại.
Tháng Mười năm 1948, Winston Churchill đã công nhận điều này trong một bài phát biểu khi cho rằng vị thế thương lượng của phương Tây sẽ không bao giờ có thể lớn mạnh hơn thời điểm đó. Các cuộc đàm phán nên được thúc ép, chứ không nên bị hoãn lại:
Một câu hỏi được đặt ra là: Điều gì sẽ xảy ra khi họ cũng có được bom nguyên tử và đã tích lũy được một kho lớn? Các anh có thể tự đánh giá những gì sẽ xảy ra khi đó bằng những gì hiện đang diễn ra. Nếu những điều này được thực hiện khi cây cối tốt tươi, thì những gì sẽ được thực hiện khi nắng hạn?... Không ai trong cảm nhận của mình có thể tin rằng chúng ta có khoảng thời gian vô hạn ở phía trước. Chúng ta phải đưa vấn đề lên hàng đầu và tạo ra một dàn xếp cuối cùng... Các quốc gia phương Tây sẽ có thêm rất nhiều khả năng để đạt được một sự dàn xếp lâu dài, không có đổ máu, nếu họ tuyên bố rõ ràng những đòi hỏi chính đáng của mình trong bối cảnh họ có sức mạnh nguyên tử và trước khi những người cộng sản Nga cũng sở hữu nó.
Truman và Acheson chắc chắn đã coi rủi ro này là quá lớn và phản đối một cuộc đàm phán tầm cỡ vì sợ rằng nó có thể làm suy yếu sự gắn kết của phe Đồng minh. Đặc biệt, Churchill lại đang là lãnh đạo phe đối lập, chứ không phải Thủ tướng, khi ông thúc giục chí ít là một cuộc đối đầu về ngoại giao, và Thủ tướng đương nhiệm Clement Attlee cùng Ngoại trưởng Ernest Bevin chắc chắn sẽ chống lại một kế hoạch làm gợi lên mối đe dọa chiến tranh.
Trong bối cảnh này, Mỹ đảm đương vai trò lãnh đạo một nỗ lực toàn cầu để kiềm chế xu hướng bành trướng Xô-viết – nhưng là một nỗ lực chủ yếu mang tính đạo đức, chứ không phải địa chính trị. Lợi ích chính đáng tồn tại ở cả hai khu vực, nhưng chúng được mô tả theo cách thức có xu hướng che khuất những nỗ lực nhằm xác định các ưu tiên chiến lược. Ngay cả Báo cáo của Ủy ban An ninh Quốc gia NSC-68, một tài liệu tối mật và phần lớn do Paul Nitze bảo thủ chắp bút – trong đó hệ thống hóa chính sách an ninh quốc gia của Truman – cũng tránh đề cập khái niệm lợi ích quốc gia và đặt cuộc xung đột này vào mục đạo đức truyền thống, gần như theo cảm xúc. Cuộc đối đầu diễn ra giữa các lực lượng “tự do dưới một chính phủ pháp quyền” (đòi hỏi “sự đa dạng tuyệt vời, sự khoan dung sâu sắc, tính hợp pháp của xã hội tự do... trong đó mỗi cá nhân có cơ hội hiện thực hóa sức mạnh sáng tạo của mình”) với các lực lượng “lệ thuộc dưới chính thể độc đoán của Kremlin.” Theo niềm tin của chính mình, Mỹ tham gia tranh đấu trong cuộc Chiến tranh Lạnh không phải như một cuộc đối đầu địa chính trị nhằm giới hạn sức mạnh của Nga, mà như một cuộc thập tự chinh đạo đức cho thế giới tự do.
Trong nỗ lực như vậy, các chính sách của Mỹ đã thể hiện như là một cố gắng không vụ lợi nhằm thúc đẩy lợi ích chung của nhân loại. Tuy nhiên, là nhà điều hành khôn ngoan trong các cuộc khủng hoảng và là người ủng hộ cứng rắn đối với quyền lực Mỹ, John Foster Dulles miêu tả chính sách đối ngoại của Mỹ như là một nỗ lực tình nguyện toàn cầu tuân theo các nguyên tắc hoàn toàn khác so với cách tiếp cận của bất kỳ quốc gia nào trong lịch sử. Ông quan sát thấy, dù “khó hiểu đối với nhiều người,” Mỹ “thực sự... được thúc đẩy bởi những cân nhắc kỹ lưỡng hơn là bởi những thủ đoạn ngắn hạn.” Theo quan điểm này, ảnh hưởng của Mỹ sẽ không khôi phục lại sự cân bằng địa chính trị mà vượt trên sự cân bằng đó: “Trong nhiều thế kỷ, một việc đã trở thành thường lệ là các quốc gia chỉ đơn thuần hành động để thúc đẩy lợi ích trước mắt của riêng mình, khiến đối thủ của họ bị tổn thương, và không dễ dàng chấp nhận rằng có thể có một kỷ nguyên mới, trong đó có các nguyên tắc hướng dẫn các quốc gia.”
Hàm ý rằng các quốc gia khác có “những quyền lợi ích kỷ” trong khi Mỹ đã có “các nguyên tắc” và “định mệnh” ngay từ khi nền cộng hòa này ra đời. Điều mới mẻ là một cuộc tranh đấu địa chính trị toàn cầu trong đó Mỹ là người lãnh đạo chứ không phải người ngoài cuộc, đã được biện minh chủ yếu trên cơ sở đạo đức, và lợi ích quốc gia của Mỹ bị chối bỏ. Lời kêu gọi hướng tới trách nhiệm chung này đã củng cố cam kết dứt khoát của Mỹ trong việc tái thiết một thế giới hậu chiến bị tàn phá, đồng thời giữ vững phòng tuyến ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô. Tuy nhiên, tới lúc giao tranh ở những cuộc chiến tranh “nóng” tại khu vực ngoại vi của thế giới cộng sản, lời kêu gọi này lại tỏ ra là một hướng dẫn kém chắc chắn.
CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN
Chiến tranh Triều Tiên kết thúc không rõ ràng. Nhưng những cuộc tranh luận do nó gây ra là điềm báo trước những vấn đề gây nên sự chia rẽ nước này một thập kỷ sau đó.
Năm 1945, Triều Tiên, cho tới khi đó vẫn là thuộc địa của Nhật Bản, đã được phe Đồng minh thắng trận giải phóng. Nửa phía bắc của Bán đảo Triều Tiên bị đặt dưới sự chiếm đóng của Liên Xô, nửa phía nam là Mỹ. Mỗi quốc gia này thiết lập kiểu chính phủ của mình trong khu vực chiếm đóng trước khi rút về lần lượt vào các năm 1948 và 1949. Tháng Sáu năm 1950, quân đội Bắc Triều Tiên xâm nhập Hàn Quốc. Chính quyền Truman coi đây là trường hợp gây hấn điển hình của Liên Xô-Trung Quốc theo hình mẫu những thách thức của Đức và Nhật Bản trước Thế chiến II. Mặc dù lực lượng vũ trang Mỹ đã được giảm mạnh trong những năm trước đó, Truman đã đưa ra quyết định dũng cảm là chống lại sự xâm lược này, phần lớn là bằng các lực lượng của Mỹ đóng quân ở Nhật Bản.
Các nghiên cứu vào thời điểm đó đã chỉ ra rằng phe cộng sản có động cơ phức tạp. Tháng Tư năm 1950, khi nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Nhật Thành (Kim Il-sung) tìm kiếm sự chấp thuận của Stalin đối với cuộc xâm lược, nhà lãnh đạo Xô-viết đã khuyến khích ông ta. Từ vụ rời bỏ hàng ngũ của Tito hai năm trước đó, Stalin đã rút ra bài học rằng, các nhà lãnh đạo cộng sản thế hệ đầu tiên rất khó phù hợp với hệ thống vệ tinh Xô-viết mà ông cho rằng rất cấp thiết đối với lợi ích quốc gia của Nga. Kể từ chuyến thăm của Mao đến Moscow vào cuối năm 1949 – chỉ gần ba tháng sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập – Stalin đã lo lắng không yên về khả năng Trung Quốc được một người với những tính cách thống lĩnh như Mao lãnh đạo. Việc xâm lược Hàn Quốc có thể đưa Trung Quốc vào một cuộc khủng hoảng ở biên giới, làm chệch hướng sự chú ý của Mỹ từ châu Âu chuyển sang châu Á, và trong bất kỳ trường hợp nào cũng làm tiêu hao một số nguồn lực của Mỹ trong nỗ lực đó. Nếu thành công với sự yểm trợ của Liên Xô, kế hoạch thống nhất của Bình Nhưỡng có thể mang lại cho Liên Xô một vị thế thống trị ở Triều Tiên, và tạo ra một hình thức đối trọng với Trung Quốc ở châu Á do những nghi ngờ có tính lịch sử giữa các nước này với nhau. Mao theo dõi sự lãnh đạo của Stalin (được Kim Nhật Thành truyền đạt lại bằng những lời nói gần như chắc chắn phóng đại) vì lý do trái ngược; ông lo sợ bị Liên Xô bao vây, khi quốc gia này có lợi ích rõ rệt ở Triều Tiên đã được chứng minh từ nhiều thế kỷ qua, và thậm chí khi đó còn được biểu hiện trong các yêu cầu của Stalin về sự chấp nhận ý thức hệ như một cái giá phải trả cho liên minh Xô-Trung.
Có lần, một học giả Trung Quốc lỗi lạc nói với tôi rằng để cho Stalin dẫn dắt Mao tới việc chuẩn thuận cuộc chiến tranh Triều Tiên là sai lầm chiến lược duy nhất mà Mao từng gây ra, do cuối cùng Chiến tranh Triều Tiên đã trì hoãn sự thống nhất của Trung Quốc tới một thế kỷ vì nó dẫn tới cam kết của Mỹ đối với Đài Loan. Dù điều đó đúng hay không, nguồn gốc của chiến tranh Triều Tiên không phải là một âm mưu Xô-Trung để đối phó với Mỹ mà là chiến thuật tay ba nhằm giành được sự thống lĩnh trong lòng trật tự quốc tế cộng sản, với việc Kim Nhật Thành “đẩy giá thầu” để giành được sự yểm trợ cho một chương trình chinh phạt mà những hậu quả toàn cầu của nó cuối cùng đã làm tất cả những người tham gia chủ chốt phải ngạc nhiên.
Ở phía Mỹ không có sự tương xứng với những cân nhắc chiến lược phức tạp của thế giới cộng sản. Trên thực tế, Mỹ chiến đấu cho một nguyên tắc đó là đánh bại sự xâm lược và tìm một phương pháp thực hiện nó thông qua Liên Hợp Quốc. Mỹ có thể đạt được sự chấp thuận của Liên Hợp Quốc vì đại sứ Liên Xô tại Liên Hợp Quốc, người liên tục phản đối việc loại trừ Trung Quốc cộng sản ra khỏi Liên Hợp Quốc, đã tự vắng mặt khỏi cuộc bỏ phiếu quan trọng của Hội đồng Bảo an. Có chút thiếu rõ ràng về ý nghĩa của cụm từ “đánh bại sự xâm lược.” Liệu nó có phải là một thắng lợi hoàn toàn? Nếu chưa đến mức đó thì là gì? Tóm lại, cuộc chiến tranh này sẽ phải kết thúc như thế nào?
Khi nó xảy ra, kinh nghiệm đã vượt quá lý thuyết. Cuộc đổ bộ bất ngờ của Tướng Douglas MacArthur tại Inchon vào tháng Chín năm 1950 khiến quân đội Bắc Triều Tiên bị mắc kẹt ở phía nam và dẫn đến thất bại đáng kể cho Bắc Triều Tiên. Liệu đội quân chiến thắng có nên vượt qua đường phân chia trước đó dọc theo vĩ tuyến 38, tiến thẳng vào Bắc Triều Tiên và thống nhất đất nước hay không? Nếu làm như vậy sẽ vượt quá sự diễn giải theo từng chữ của nguyên tắc an ninh tập thể, vì khái niệm hợp pháp về việc đánh bại sự xâm lược đã đạt được. Nhưng từ quan điểm địa chính trị có thể rút ra bài học gì? Nếu một kẻ xâm lược không cần phải e sợ một hậu quả nào khác ngoài việc trở lại nguyên trạng trước đó, việc tái diễn ở một nơi nào khác phải chăng là không có khả năng?
Một số lựa chọn thay thế đã tự xuất hiện – ví dụ, tiếp tục tiến công tới điểm thắt cổ chai của Bán đảo trên một đường thẳng từ Bình Nhưỡng đến Wonsan, cách biên giới Trung Quốc khoảng 150 dặm (241,4 km). Bằng cách này sẽ có thể phá hủy hết năng lực gây chiến của miền Bắc và đưa chín phần mười dân số Bắc Triều Tiên vào một Triều Tiên thống nhất trong khi vẫn cách xa biên giới Trung Quốc.
Giờ đây chúng ta biết rằng ngay cả trước khi các nhà hoạch định Mỹ bàn tính việc sẽ dừng cuộc tiến công ở đâu, Trung Quốc đã chuẩn bị cho một sự can thiệp có thể có. Ngay tháng Bảy năm 1950, Trung Quốc đã tập trung 250.000 quân ở biên giới của nước này với Hàn Quốc. Đến tháng Tám, những nhà hoạch định hàng đầu của Trung Quốc đã tính toán trên cơ sở rằng đồng minh Bắc Triều Tiên đang tiến công của họ sẽ sụp đổ, một khi quân đội Mỹ với sức mạnh vượt trội được triển khai đầy đủ trên chiến trường (thực ra, họ đã dự đoán chính xác cuộc đổ bộ bất ngờ của MacArthur tại Inchon). Ngày 4 tháng Tám – trong khi chiến trường vẫn nằm sâu trên đất Hàn Quốc, dọc theo vùng ngoại vi Pusan – Mao đã nói với Bộ Chính trị, “Nếu đế quốc Mỹ chiến thắng, họ sẽ ngây ngất với thành công và sau đó ở vào vị thế đe dọa chúng ta. Chúng ta phải giúp Bắc Triều Tiên; chúng ta phải trợ giúp họ. Việc này có thể diễn ra dưới hình thức lực lượng tình nguyện và vào thời điểm do chúng ta chọn, nhưng chúng ta phải bắt đầu chuẩn bị.” Tuy nhiên, ông đã nói với Chu Ân Lai rằng nếu Mỹ vẫn đóng quân dọc theo đường từ Bình Nhưỡng đến Wonsan, các lực lượng Trung Quốc không cần phải tấn công ngay lập tức và nên tạm dừng để tăng cường thao luyện. Điều gì sẽ xảy ra trong hoặc sau sự tạm dừng như vậy vẫn còn phải dự đoán.
Nhưng các lực lượng Mỹ đã không dừng lại; Washington phê chuẩn việc MacArthur vượt qua vĩ tuyến 38 và không đặt ra giới hạn nào cho cuộc tiến công này, ngoại trừ biên giới Trung Quốc.
Đối với Mao, sự tiến công của Mỹ đến biên giới Trung Quốc không chỉ liên quan tới Triều Tiên. Khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Truman trước đó đã đặt Hạm đội Bảy ở giữa các bên tham chiến trên Eo biển Đài Loan với lập luận rằng: bảo vệ cả hai bên trong cuộc nội chiến Trung Quốc là thể hiện cam kết của Mỹ đối với hòa bình ở châu Á. Thời điểm đó mới chỉ gần chín tháng kể từ khi Mao tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nếu kết quả cuối cùng của Chiến tranh Triều Tiên là sự hiện diện của phần lớn các lực lượng quân sự Mỹ dọc theo biên giới Trung Quốc và một hạm đội Mỹ nằm giữa Đài Loan và đại lục, việc chấp thuận cuộc xâm lược Hàn Quốc của Bắc Triều Tiên đã có thể biến thành một thảm họa chiến lược.
Trong cuộc đối đầu giữa hai khái niệm khác nhau về trật tự thế giới, Mỹ đã tìm cách bảo vệ nguyên trạng theo các nguyên tắc của Hòa ước Westphalia và các nguyên tắc pháp lý quốc tế. Không có gì đi ngược nhận thức của Mao về sứ mệnh cách mạng của ông hơn việc bảo vệ nguyên trạng. Lịch sử Trung Quốc đã dạy ông rằng Triều Tiên đã nhiều lần được sử dụng như một con đường để xâm lược Trung Quốc. Kinh nghiệm cách mạng của chính ông dựa trên mệnh đề rằng các cuộc nội chiến phải kết thúc bằng chiến thắng hay thất bại chứ không phải thế bế tắc. Và ông tự thuyết phục mình rằng một khi tạo được thế vững chắc dọc Sông Áp Lục ngăn cách Trung Quốc và Triều Tiên, Mỹ sẽ tiến vào Việt Nam như một bước đi kế tiếp để hoàn thành việc bao vây Trung Quốc. (Mỹ thực sự nhảy vào Đông Dương sau dự đoán này bốn năm.) Chu Ân Lai thể hiện quan điểm đối với phân tích này và chứng minh vai trò to lớn của Triều Tiên trong tư duy chiến lược của Trung Quốc, khi ông nói trước một cuộc họp của Quân ủy Trung ương ngày 26 tháng Tám năm 1950, rằng Triều Tiên “thực sự là tâm điểm của các cuộc đấu tranh trên thế giới... Sau khi chinh phục Triều Tiên, Mỹ chắc chắn sẽ tìm đến Việt Nam và các nước thuộc địa khác. Do đó vấn đề Triều Tiên ít nhất sẽ là chìa khóa đối với phương Đông.”
Những tính toán như vậy đã khiến Mao lặp lại chiến lược mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc theo đuổi vào năm 1593 khi chống lại cuộc xâm lược của Nhật Bản do Toyotomi Hideyoshi dẫn đầu. Chiến tranh với một siêu cường là một đề xuất khó khăn; ít nhất hai nguyên soái Trung Quốc từ chối chỉ huy đơn vị được chỉ định cho trận chiến với quân đội Mỹ. Mao vẫn kiên quyết, và cuộc tấn công bất ngờ của Trung Quốc đã đẩy lui việc triển khai quân của Mỹ khỏi Sông Áp Lục.
Nhưng sau khi có sự can thiệp của Trung Quốc, giờ đây mục đích của cuộc chiến là gì và sẽ được thực hiện bằng chiến lược nào? Những câu hỏi này dẫn đến một cuộc tranh luận dữ dội báo trước những cuộc tranh cãi gay gắt hơn trong các cuộc chiến tranh của Mỹ sau này. (Sự khác biệt nằm ở chỗ, không như những người phản đối Chiến tranh Việt Nam, những người chỉ trích Chiến tranh Triều Tiên cáo buộc chính quyền Truman không sử dụng đủ lực lượng; họ tìm một chiến thắng chứ không phải sự rút lui.)
Cuộc tranh cãi công khai diễn ra giữa chỉ huy chiến trường Douglas MacArthur và chính quyền Truman có sự hậu thuẫn của Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân. MacArthur viện dẫn trường hợp truyền thống đã là cơ sở của tất cả các lần tham chiến của quân đội Mỹ trước đó: mục đích của chiến tranh là có được chiến thắng bằng bất kỳ phương tiện nào cần thiết, bao gồm cả các cuộc không kích vào chính Trung Quốc; thế bế tắc là một thất bại chiến lược; sự xâm lược của cộng sản phải bị đánh bại ở nơi nó diễn ra và đó là châu Á; khả năng quân sự của Mỹ cần phải được sử dụng đúng cách, chứ không phải là phương pháp bảo toàn cho những tình huống bất trắc mang tính giả định ở những khu vực địa lý xa xôi, hàm ý Tây Âu.
Chính quyền Truman trả lời theo hai cách: Thể hiện quyền kiểm soát dân sự đối với quân đội Mỹ, ngày 11 tháng Tư năm 1951, Tổng thống Truman tước bỏ quyền chỉ huy quân sự của MacArthur vì có những phát ngôn đi ngược lại chính sách của chính quyền. Về thực chất, Truman nhấn mạnh khái niệm ngăn chặn: mối đe dọa chính là Liên Xô với mục tiêu chiến lược là thống lĩnh châu Âu. Do đó, tiến hành cuộc Chiến tranh Triều Tiên tới một kết cục bằng quân sự, thậm chí hơn thế là mở rộng chiến tranh sang Trung Quốc là “cuộc chiến sai lầm, tại địa điểm sai lầm, vào thời điểm sai lầm, và với kẻ thù sai lầm,” theo lời của Tổng tham mưu trưởng Liên quân, Tướng Omar Bradley, chỉ huy chiến trường trong cuộc chiến tranh chống Đức.
Sau vài tháng, tháng Sáu năm 1951, mặt trận ổn định ở gần vĩ tuyến 38 nơi chiến tranh đã bắt đầu – cũng giống như nửa thiên niên kỷ trước đó. Đến lúc đó, Trung Quốc đề nghị đàm phán và Mỹ chấp nhận. Hai năm sau, sau một số gián đoạn căng thẳng nhưng ngắn ngủi, các bên đã đạt được một thỏa thuận kéo dài hơn 60 năm cho tới khi cuốn sách này được viết.
Trong các cuộc đàm phán, cũng như trong nguồn gốc của cuộc chiến tranh, hai cách tiếp cận khác nhau về chiến lược đối chọi nhau. Chính quyền Truman bày tỏ quan điểm của Mỹ về mối quan hệ giữa quyền lực và tính chính danh. Theo đó, chiến tranh và hòa bình là các giai đoạn chính sách riêng biệt; khi đàm phán bắt đầu, việc sử dụng vũ lực chấm dứt và ngoại giao đảm nhận công việc. Mỗi hoạt động được cho là vận hành theo các quy tắc riêng. Vũ lực là cần thiết để dẫn tới đàm phán, sau đó nó phải đứng sang một bên; kết quả của quá trình đàm phán sẽ phụ thuộc vào bầu không khí thiện chí và sẽ bị phá hủy bởi áp lực quân sự. Trên tinh thần đó, quân đội Mỹ được yêu cầu tự giới hạn xuống chỉ còn là các biện pháp phòng thủ thiết yếu trong suốt các cuộc đàm phán và tránh gây ra những cuộc đọ sức tấn công quy mô lớn.
Quan điểm của Trung Quốc hoàn toàn ngược lại. Chiến tranh và hòa bình là hai mặt của cùng một đồng xu. Đàm phán là phần mở rộng của chiến trường. Theo chiến lược gia thời cổ đại của Trung Quốc Tôn Tử trong cuốn Binh pháp Tôn Tử, cuộc chiến quan trọng là cuộc chiến tâm lý – tác động đến các tính toán của đối thủ và làm đối thủ mất niềm tin vào chiến thắng. Việc xuống thang của đối thủ là một dấu hiệu của sự yếu đuối cần được khai thác bằng cách nhấn mạnh vào lợi thế quân sự của chính mình. Phe cộng sản tận dụng thế bế tắc để gia tăng sự khó chịu của công chúng Mỹ về một cuộc chiến không có kết quả. Trên thực tế, trong khi các cuộc đàm phán diễn ra, Mỹ vẫn phải chịu nhiều thương vong tương tự như trong giai đoạn tấn công của cuộc chiến.
Cuối cùng, mỗi bên đều đạt được mục tiêu của mình: Mỹ đã giữ được học thuyết về ngăn chặn và giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ của một đồng minh mà cho đến nay đã phát triển thành một trong những quốc gia chủ chốt ở châu Á; Trung Quốc đã chứng minh quyết tâm phòng thủ trước những đợt tiến quân về biên giới của nước này và thể hiện thái độ khinh thị với các quy định quốc tế mà Trung Quốc đã không có tiếng nói trong việc tạo ra. Kết quả là một trận hòa. Nhưng kết quả này cho thấy một sự yếu đuối tiềm tàng trong khả năng của Mỹ khi liên kết chiến lược với ngoại giao, quyền lực với tính chính danh, và khi xác định những mục tiêu quan trọng của mình. Cuối cùng, Triều Tiên đã vẽ nên một đường vạch xuyên thế kỷ. Đó là cuộc chiến tranh đầu tiên mà Mỹ đặc biệt từ bỏ chiến thắng như một mục tiêu và theo đó là điềm báo về những gì sẽ xảy ra sau đó.
Thất bại lớn nhất hóa ra là về phía Liên Xô. Nước này đã khuyến khích quyết định ban đầu về việc xâm lược và duy trì các hậu quả của nó bằng cách cung cấp một lượng lớn trang thiết bị cho các đồng minh. Nhưng nước này đã đánh mất lòng tin của họ. Những hạt mầm của sự chia rẽ Xô-Trung đã được gieo xuống trong Chiến tranh Triều Tiên, vì Xô-viết nhất quyết yêu cầu sự chi trả cho những trợ giúp của mình và từ chối yểm trợ chiến đấu. Cuộc chiến tranh cũng đưa đến việc Mỹ tái vũ trang nhanh chóng trên quy mô rộng lớn, khôi phục sự mất cân bằng ở Tây Âu trong một bước tiến lớn hướng tới một tình thế sức mạnh mà học thuyết ngăn chặn của Mỹ đòi hỏi.
Mỗi bên đều hứng chịu những thất bại. Một số nhà sử học Trung Quốc cho rằng Trung Quốc mất đi một cơ hội thống nhất Đài Loan với đại lục để duy trì một đồng minh không đáng tin cậy; Mỹ mất đi ánh hào quang bất khả chiến bại đã gắn liền với nước này kể từ Thế chiến II và một chút ý thức về hướng đi. Các nhà lãnh đạo cách mạng châu Á khác đã học được bài học về việc lôi kéo Mỹ vào một cuộc chiến không có kết quả có thể vượt quá tinh thần sẵn sàng ủng hộ cuộc chiến của công chúng Mỹ. Còn lại ở nước Mỹ là khoảng cách trong tư duy về chiến lược và trật tự quốc tế, điều đã ám ảnh nước này trong các khu rừng Việt Nam.
VIỆT NAM VÀ SỰ TAN VỠ ĐỒNG THUẬN QUỐC GIA
Ngay cả khi ở giữa những gian khổ của cuộc Chiến tranh Triều Tiên, các nguyên tắc Wilson và địa chiến lược Roosevelt đã tạo ra một động lực phi thường đằng sau một thập kỷ rưỡi chính sách Chiến tranh Lạnh. Bất chấp cuộc tranh luận trong nước mới chớm phôi thai, Mỹ được chứng kiến đã đi qua các cuộc không vận giai đoạn 1948-1949 để ngăn chặn tối hậu thư của Liên Xô về việc tiến quân tới Berlin, Chiến tranh Triều Tiên, và ngăn chặn những nỗ lực của Liên Xô trong việc đặt các tên lửa đạn đạo hạt nhân tầm trung ở Cuba vào năm 1962. Sau đó là một hiệp ước với Liên Xô vào năm 1963 về việc từ bỏ thử nghiệm hạt nhân trong không gian – một biểu tượng của sự cần thiết đối với các siêu cường trong việc thảo luận và hạn chế khả năng tiêu diệt nhân loại của họ. Chính sách ngăn chặn được ủng hộ bởi sự đồng thuận của cả hai đảng trong Nghị viện. Quan hệ giữa cộng đồng hoạch định chính sách và cộng đồng trí thức có tính chuyên nghiệp được cho là dựa trên các mục tiêu dài hạn chung.
Nhưng gần như trùng hợp với vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy, sự đồng thuận quốc gia bắt đầu bị phá vỡ. Một phần lý do là cú sốc của vụ ám sát một Tổng thống trẻ, người đã kêu gọi nước Mỹ thực hiện trọn vẹn những truyền thống lý tưởng của nó. Mặc dù kẻ ám sát là một phần tử thân cộng đã tạm trú ở Liên Xô, đối với nhiều người thuộc thế hệ trẻ đi sau, mất mát này làm dấy lên câu hỏi về giá trị đạo đức của sự nghiệp Mỹ.
Chiến tranh Lạnh đã bắt đầu bằng lời kêu gọi ủng hộ dân chủ và tự do trên toàn thế giới, được Kennedy nhấn mạnh thêm tại lễ nhậm chức của ông. Tuy nhiên, sau một khoảng thời gian, những học thuyết quân sự duy trì chiến lược ngăn chặn bắt đầu có ảnh hưởng xấu đối với cảm nhận của công chúng. Khoảng cách giữa sức tàn phá của các loại vũ khí với các mục đích mà chúng có thể được sử dụng tỏ ra không thể thu hẹp. Tất cả lý thuyết về việc sử dụng hạn chế công nghệ hạt nhân quân sự tỏ ra không khả thi. Chiến lược bao trùm dựa trên khả năng gây ra một mức độ thương vong dân sự được đánh giá là không thể chấp nhận được, nhưng chắc chắn liên quan đến hàng triệu người ở cả hai phía chỉ trong một vài ngày. Tính toán này hạn chế sự tự tin của các nhà lãnh đạo quốc gia và niềm tin của công chúng vào sự lãnh đạo của họ.
Bên cạnh đó, khi chính sách ngăn chặn được du nhập vào vùng ngoại biên châu Á, nó gặp phải những điều kiện hoàn toàn trái ngược với những điều kiện ở châu Âu. Kế hoạch Marshall và NATO thành công vì truyền thống chính trị về chính quyền vẫn tồn tại ở châu Âu cho dù có bị suy yếu đi chăng nữa. Sự phục hồi kinh tế có thể khôi phục lại sức sống chính trị. Nhưng trong phần lớn thế giới các nước kém phát triển, khuôn khổ chính trị còn yếu hoặc mới, viện trợ kinh tế ngoài việc dẫn đến sự ổn định cũng dẫn đến tham nhũng tương tự.
Những tình huống tiến thoái lưỡng nan này lên đến đỉnh điểm trong Chiến tranh Việt Nam. Truman đã gửi các cố vấn dân sự tới Nam Việt Nam để đối phó lại cuộc chiến tranh du kích vào năm 1951; Eisenhower đã bổ sung các cố vấn quân sự vào năm 1954; Kennedy cho phép các đội quân hỗ trợ tham chiến vào năm 1962; và Johnson triển khai một lực lượng viễn chinh vào năm 1965 mà cuối cùng lên tới hơn nửa triệu quân. Chính quyền Kennedy đã đi gần tới việc tham gia vào cuộc chiến và chính quyền Johnson đã thực sự tham chiến vì tin rằng cuộc tấn công của Bắc Việt Nam vào Nam Việt Nam là mũi nhọn của Xô-Trung nhằm tiến tới sự thống lĩnh toàn cầu và điều này cần phải bị quân đội Mỹ ngăn chặn, không để tất cả các nước Đông Nam Á rơi vào tay cộng sản.
Trong việc bảo vệ châu Á, Mỹ đề nghị tiến hành như những gì đã làm ở Tây Âu. Theo “thuyết domino” của Tổng thống Eisenhower, sự sụp đổ của một nước theo chủ nghĩa cộng sản sẽ làm cho những nước khác sụp đổ theo, Mỹ áp dụng học thuyết ngăn chặn để chặn đứng những kẻ xâm lược (theo mô hình của NATO) và mô hình phục hồi kinh tế và chính trị (như trong Kế hoạch Marshall). Đồng thời, để tránh “mở rộng chiến tranh,” Mỹ hạn chế tấn công những nơi ẩn náu ở Campuchia và Lào, nơi mà từ đó các lực lượng của Hà Nội phát động những cuộc tấn công gây thương vong và rút về trú ẩn để tránh sự truy đuổi.
Không một chính quyền nào của Mỹ tính đến kế hoạch kết thúc cuộc chiến tranh ngoài việc giữ gìn sự tồn tại của Nam Việt Nam, tiêu diệt các lực lượng do Hà Nội vũ trang và chiến thắng chính quyền Nam Việt Nam, và ném bom Bắc Việt Nam tới mức đủ để khiến Hà Nội phải xem xét lại chính sách thống nhất của mình và bắt đầu đàm phán. Điều này đã không được coi là một chương trình đáng chú ý hay gây tranh cãi cho đến tận giữa nhiệm kỳ của chính quyền Johnson. Sau đó, một làn sóng phản đối và các phương tiện truyền thông chỉ trích – lên tới đỉnh điểm sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, về mặt quân sự thông thường thì đó là một thất bại nhưng được báo chí phương Tây coi là một thắng lợi khiến cả thế giới choáng váng và là bằng chứng về sự thất bại của Mỹ – đánh trúng tâm lý giới chức chính quyền.
Lý Quang Diệu, người sáng lập nhà nước Singapore và có lẽ là nhà lãnh đạo châu Á sáng suốt nhất trong thời đại của ông, với niềm tin vững chắc của mình vẫn tồn tại tới khi cuốn sách này được viết, cho rằng sự can thiệp của Mỹ là không thể thiếu để giữ gìn khả năng về một Đông Nam Á độc lập. Phân tích về những hệ quả đối với khu vực này khi người cộng sản giành thắng lợi ở Việt Nam phần lớn là chính xác. Nhưng vào thời điểm Mỹ tham chiến toàn diện ở Việt Nam, sự thống nhất Xô-Trung không còn nữa và đã lâm vào một cuộc khủng hoảng rõ rệt trong suốt những năm 1960. Bị tàn phá bởi cuộc Đại Nhảy vọt và Cách mạng Văn hóa, Trung Quốc ngày càng coi Liên Xô như một đối thủ nguy hiểm và đầy đe dọa.
Các nguyên tắc ngăn chặn được sử dụng ở châu Âu tỏ ra khó áp dụng ở châu Á. Bất ổn ở châu Âu xảy ra khi cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra bởi chiến tranh đe dọa hủy hoại các thể chế chính trị trong nước truyền thống. Ở Đông Nam Á, sau một thế kỷ dưới ách thực dân, các thể chế này vẫn chưa được tạo ra – nhất là ở Nam Việt Nam, nơi chưa bao giờ là một quốc gia trong lịch sử.
Mỹ cố gắng thu hẹp khoảng cách này thông qua một chiến dịch xây dựng thể chế chính trị song hành với các nỗ lực quân sự. Trong khi đồng thời chiến đấu trong một cuộc chiến tranh quy ước chống lại các sư đoàn quân Bắc Việt Nam và một cuộc chiến tranh du kích chống lại du kích quân Việt Cộng, Mỹ đã lao vào việc thiết kế chính trị trong một khu vực chưa hề biết tới chính quyền tự quản hay dân chủ trong nhiều thế kỷ.
Sau một loạt các cuộc đảo chính (cuộc đầu tiên trong số đó, vào tháng Mười một năm 1963, trên thực tế được Đại sứ quán Mỹ bật đèn xanh và được Nhà Trắng ngầm chấp thuận với hy vọng sự cai trị bằng quân sự sẽ tạo ra các thể chế tự do hơn), Tướng Nguyễn Văn Thiệu nổi lên trở thành Tổng thống Nam Việt Nam. Vào thời gian đầu của Chiến tranh Lạnh, các định hướng phi cộng sản cho một chính quyền đã được coi – có lẽ rộng rãi quá mức – như một bằng chứng rằng nó là đáng giá trong việc chống lại các thiết kế của Xô-viết. Giờ đây, trong bầu không khí phản kháng đang trỗi dậy, sự bất lực của Nam Việt Nam trong việc nổi lên như một nền dân chủ vận hành đầy đủ (giữa một cuộc chiến đẫm máu) dẫn đến những lời chỉ trích gay gắt. Một cuộc chiến tranh ban đầu có được sự ủng hộ của đa số đáng kể và được đưa lên đến quy mô hiện tại bởi một tổng thống trích dẫn các nguyên tắc phổ quát về tự do và nhân quyền, thì bây giờ lại bị chỉ trích như là một bằng chứng về sự xuống cấp đạo đức chỉ riêng ở nước Mỹ. Những lời buộc tội về sự vô đạo đức và lừa dối đã được thoải mái sử dụng; trong đó “man rợ” là một tính từ được ưa thích. Sự dính líu quân sự của Mỹ được mô tả như một hình thức “điên rồ” làm lộ ra những lỗ hổng sâu sắc trong lối sống Mỹ; các cáo buộc về việc giết chóc dân thường bừa bãi đã trở nên thường lệ.
Cuộc tranh luận trong nước về Chiến tranh Việt Nam tỏ ra là một trong những cuộc tranh luận gây nhiều vết sẹo nhất trong lịch sử nước Mỹ. Các chính quyền đã đưa Mỹ dính líu vào Đông Dương được điều hành bởi những cá nhân với trí thông minh và tính trung thực đáng kể, những người này đột nhiên thấy mình bị buộc tội về sự điên rồ gần như là tội phạm và cố tình lừa dối. Những gì trước đó bắt đầu như một cuộc tranh luận hợp lý về tính khả thi và chiến lược biến thành những cuộc biểu tình đường phố, những lời công kích và bạo lực.
Những người chỉ trích đã đúng trong việc chỉ ra rằng chiến lược của Mỹ là thiếu phù hợp với thực tế của một cuộc xung đột bất đối xứng, đặc biệt trong thời gian đầu của chiến tranh. Các chiến dịch ném bom gián đoạn để kiểm tra sự sẵn sàng đàm phán của Hà Nội thường đi đến bế tắc, dẫn tới việc thể hiện sức mạnh chỉ đủ để hứng chịu những lên án và phản kháng, chứ không đủ để đảm bảo sự sẵn sàng của đối thủ cho những cuộc đàm phán nghiêm túc. Tình thế tiến thoái lưỡng nan ở Việt Nam phần nhiều là do hậu quả của các lý thuyết liên quan đến sự dần leo thang đã duy trì Chiến tranh Lạnh; trong khi chặt chẽ về khái niệm nếu xét đến thế bế tắc giữa các siêu cường hạt nhân, nhưng ít có tính áp dụng cho một cuộc xung đột bất đối xứng chống lại một đối thủ theo đuổi chiến lược du kích. Một số kỳ vọng về cải cách kinh tế sẽ dẫn tới phát triển chính trị tỏ ra không khả thi ở châu Á. Nhưng chúng là đối tượng thích hợp cho cuộc tranh luận nghiêm túc chứ không phải lăng mạ, và bên lề phong trào biểu tình, là những cuộc tấn công vào các trường đại học và các tòa nhà chính phủ.
Sự sụp đổ của những cao vọng làm tan vỡ sự tự tin mà nếu không có nó các tổ chức sẽ lúng túng trong hành động. Các nhà lãnh đạo trước đó, những người đã duy trì chính sách đối ngoại của Mỹ, rất khổ sở trước cơn thịnh nộ của sinh viên. Sự bất an của những người lớn tuổi trong số đó đã biến những lời ca thán thường thấy của lớp trẻ đang trưởng thành thành một cơn thịnh nộ được thể chế hóa và một sự tổn thương quốc gia. Các cuộc biểu tình quần chúng lên cao tới mức buộc Tổng thống Johnson – người tiếp tục miêu tả cuộc chiến với những thuật ngữ truyền thống là bảo vệ một dân tộc tự do chống lại sự tấn công của chủ nghĩa độc tài chuyên chế – phải hạn chế xuất hiện trước công chúng trong năm cuối của nhiệm kỳ và chủ yếu lui tới các căn cứ quân sự.
Trong những tháng sau khi nhiệm kỳ tổng thống của Johnson kết thúc vào năm 1969, một số kiến trúc sư chính của cuộc chiến đã công khai từ bỏ vị trí của họ, kêu gọi chấm dứt các hoạt động quân sự và rút quân đội Mỹ về nước. Những chủ đề này được đem ra mổ xẻ cho tới khi nhóm nắm quyền đi đến quyết định về chương trình “chấm dứt chiến tranh” bằng việc Mỹ đơn phương rút quân chỉ để đổi lấy việc trao trả tù binh.
Richard Nixon trở thành Tổng thống vào thời điểm khi có tới 500.000 binh sĩ Mỹ – và số lượng vẫn tiếp tục tăng theo một lịch trình do chính quyền Johnson thiết lập – đang tham chiến ở Việt Nam, nơi cách biên giới Mỹ nửa vòng Trái đất. Ngay từ đầu, Nixon đã cam kết chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, ông cũng nghĩ trách nhiệm của mình là phải làm như vậy trong bối cảnh Mỹ đưa ra những cam kết toàn cầu về việc duy trì trật tự quốc tế hậu chiến. Nixon nhậm chức năm tháng sau khi quân đội Xô-viết chiếm đóng Tiệp Khắc, trong khi Liên Xô đang cứng rắn và mạnh mẽ phát triển tên lửa liên lục địa với tốc độ đầy đe dọa (một số người cho rằng điều đó đã vượt qua các lực lượng răn đe của Mỹ), và một Trung Quốc vẫn đầy thù địch. Mỹ không thể vứt bỏ các cam kết an ninh của mình ở một khu vực trên thế giới mà không gây ra những thách thức tới quyết tâm của chính mình ở những khu vực khác. Giữ gìn uy tín của Mỹ trong việc bảo vệ các đồng minh và hệ thống trật tự toàn cầu – một vai trò Mỹ đã thực hiện trong hai thập kỷ – vẫn là một phần không thể thiếu trong các tính toán của Nixon.
Nixon rút quân Mỹ ở mức 150.000 binh sĩ mỗi năm và chấm dứt việc tham chiến trên bộ vào năm 1971. Ông cho phép các cuộc đàm phán với một điều kiện không thể nhân nhượng: ông không bao giờ chấp nhận yêu cầu của Hà Nội đòi hỏi tiến trình hòa bình phải bắt đầu với sự thay thế chính phủ Nam Việt Nam – đồng minh của Mỹ – bằng cái gọi là chính phủ liên minh mà trên thực tế được điều hành bởi những nhân vật do Hà Nội đề xuất. Điều này bị cương quyết bác bỏ trong vòng bốn năm cho đến sau khi có một cuộc tấn công của Bắc Việt Nam (không có sự tham dự của lực lượng bộ binh Mỹ) vào năm 1972, cuối cùng khiến Hà Nội đồng ý với một thỏa thuận ngừng bắn và dàn xếp chính trị mà Hà Nội đã luôn bác bỏ trong những năm trước đó[141].
Ở Mỹ, cuộc tranh luận tập trung vào mong muốn rộng rãi là chấm dứt những đau thương gây ra bởi cuộc chiến cho người dân Đông Dương, như thể Mỹ là nguyên nhân gây ra nỗi đau của họ. Nhưng Hà Nội đã kiên quyết tiếp tục cuộc chiến, không phải vì không tin tưởng các cam kết hòa bình của Mỹ, mà bởi vì họ dựa vào đó để làm kiệt quệ ý chí của Mỹ khi kéo dài những tổn thất. Chiến đấu trong một cuộc chiến tranh tâm lý, Hà Nội đã khai thác triệt để vấn đề của Mỹ là tìm kiếm sự thỏa hiệp dưới danh nghĩa một chương trình rút quân trong danh dự mà thực ra không có sự khác biệt nhỏ nào.
Các hành động quân sự mà Tổng thống Nixon đã ra lệnh, và được tôi ủng hộ trên cương vị Cố vấn An ninh quốc gia của ông, cùng với chính sách ngoại giao linh hoạt, đã dẫn đến dàn xếp trong năm 1973. Chính quyền Nixon tin tưởng rằng Sài Gòn sẽ có thể vượt qua những vi phạm thông thường đối với thỏa thuận bằng các lực lượng của chính họ; rằng Mỹ sẽ hỗ trợ bằng không quân và hải quân chống lại một cuộc tấn công tổng lực; và qua thời gian chính phủ Nam Việt Nam, với hỗ trợ kinh tế của Mỹ, sẽ có thể xây dựng một xã hội vận hành tốt và phát triển hướng đến những thể chế minh bạch hơn (như trên thực tế sau này diễn ra ở Hàn Quốc).
Liệu quá trình này có thể được đẩy nhanh và liệu có một định nghĩa nào khác cho uy tín của Mỹ hay không sẽ còn là chủ đề tranh luận nóng bỏng. Trở ngại chính là khó khăn người Mỹ gặp phải trong việc hiểu được cách suy nghĩ của Hà Nội. Chính quyền Johnson đánh giá quá cao tác động của sức mạnh quân sự Mỹ. Trái với suy nghĩ thông thường, chính quyền Nixon đánh giá quá cao phạm vi của đàm phán. Đối với các nhà lãnh đạo dày dạn trận mạc ở Hà Nội, những người đã chiến đấu cả đời để giành chiến thắng, thì thỏa hiệp cũng giống như thất bại, và một xã hội đa nguyên là gần như không thể tưởng tượng được.
Một giải pháp cho cuộc tranh luận trên là vượt quá phạm vi của cuốn sách này; nó là một quá trình đau đớn cho tất cả những ai tham gia. Nixon đã thu xếp cho một sự rút quân hoàn toàn và một thỏa thuận mà ông tin rằng đưa đến cho Nam Việt Nam một cơ hội tốt để tự quyết định số phận của mình. Tuy nhiên, sau một thập kỷ đầy tranh cãi và do hậu quả đắt giá của cuộc khủng hoảng Watergate, Nghị viện đã hạn chế nghiêm ngặt các viện trợ trong năm 1973 và cắt mọi viện trợ trong năm 1975. Nam Việt Nam đã thua khi gần như toàn bộ lực lượng quân giải phóng từ Bắc Việt Nam tiến vào, vượt qua đường ranh giới giữa hai bên. Cộng đồng quốc tế duy trì sự im lặng, còn Nghị viện thì cấm sự can thiệp quân sự của Mỹ. Ngay sau đó, chính phủ Lào và Campuchia sụp đổ trước các cuộc nổi dậy của những người cộng sản, và sau đó ở Campuchia Khmer Đỏ áp dụng một sự trừng phạt tàn bạo gần như không thể tưởng tượng.
Mỹ đã lần đầu tiên thua trận và cũng đánh mất đi mối liên hệ với khái niệm của mình về trật tự thế giới.
RICHARD NIXON VÀ TRẬT TỰ QUỐC TẾ
Sau cuộc tàn sát vào những năm 1960 cùng với những vụ ám sát, bạo động dân sự, và những cuộc chiến không có kết quả, năm 1969, Richard Nixon kế thừa nhiệm vụ khôi phục lại sự gắn kết cho nền chính trị Mỹ cũng như cho chính sách đối ngoại của Mỹ. Dù rất thông minh, với mức độ bất an cá nhân đến bất ngờ đối với một nhân vật của công chúng đầy kinh nghiệm như vậy, Nixon không phải nhà lãnh đạo lý tưởng cho việc khôi phục hòa bình trong nước. Nhưng cũng cần phải nhớ rằng các chiến thuật biểu tình quần chúng, hăm dọa, và bất tuân dân sự vượt ra ngoài giới hạn của các cuộc biểu tình hòa bình đã diễn ra mạnh mẽ trước khi Nixon tuyên thệ nhậm chức ngày 20 tháng Một năm 1969.
Tuy nhiên, đối với nhiệm vụ xác định lại bản chất của chính sách đối ngoại của Mỹ, Nixon có sự chuẩn bị vô cùng tốt. Là một Thượng nghị sĩ đến từ California, Phó Tổng thống dưới thời Dwight D. Eisenhower, và là ứng viên tổng thống lâu năm, ông đã đi khắp nơi. Các nhà lãnh đạo nước ngoài mà Nixon đã gặp sẽ không chạm đến những cuộc đối đầu làm ông khó chịu, và hứa hẹn cùng ông tham gia vào cuộc đối thoại thực chất mà ông rất thành thạo. Do bản tính đơn độc đã cho ông nhiều thời gian rảnh hơn những người có tham vọng chính trị bình thường, ông thấy việc đọc rộng rất hợp ý mình. Sự kết hợp các yếu tố này khiến ông trở thành vị tổng thống tương lai được chuẩn bị tốt nhất về chính sách đối ngoại kể từ thời Theodore Roosevelt.
Không một vị tổng thống nào sau Theodore Roosevelt đã giải quyết trật tự quốc tế như là một khái niệm toàn cầu theo cách có hệ thống và mang tính khái niệm như vậy. Năm 1971, khi nói chuyện với các biên tập viên của tờ Time, Nixon đã đưa ra khái niệm này. Trong tầm nhìn của ông, năm trung tâm lớn về quyền lực chính trị và kinh tế sẽ hoạt động trên cơ sở một cam kết không chính thức của mỗi nước về việc kiềm chế theo đuổi lợi ích của mình. Kết quả của những tham vọng và kiềm chế đan xen của họ sẽ là trạng thái cân bằng:
Chúng ta phải nhớ lần duy nhất trong lịch sử thế giới mà chúng ta có bất kỳ khoảng thời gian hòa bình lâu dài nào là khi có sự cân bằng quyền lực. Chính vào lúc một quốc gia trở nên mạnh hơn rất nhiều so với đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của nó mà nguy cơ chiến tranh nảy sinh. Vì thế tôi tin vào một thế giới mà trong đó Mỹ đầy sức mạnh. Tôi nghĩ thế giới sẽ an toàn hơn và tốt hơn nếu chúng ta có Mỹ, châu Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Nhật Bản đều hùng mạnh, cân bằng lẫn nhau, không đối đầu nhau, một cán cân ngang bằng.
Điều đáng chú ý trong cách trình bày này là hai trong số các nước được liệt kê là một phần của một nỗ lực chung giữa các cường quốc thực tế là kẻ thù của nhau: Liên Xô, quốc gia đã đối đầu với Mỹ trong một cuộc chiến tranh lạnh, và Trung Quốc, quốc gia mà Mỹ chỉ mới nối lại liên hệ ngoại giao sau hơn hai thập kỷ gián đoạn và là nước mà Mỹ đã không đặt đại sứ quán hoặc thiết lập các quan hệ ngoại giao chính thức. Theodore Roosevelt đã đưa ra ý tưởng về trật tự thế giới trong đó Mỹ là người bảo vệ trạng thái cân bằng toàn cầu. Nixon đi xa hơn thế khi lập luận rằng Mỹ nên là một phần không thể thiếu trong một sự cân bằng linh hoạt, luôn thay đổi, không phải là nước tạo thế cân bằng mà như là một thành phần trong đó.
Cuộc trò chuyện còn thể hiện kỹ năng chiến thuật của Nixon, khi ông loại bỏ bất kỳ ý định nào trong việc xúi giục các thành phần trong thế cân bằng trên đối đầu với nhau. Một cách cảnh báo tinh tế tới đối thủ tiềm năng là không thừa nhận một năng lực mà ông biết là nước đó sở hữu, và năng lực này sẽ không bị thay đổi bởi sự không thừa nhận đó. Nixon đưa ra những nhận xét này khi chuẩn bị thăm Bắc Kinh, đánh dấu sự cải thiện quan hệ đáng kể và là lần đầu tiên một tổng thống Mỹ đương nhiệm đến thăm Trung Quốc. Sử dụng Trung Quốc để cân bằng lại Liên Xô từ một vị trí mà Mỹ cách mỗi người khổng lồ cộng sản gần hơn là khoảng cách của hai quốc gia này với nhau, tất nhiên, đó chính xác là thiết kế của một chiến lược tiến triển. Tháng Hai năm 1971, báo cáo thường niên về chính sách đối ngoại của Nixon đề cập tới Trung Quốc như là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – lần đầu tiên một tài liệu chính thức của Mỹ đã trao cho quốc gia này mức độ công nhận như vậy – và tuyên bố rằng Mỹ “sẵn sàng thiết lập một đối thoại với Bắc Kinh” trên cơ sở lợi ích quốc gia.
Nixon đưa ra quan điểm tương tự về chính sách đối nội của Trung Quốc khi tôi đang trên đường bay tới Trung Quốc trong cái gọi là chuyến đi bí mật vào tháng Bảy năm 1971. Phát biểu trước công chúng ở thành phố Kansas, Nixon cho rằng “cố gắng khó nhọc trong nước của Trung Quốc” – nghĩa là Cách mạng Văn hóa – không nên đưa đến
bất kỳ cảm giác vui thích nào rằng nước này sẽ luôn như vậy. Vì khi chúng ta coi người Trung Quốc như một dân tộc – và tôi đã thấy họ trên khắp thế giới... – họ sáng tạo, họ sản xuất, họ là một trong những dân tộc có năng lực nhất trên thế giới. Và với 800 triệu người, Trung Quốc chắc chắn sẽ trở thành một cường quốc kinh tế khổng lồ, với tất cả các yếu tố đó họ cũng sẽ đạt được điều tương tự trong các lĩnh vực khác nếu họ đi theo hướng đó.
Những lời này, giờ đây đã trở nên phổ biến, nhưng là cuộc cách mạng ở thời điểm đó. Vì chúng được ngẫu hứng đưa ra – và tôi thì không giữ liên lạc với Washington – chính Chu Ân Lai là người làm tôi chú ý đến chúng, khi tôi bắt đầu cuộc đối thoại đầu tiên với Bắc Kinh sau hơn 20 năm. Là người chống cộng thâm căn cố đế, Nixon đã quyết định rằng sự cấp bách của trạng thái cân bằng địa chính trị quan trọng hơn các yêu cầu về sự thuần khiết ý thức hệ – và may mắn thay, những người đồng cấp của ông ở Trung Quốc cũng đã quyết định như vậy.
Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1972, đối thủ của Nixon, George McGovern đã chế giễu rằng, “Nước Mỹ, hãy trở về nhà!” Nixon trên thực tế đã đáp lại rằng nếu Mỹ trốn tránh trách nhiệm quốc tế của mình, nó chắc chắn sẽ thất bại ở trong nước. Ông tuyên bố “chỉ khi chúng ta hành động mạnh mẽ đáp ứng các trách nhiệm của chúng ta ở nước ngoài, chúng ta mới còn là một quốc gia vĩ đại, và chỉ khi chúng ta vẫn là một quốc gia vĩ đại, chúng ta mới hành động mạnh mẽ đáp ứng những thách thức của chúng ta ở trong nước.” Đồng thời, ông tìm cách kiềm chế “bản năng của chúng ta là biết rõ những gì là tốt nhất cho người khác,” mà bản năng ấy tới lượt mình đem đến “sự cám dỗ của họ muốn dựa vào quyết định của chúng ta.”
Với mục tiêu này, Nixon đã hình thành thông lệ dự thảo báo cáo hằng năm về tình trạng của thế giới. Giống như tất cả các tài liệu của tổng thống, những báo cáo này được các phụ tá của Nhà Trắng dự thảo, trong trường hợp này là các nhân viên Hội đồng An ninh Quốc gia dưới sự chỉ đạo của tôi. Nhưng Nixon quyết định giọng điệu chiến lược chung của những tài liệu này và xem xét khi chúng đang được hoàn thành. Chúng được sử dụng như hướng dẫn cho các cơ quan chính phủ xử lý chính sách đối ngoại, và quan trọng hơn, là một dấu hiệu đối với nước ngoài về đường hướng chiến lược của Mỹ.
Nixon có đầy đủ những gì của một người theo chủ nghĩa lý tưởng để nhấn mạnh rằng Mỹ không thể ủy thác số phận của mình hoàn toàn hay phần lớn vào thiện chí của nước khác. Như báo cáo năm 1970 của ông nhấn mạnh, hòa bình đòi hỏi sự sẵn sàng đàm phán và tìm kiếm những hình thức quan hệ đối tác mới, nhưng chỉ riêng những điều này sẽ là không đủ: “Yếu tố thứ hai của một nền hòa bình bền vững phải là sức mạnh của Mỹ. Chúng ta đã học được, hòa bình không thể đạt được chỉ với thiện chí mà thôi.” Ông đánh giá, hòa bình sẽ được củng cố chứ không phải bị cản trở bằng việc tiếp tục thể hiện sức mạnh của Mỹ, và sự sẵn sàng đã được chứng minh để hành động trên toàn cầu – điều gợi lên bóng dáng của việc Theodore Roosevelt đưa Hạm đội Trắng đi vòng quanh thế giới trong những năm 1907-1909. Mỹ cũng không thể hy vọng các nước khác thế chấp tương lai của họ bằng việc lấy thiện chí của nước khác làm căn cứ cho chính sách đối ngoại. Nguyên tắc chỉ đạo là nỗ lực để xây dựng một trật tự quốc tế ở đó có sự liên hệ giữa quyền lực và tính chính danh – trong ý nghĩa rằng tất cả các thành viên chủ chốt của trật tự đó coi sự dàn xếp này là công bằng:
Tất cả các quốc gia, kẻ thù cũng như bạn hữu, phải có quyền lợi trong việc duy trì hệ thống quốc tế này. Họ phải cảm thấy rằng các nguyên tắc của họ đang được tôn trọng và những lợi ích quốc gia của họ được bảo đảm... Nếu môi trường quốc tế đáp ứng những mối quan tâm sống còn của họ, họ sẽ làm việc để duy trì nó.
Đó là tầm nhìn về một trật tự quốc tế đã đưa đến động lực đầu tiên cho việc mở cửa với Trung Quốc, quốc gia mà Nixon coi là một thành phần không thể thiếu của trật tự đó. Một khía cạnh của việc mở cửa với Trung Quốc là nỗ lực để vượt lên trên những xung đột nội bộ trong thập kỷ vừa qua. Nixon trở thành Tổng thống của một quốc gia bị lung lay bởi một thập kỷ của những biến động trong nước và quốc tế và một cuộc chiến không có kết quả cuối cùng. Điều quan trọng là phải chuyển tải tới Trung Quốc một tầm nhìn về hòa bình và sự thân thiện quốc tế để nâng nước này hướng tới tầm nhìn xứng đáng với lịch sử và những giá trị của nó. Cũng không kém phần quan trọng là việc định nghĩa lại khái niệm của Mỹ về trật tự thế giới. Một mối quan hệ được cải thiện với Trung Quốc sẽ dần cô lập Liên Xô hoặc thúc đẩy nước này tìm kiếm mối quan hệ tốt hơn với Mỹ. Miễn là Mỹ để tâm tới việc xích lại với mỗi siêu cường cộng sản gần hơn khoảng cách giữa họ với nhau, bóng ma về việc Xô-Trung bắt tay trong nỗ lực trở thành bá chủ thế giới, điều đã ám ảnh chính sách đối ngoại của Mỹ trong hai thập kỷ qua, sẽ được dập tắt. (Theo thời gian, Liên Xô thấy mình không thể duy trì tình trạng tiến thoái lưỡng nan này, phần lớn do chính mình tạo ra khi phải đối mặt với kẻ thù ở cả châu Âu và châu Á, kể cả kẻ thù trong cùng phe ý thức hệ của mình.)
Nỗ lực của Nixon để làm cho chủ nghĩa lý tưởng Mỹ thành hiện thực, và làm cho chủ nghĩa thực dụng Mỹ có phạm vi rộng đã bị tấn công từ cả hai phía, phản ánh sự nước đôi của Mỹ giữa quyền lực và nguyên tắc. Những người theo chủ nghĩa lý tưởng chỉ trích Nixon vì đã thi hành chính sách đối ngoại theo các nguyên tắc địa chính trị. Những người theo trường phái bảo thủ đã thách thức ông trên cơ sở cho rằng sự xoa dịu căng thẳng với Liên Xô là một hình thức thoái thác trách nhiệm trước những thách thức của cộng sản đối với nền văn minh phương Tây. Cả hai kiểu chỉ trích bỏ qua việc Nixon đã thực hiện một sự phòng vệ ngoan cường dọc theo ngoại biên của Liên Xô, khi ông là Tổng thống Mỹ đầu tiên đến thăm Đông Âu (Nam Tư, Ba Lan, và Romania), mang tính biểu tượng thách thức quyền kiểm soát của Liên Xô, và ông đã cùng Mỹ trải qua một số cuộc khủng hoảng với Liên Xô, hai trong số đó (vào tháng Mười năm 1970 và tháng Mười năm 1973) làm ông đã không ngần ngại khi đặt quân đội Mỹ vào tình trạng báo động.
Nixon đã thể hiện kỹ năng khác thường trong khía cạnh địa chính trị khi tạo dựng một trật tự thế giới. Ông kiên nhẫn liên kết các thành phần khác nhau của chiến lược lại với nhau, cho thấy sự can đảm phi thường trong việc đương đầu với các cuộc khủng hoảng và sự kiên trì tuyệt vời trong việc theo đuổi những mục đích dài hạn trong chính sách đối ngoại. Một trong những nguyên tắc hoạt động thường được lặp đi lặp lại của ông là: “Ta phải trả cùng một cái giá khi làm một việc gì đó nửa vời cũng giống như khi làm nó tới cùng. Vậy thì hãy cứ làm việc đó tới cùng.” Kết quả là, trong khoảng thời gian 18 tháng, trong những năm 1972-1973, ông đã mang lại sự chấm dứt Chiến tranh Việt Nam, mở cửa với Trung Quốc, một hội nghị thượng đỉnh với Liên Xô kể cả khi đang leo thang nỗ lực quân sự để đối phó với một cuộc tấn công của Bắc Việt Nam, sự thay đổi của Ai Cập từ một đồng minh của Liên Xô chuyển sang hợp tác chặt chẽ với Mỹ, hai thỏa thuận không can thiệp ở Trung Đông – một giữa Israel và Ai Cập, một với Syria (được duy trì tới tận khi cuốn sách này được viết, ngay cả khi một cuộc nội chiến tàn bạo đang diễn ra) – và sự bắt đầu của Hội nghị An ninh châu Âu mà kết quả trong dài hạn là làm cho quyền kiểm soát của Liên Xô ở Đông Âu bị suy yếu nghiêm trọng.
Nhưng khi thành tựu có tính chiến thuật sắp có thể được chuyển thành một khái niệm có tính lâu dài về trật tự thế giới liên kết tầm nhìn đầy cảm hứng đến một trạng thái cân bằng khả thi, thì bi kịch ập đến. Chiến tranh Việt Nam đã làm cạn kiệt năng lượng trên tất cả các mặt. Vụ Watergate vỡ lở, do tự ngu ngốc gây ra và bị khai thác tàn nhẫn bởi những người chỉ trích Nixon lâu nay, làm tê liệt chính quyền hành pháp. Trong giai đoạn bình thường, các thành phần khác nhau trong chính sách của Nixon sẽ được hợp nhất thành một chiến lược dài hạn mới của Mỹ. Nixon đã có một cái nhìn thoáng qua về một miền đất hứa, nơi hy vọng và thực tế được kết giao – sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh, một định nghĩa lại về Liên minh Đại Tây Dương, một sự hợp tác thực sự với Trung Quốc, một bước tiến quan trọng tới hòa bình cho Trung Đông, sự khởi đầu của việc tái hòa nhập của Nga vào một trật tự quốc tế – nhưng ông không có thời gian để hợp nhất tầm nhìn địa chính trị của mình với thời cơ. Việc thực hiện cuộc hành trình đó được để lại cho những người khác.
Khởi đầu đổi mới
Sau nỗi đau của những năm 1960 và sự sụp đổ của một nhiệm kỳ tổng thống, trên hết, Mỹ cần khôi phục lại sự gắn kết của mình. Thật may mắn khi người được giao nhiệm vụ chưa từng có tiền lệ này là Gerald Ford.
Bị đẩy vào một chức vụ mà ông không mưu cầu, Ford chưa bao giờ tham gia vào sự xoay vần phức tạp của nền chính trị tổng thống. Vì nguyên nhân này, được giải thoát khỏi nỗi ám ảnh với các nhóm người được thăm dò ý kiến chính trị và các quan hệ công chúng, trong nhiệm kỳ tổng thống ông có thể thực hành các giá trị của sự thiện chí và niềm tin ở đất nước nơi ông đã lớn lên. Từng phục vụ lâu năm trong Hạ viện, nơi ông là thành viên các tiểu ban quan trọng về quốc phòng và tình báo, đã cho ông một cái nhìn tổng quan về những thách thức trong chính sách đối ngoại.
Sự phục vụ có tính lịch sử của Ford là để khắc phục những chia rẽ của nước Mỹ. Trong chính sách đối ngoại của mình, ông cố gắng liên hệ quyền lực với nguyên tắc và phần lớn đều thành công. Chính quyền của ông chứng kiến sự hoàn thành thỏa thuận đầu tiên giữa Israel với một nhà nước Ả-rập – trong trường hợp này là Ai Cập – với các điều khoản phần lớn mang tính chính trị. Thỏa thuận thứ hai không can thiệp Sinai đánh dấu bước ngoặt không thể thay đổi của Ai Cập hướng tới một thỏa thuận hòa bình. Ford đề xướng con đường ngoại giao tích cực để mang đến nguyên tắc đa số ở miền Nam châu Phi – là Tổng thống Mỹ đầu tiên làm như vậy một cách rõ ràng. Bất chấp sự phản đối mạnh mẽ trong nước, ông giám sát kết luận của Hội nghị An ninh châu Âu. Trong nhiều điều khoản có các điều khoản ghi nhận nhân quyền như là một trong những nguyên tắc an ninh châu Âu. Các điều khoản này đã được những người anh hùng như Lech Walesa ở Ba Lan và Václav Havel ở Tiệp Khắc sử dụng để mang lại nền dân chủ cho đất nước của họ và khởi động sự sụp đổ của hệ thống tại đây.
Tôi đã đọc lời điếu của mình tại tang lễ của Tổng thống Ford với những câu sau:
Theo truyền thống cổ xưa, Chúa bảo vệ nhân loại bất chấp nhiều tội lỗi của con người, bởi vì tại bất kỳ thời điểm nào luôn có mười cá nhân xứng đáng, những người không nhận thấy vai trò của mình, cứu rỗi loài người. Gerald Ford là một người như vậy.
Jimmy Carter trở thành Tổng thống khi tác động của sự thất bại của Mỹ ở Đông Dương bắt đầu được chuyển thành những thách thức không thể tưởng tượng được khi Mỹ vẫn còn hào quang bất khả chiến bại. Là một trụ cột của trật tự khu vực ở Trung Đông từ trước tới nay, Iran đã bị một nhóm các giáo chủ cướp quyền kiểm soát, những người trên thực tế tuyên bố một cuộc chiến chính trị và ý thức hệ với Mỹ, làm đảo lộn sự cân bằng quyền lực hiện hành ở Trung Đông. Một biểu tượng của sự tuyên chiến này là việc giam giữ một nhóm các nhà ngoại giao Mỹ ở Tehran trong hơn 400 ngày. Gần như đồng thời, Liên Xô thực hiện việc đưa quân vào chiếm đóng Afghanistan.
Giữa tất cả các cuộc khủng hoảng này, Carter đã dũng cảm đưa tiến trình hòa bình Trung Đông đến một lễ ký kết tại Nhà Trắng. Hiệp ước hòa bình giữa Israel và Ai Cập là một sự kiện lịch sử. Dù nguồn gốc của nó nằm ở việc loại trừ ảnh hưởng của Liên Xô và sự khởi đầu của tiến trình hòa bình được các chính quyền trước đó tiến hành, sự kết thúc của nó dưới thời Carter là đỉnh cao của đường lối ngoại giao kiên trì và quyết tâm. Carter củng cố việc mở cửa với Trung Quốc bằng cách thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với nước này, củng cố sự đồng thuận của cả hai đảng đằng sau hướng đi mới. Và ông phản ứng mạnh mẽ cuộc tấn công của Liên Xô vào Afghanistan bằng việc yểm trợ những người chống lại sự chiếm đóng của Liên Xô. Trong một giai đoạn đau khổ, Carter tái khẳng định những giá trị của nhân phẩm, điều rất quan trọng đối với hình ảnh của nước Mỹ, kể cả khi ông do dự trước những thách thức mới có tính chiến lược để tìm sự cân bằng thích hợp giữa quyền lực và tính chính danh vào cuối nhiệm kỳ của mình.
RONALD REAGAN VÀ KẾT THÚC CỦA CHIẾN TRANH LẠNH
Hiếm khi nước Mỹ sản sinh một vị tổng thống phù hợp và thấu hiểu thời đại của mình như Ronald Reagan. Một thập kỷ trước đó, Reagan dường như đã quá hiếu chiến đến nỗi không thực tế; một thập kỷ sau đó, niềm tin của ông có vẻ dường như quá một chiều. Nhưng đối mặt với một Liên Xô có nền kinh tế đang trì trệ được lãnh đạo bởi các “lão làng” cứ tuần tự kế nhiệm, và được dư luận Mỹ ủng hộ khi háo hức muốn rũ bỏ thời kỳ tan vỡ ảo tưởng, Reagan đã kết hợp được những sức mạnh tiềm ẩn, đôi khi dường như đối nghịch của Mỹ: chủ nghĩa lý tưởng, khả năng phục hồi, sức sáng tạo, và sức mạnh kinh tế.
Ý thức được sự suy yếu tiềm tàng của Liên Xô và tự tin sâu sắc vào thế ưu việt của hệ thống Mỹ (ông đã đọc về triết học chính trị Mỹ sâu sắc hơn nhiều so với những gì những người chỉ trích ông ghi nhận), Reagan đã hòa trộn hai yếu tố – quyền lực và tính chính danh – mà trong các thập kỷ trước đã tạo nên sự lập lờ nước đôi của Mỹ. Dựa trên các chương trình bị trì hoãn trong một thời gian dài ở Nghị viện, ông thách thức Liên Xô trong một cuộc chạy đua vũ trang và công nghệ mà nước này không thể giành chiến thắng. Những gì được biết đến như là Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược – một lá chắn phòng thủ chiến lược chống lại các cuộc tấn công bằng tên lửa – phần lớn bị chế giễu ở Nghị viện và trên các phương tiện truyền thông khi Reagan đề xuất nó. Ngày nay, sáng kiến này được nhiều người thừa nhận có hiệu quả trong việc thuyết phục các nhà lãnh đạo Xô-viết về sự vô vọng trong cuộc chạy đua vũ trang của nước này với Mỹ.
Đồng thời, Reagan tạo đà tâm lý với những tuyên bố gần với chủ nghĩa đạo đức Wilson. Có lẽ ví dụ sâu sắc nhất là bài phát biểu chia tay khi rời nhiệm sở vào năm 1989, trong đó ông mô tả cách ông nhìn nhận Mỹ như một “thành phố tỏa sáng trên đồi”:
Tôi đã nói về “thành phố tỏa sáng” trong cả cuộc đời chính trị của tôi, nhưng tôi không biết liệu mình đã bao giờ truyền đạt thành công những gì tôi thấy khi tôi nói về nó chưa. Nhưng trong tâm trí của tôi, đó là một thành phố ở trên cao đầy tự hào được xây dựng trên những tảng đá mạnh mẽ hơn những đại dương, nơi có gió thổi qua, được Chúa ban phước và đầy chật người dân thuộc mọi tầng lớp sống trong hòa hợp và an bình – một thành phố với những bến cảng tự do, ngân nga bài ca của thương mại và sáng tạo, và nếu phải có những bức tường thành phố, những bức tường sẽ có các cửa ra vào, và các cửa rộng mở cho bất kỳ ai có ý chí và trái tim có thể tới được nơi đây. Đó là cách tôi đã thấy và vẫn còn thấy nó.
Nước Mỹ như một “thành phố tỏa sáng trên đồi” không phải là một phép ẩn dụ đối với Reagan; nó thực sự tồn tại với ông vì ông quyết chí để nó tồn tại.
Đây là sự khác biệt quan trọng giữa Ronald Reagan và Richard Nixon, những người có chính sách thực tế khá tương đồng và không hiếm khi giống hệt nhau. Nixon coi chính sách đối ngoại là một nỗ lực không có điểm kết thúc, như một tập hợp các giai điệu cần phải được quản lý. Ông xử lý những phức tạp và mâu thuẫn của nó như bài tập ở trường của một giáo viên có yêu cầu đặc biệt. Ông dự kiến Mỹ sẽ thắng thế nhưng là trong một sự nghiệp lâu dài và không hề vui vẻ, có lẽ sau khi ông rời nhiệm sở. Ngược lại, năm 1977, Reagan tổng kết chiến lược Chiến tranh Lạnh của mình với một phụ tá bằng một lời trào phúng đầy lạc quan: “Ta thắng, họ thua.” Phong cách hoạch định chính sách của Nixon có vai trò quan trọng trong việc khôi phục lại sự linh hoạt ngoại giao trong Chiến tranh Lạnh; phong cách của Reagan là không thể thiếu đối với chính sách ngoại giao kết thúc cuộc chiến này.
Ở một mức độ nào đó, những lời hùng biện của Reagan – bao gồm cả bài phát biểu của ông vào tháng Ba năm 1983 đề cập tới Liên Xô như là “Đế chế Xấu xa” – đã đánh dấu sự chấm hết cho bất kỳ triển vọng nào của quan hệ ngoại giao Đông-Tây. Ở mức độ sâu hơn, nó tượng trưng cho một giai đoạn quá độ, khi Liên Xô trở nên nhận thức được sự vô vọng trong một cuộc chạy đua vũ trang trong khi dàn lãnh đạo cao tuổi của nước này phải đối mặt với vấn đề về tầng lớp kế cận. Ẩn giấu sự phức tạp đằng sau vẻ bề ngoài đơn giản, Reagan cũng đưa ra một tầm nhìn về sự hòa giải với Liên Xô vượt xa những gì Nixon sẽ sẵn sàng nêu ra.
Reagan tin tưởng rằng sự không khoan nhượng của cộng sản là do được đặt trên cơ sở thiếu hiểu biết hơn là do ý định xấu xa, do hiểu lầm hơn là thù địch. Không giống như Nixon, người nghĩ rằng một tính toán tư lợi có thể đưa tới sự chung sống giữa Mỹ và Liên Xô, Reagan tin rằng cuộc xung đột có khả năng kết thúc với việc đối thủ nhận ra sự ưu việt trong các nguyên tắc của Mỹ. Năm 1984, nhân việc Đảng Cộng sản bầu đảng viên kỳ cựu Konstantin Chernenko làm lãnh đạo tối cao của Liên Xô, Reagan tâm sự trong cuốn nhật ký của mình, “Tôi có linh cảm muốn nói chuyện với ông ấy về các vấn đề chung của chúng ta như những người đàn ông với nhau, và xem liệu tôi có thể thuyết phục ông ấy rằng sẽ có lợi ích vật chất cho Liên Xô nếu họ tham gia vào gia đình của các quốc gia, v.v…”
Khi Mikhail Gorbachev kế nhiệm Chernenko một năm sau đó, sự lạc quan của Reagan càng tăng. Ông nói với các cộng sự về ước mơ đi cùng nhà lãnh đạo mới của Liên Xô trong một chuyến thăm tới khu những người lao động Mỹ sinh sống. Theo một người viết tiểu sử kể lại, Reagan hình dung “chiếc trực thăng sẽ hạ cánh, và Reagan sẽ mời Gorbachev gõ từng cánh cửa và hỏi các cư dân ‘họ suy nghĩ gì về hệ thống của chúng ta.’ Những người lao động sẽ nói cho ông ấy biết rằng sống ở Mỹ là tuyệt vời như thế nào.” Tất cả điều này sẽ thuyết phục Liên Xô tham gia vào bước tiến của toàn cầu hướng tới dân chủ và theo đó dân chủ sẽ tạo ra hòa bình vì “những chính phủ dựa trên sự ưng thuận của người dân sẽ không gây chiến với các nước láng giềng” – một nguyên tắc cốt lõi trong quan điểm của Wilson về trật tự quốc tế.
Áp dụng tầm nhìn của mình vào việc kiểm soát vũ khí hạt nhân, tại hội nghị thượng đỉnh Reykjavík với Gorbachev vào năm 1986, Reagan đề xuất loại bỏ tất cả các hệ thống phóng hạt nhân trong khi giữ lại và xây dựng các hệ thống chống tên lửa. Một kết quả như vậy sẽ đạt được một trong những mục tiêu thường được Reagan tuyên bố là loại bỏ viễn cảnh chiến tranh hạt nhân bằng cách loại bỏ khả năng tấn công hạt nhân và kiềm chế những kẻ vi phạm thỏa thuận này bằng các hệ thống phòng thủ tên lửa. Ý tưởng này vượt ra ngoài phạm vi hình dung của Gorbachev, và là lý do vì sao ông ta ra sức thương lượng cho một sự bảo lưu vụn vặt về việc hạn chế phạm vi thử nghiệm hệ thống phòng thủ tên lửa chỉ “ở phòng thí nghiệm.” (Trong bất kỳ tình huống nào, đề xuất loại bỏ các hệ thống phóng hạt nhân là không khả thi, vì nó sẽ bị phản đối gay gắt bởi Thủ tướng Anh Margaret Thatcher và Tổng thống Pháp François Mitterrand, những người tin rằng châu Âu sẽ không thể được bảo vệ nếu không có vũ khí hạt nhân và cũng là những người coi các biện pháp răn đe độc lập của họ như một chính sách bảo hiểm cuối cùng.) Nhiều năm sau, tôi hỏi đại sứ Xô-viết Anatoly Dobrynin vì sao những người Xô-viết đã không đề xuất một thỏa hiệp nào về vấn đề thử nghiệm. Ông ấy trả lời, “Bởi vì, chúng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng Reagan sẽ đơn giản bỏ ra ngoài [phòng họp].”
Gorbachev tìm cách chống lại tầm nhìn của Reagan với một khái niệm về cải tổ của Liên Xô. Nhưng cho tới những năm 1980, “cân bằng lực lượng” mà các nhà lãnh đạo Liên Xô đã nêu ra không biết mệt mỏi trong những thập kỷ cai trị của họ đã chống lại họ. Bốn thập kỷ mở rộng quốc gia về mọi hướng không thể được duy trì trên cơ sở một mô hình kinh tế không vận hành được. Bất chấp những chia rẽ và dao động, Mỹ đã giữ gìn được các yếu tố thiết yếu của một tình thế có sức mạnh; hơn hai thế hệ người Mỹ đã xây dựng được một liên minh chống Liên Xô không chính thức gồm các trung tâm công nghiệp lớn khác và hầu hết các nước đang phát triển. Gorbachev nhận ra rằng Liên Xô không thể duy trì được tiến trình hiện nay của mình, nhưng ông đã đánh giá thấp sự mong manh của hệ thống Xô-viết. Những lời kêu gọi cải tổ của ông – glasnost (công khai) và perestroika (cải tổ) – đã giải phóng những lực lượng quá vô tổ chức để có một cải cách đúng nghĩa và quá suy sụp để tiếp tục sự lãnh đạo độc tài, hầu hết như những gì Kennan đã dự đoán từ nửa thế kỷ trước.
Chỉ riêng cam kết lý tưởng của Reagan cho một nền dân chủ sẽ không thể tạo ra một kết cục như vậy; các chính sách quốc phòng và kinh tế mạnh mẽ, sự phân tích sắc sảo về những điểm yếu của Liên Xô và một sự liên kết thuận lợi đến mức không ngờ của hoàn cảnh bên ngoài, tất cả đều đóng một vai trò trong sự thành công của chính sách của ông. Tuy nhiên, nếu không có chủ nghĩa lý tưởng của Reagan – đôi khi gần như không tuân theo lịch sử – sự kết thúc của thách thức Xô-viết có thể đã không xảy ra giữa một sự khẳng định có tính toàn cầu về một tương lai dân chủ như vậy. 40 năm trước đó và những thập kỷ kể từ đó, người ta cho rằng trở ngại chính đối với một trật tự thế giới hòa bình là Liên Xô. Hệ quả là sự thoái lui của chủ nghĩa cộng sản – thử tưởng tượng nếu điều này xảy ra trong một tương lai không xa – sẽ mang đến cùng với nó là một kỷ nguyên ổn định và thiện chí. Nó nhanh chóng trở nên rõ ràng rằng lịch sử thường vận hành theo những chu kỳ dài hơn. Trước khi một trật tự quốc tế mới có thể được xây dựng, đối phó với tàn dư của Chiến tranh Lạnh là điều cần thiết.
Nhiệm vụ này được đặt trên vai George H.W. Bush, người đã điều khiển ưu thế của Mỹ bằng sự điều độ và khôn ngoan. Là con nhà dòng dõi được sinh ra và lớn lên ở Connecticut, nhưng lựa chọn lập nghiệp ở Texas, nơi sôi động và có tinh thần lập nghiệp hơn của Mỹ, và là người có nhiều kinh nghiệm trong tất cả các cấp chính quyền, Bush đã xử lý bằng kỹ năng tuyệt vời các cuộc khủng hoảng liên tục nối tiếp nhau, khi chúng thách thức cả việc áp dụng các giá trị lẫn phạm vi quyền lực rộng lớn của Mỹ. Trong vòng vài tháng sau khi lên nắm quyền, sự biến Thiên An Môn ở Trung Quốc không chỉ thách thức các giá trị cơ bản của Mỹ mà còn thách thức cả tầm quan trọng đối với trạng thái cân bằng toàn cầu trong việc giữ gìn mối quan hệ Trung-Mỹ. Từng đứng đầu văn phòng liên lạc của Mỹ ở Bắc Kinh (trước khi quan hệ chính thức được thiết lập), Bush xử lý theo hướng duy trì các nguyên tắc của Mỹ trong khi vẫn giữ được triển vọng hợp tác cao nhất. Ông cố gắng xử trí trước sự thống nhất Đức – từ trước đến nay được coi là nguyên nhân có thể gây ra chiến tranh – bằng tài ngoại giao khéo léo được thúc đẩy bởi quyết định không khai thác tình trạng bối rối của Liên Xô khi quốc gia này sụp đổ. Với tinh thần đó, khi Bức tường Berlin được phá bỏ vào năm 1989, Bush bác bỏ mọi đề xuất bay tới Berlin để kỷ niệm sự biểu hiện này về sự đổ vỡ của chính sách Xô-viết.
Cách xử lý khéo léo của Bush khi đưa Chiến tranh Lạnh đến kết thúc đã che khuất các tranh cãi trong nước mà thông qua đó nỗ lực của Mỹ đã được duy trì, và những tranh cãi ấy sẽ miêu tả những thách thức trong giai đoạn tiếp theo. Khi Chiến tranh Lạnh lùi xa dần, người Mỹ có sự đồng thuận rằng công việc chính đó là sự chuyển đổi đã đạt được. Một trật tự thế giới hòa bình giờ đây sẽ mở ra, miễn là các nền dân chủ quan tâm hỗ trợ làn sóng biến đổi dân chủ cuối cùng ở các nước vẫn nằm dưới sự cai trị độc tài. Tầm nhìn cao nhất trong tư tưởng Wilson sẽ được hoàn thành. Các thể chế chính trị và kinh tế tự do sẽ lan rộng và cuối cùng sẽ nhấn chìm sự đối lập đã lỗi thời trong một sự hòa hợp rộng lớn hơn.
Trên tinh thần đó, Bush đánh bại cuộc xâm lược của Iraq vào Kuwait trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, bằng cách hình thành một liên minh của những nước ủng hộ thông qua Liên Hợp Quốc, hành động chung đầu tiên liên quan đến các cường quốc lớn kể từ Chiến tranh Triều Tiên; ông ngừng các hoạt động quân sự khi chạm tới giới hạn đã được các nghị quyết của Liên Hợp Quốc cho phép (có lẽ, là một cựu đại sứ tại Liên Hợp Quốc, ông đã tìm cách áp dụng bài học từ quyết định của Tướng MacArthur khi vượt qua đường phân chia giữa hai miền Triều Tiên sau chiến thắng tại Inchon).
Trong một thời gian ngắn, sự đồng thuận toàn cầu đằng sau việc đánh bại (do Mỹ lãnh đạo) cuộc chinh phạt của quân đội Saddam Hussein với Kuwait vào năm 1991 dường như chứng minh cho hy vọng lâu năm của Mỹ về một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Tháng Mười năm 1990, tại Prague, Bush kêu gọi một “khối thịnh vượng chung của tự do” được quản lý bằng pháp quyền; đó sẽ là “một cộng đồng đạo đức thống nhất trong cam kết về những lý tưởng tự do.” Việc tham gia là thành viên trong khối thịnh vượng chung này sẽ được mở rộng cho tất cả; một ngày nào đó có thể vươn ra toàn cầu. Như vậy, “sức mạnh to lớn và ngày càng tăng của khối thịnh vượng chung của tự do” sẽ “hình thành một trật tự thế giới mới cho tất cả các quốc gia, ổn định hơn, và an toàn hơn nhiều so với bất kỳ trật tự nào chúng ta từng biết.” Mỹ và các quốc gia đồng minh sẽ “ra khỏi chính sách ngăn chặn để tiến tới chính sách tham gia tích cực.”
Nhiệm kỳ của Bush bị rút ngắn bởi sự thất bại trong cuộc bầu cử năm 1992, ở khía cạnh nào đó do ông tranh cử như một tổng thống chú trọng chính sách đối ngoại trong khi đối thủ của ông, Bill Clinton, hướng tới công chúng mệt mỏi vì chiến tranh, hứa hẹn tập trung vào nghị trình đối nội của Mỹ. Tuy nhiên, vị Tổng thống mới đắc cử nhanh chóng tái khẳng định thiên hướng chính sách đối ngoại tương tự Bush. Trong một bài phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào năm 1993, Clinton bày tỏ sự tin tưởng thời đại khi ông miêu tả khái niệm về chính sách đối ngoại của mình không phải là ngăn chặn mà là “mở rộng.” “Mục tiêu trên hết của chúng tôi,” ông tuyên bố, “là phải mở rộng và củng cố cộng đồng thế giới của những nền dân chủ dựa trên kinh tế thị trường.” Theo quan điểm này, bởi vì các nguyên tắc về tự do chính trị và kinh tế là phổ quát “từ Ba Lan đến Eritrea, từ Guatemala đến Hàn Quốc,” nên sự lan rộng của chúng sẽ không đòi hỏi lực tác động nào. Miêu tả một kế hoạch bao gồm việc cho phép một tiến trình lịch sử không thể tránh khỏi, Clinton cam kết chính sách của Mỹ mong muốn “một thế giới của những nền dân chủ lớn mạnh cùng hợp tác với nhau và chung sống trong hòa bình.”
Khi Ngoại trưởng Warren Christopher cố gắng áp dụng lý thuyết mở rộng đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bằng cách xây dựng các ràng buộc kinh tế có điều kiện về những thay đổi bên trong hệ thống của Trung Quốc, ông gặp phải một sự phản kháng dữ dội. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh rằng các mối quan hệ với Mỹ chỉ có thể được tiến hành trên cơ sở địa chiến lược, chứ không phải (như đã được đề xuất) trên cơ sở tiến bộ của Trung Quốc về tự do hóa chính trị. Đến năm thứ ba trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, cách tiếp cận của Clinton về trật tự thế giới quay trở lại với việc thực hiện kém quyết liệt hơn.
Trong khi đó, khái niệm mở rộng gặp phải một đối thủ hiếu chiến hơn nhiều. Chủ nghĩa thánh chiến tìm cách truyền bá thông điệp của mình và tấn công các giá trị và thể chế của phương Tây, đặc biệt là của Mỹ, coi chúng như những trở ngại chính. Một vài tháng trước khi Clinton có bài phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, một nhóm những phần tử cực đoan quốc tế, có cả một công dân Mỹ, đã đánh bom Trung tâm Thương mại Thế giới ở thành phố New York. Mục tiêu thứ hai của chúng là tòa nhà Ban Thư ký Liên Hợp Quốc nếu mục tiêu đầu tiên bị cản trở. Khái niệm của Hòa ước Westphalia về luật pháp quốc gia và quốc tế là một sự ghê tởm đối với phong trào này, do nó dựa trên các quy tắc không được miêu tả rõ ràng trong Kinh Quran. Khái niệm dân chủ cũng bị phản đối tương tự do khả năng lập pháp của nó tách biệt với luật sharia. Theo quan điểm của các lực lượng thánh chiến, Mỹ là kẻ đàn áp những người Hồi giáo vốn đang tìm cách thực hiện sứ mệnh toàn cầu của riêng mình. Thách thức đột ngột bùng nổ với các cuộc tấn công nhằm vào New York và Washington ngày 11 tháng Chín năm 2001. Ít nhất là ở Trung Đông, sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh mở ra không phải là một quãng thời gian đồng thuận dân chủ như đã hy vọng, mà là một thời đại mới của cuộc đối đầu ý thức hệ và quân sự.
CHIẾN TRANH AFGHANISTAN VÀ IRAQ
Sau một cuộc thảo luận đau đớn về “bài học Việt Nam,” những tình huống tiến thoái lưỡng nan căng thẳng không kém đã tự tái diễn ba thập kỷ sau đó với các cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq. Cả hai cuộc xung đột đều xuất phát từ sự phá vỡ trật tự quốc tế. Đối với Mỹ, cả hai cuộc chiến đều kết thúc bằng sự rút quân.
Afghanistan
Al-Qaeda, từng ban hành một fatwa (sắc lệnh Hồi giáo) năm 1998 kêu gọi việc giết hại không phân biệt đối với người Mỹ và người Do Thái ở khắp mọi nơi, hiện trú ẩn ở Afghanistan, nơi chính quyền Taliban từ chối trục xuất những kẻ cầm đầu và các tay súng của tổ chức này. Một sự đáp trả của Mỹ đối với cuộc tấn công vào lãnh thổ nước Mỹ là điều không thể tránh khỏi và có thể hiểu được trên thế giới.
Một thách thức mới hiện ra gần như ngay lập tức: làm thế nào để thiết lập trật tự quốc tế khi kẻ thù chủ chốt là các tổ chức phi nhà nước, không bảo vệ một lãnh thổ cụ thể nào, và không thừa nhận những nguyên tắc đã được thiết lập từ lâu về tính chính danh.
Cuộc chiến Afghanistan bắt đầu khi có dấu hiệu của sự thống nhất quốc gia và sự đồng thuận quốc tế. Những triển vọng về một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ dường như được chứng minh là đúng đắn khi NATO, lần đầu tiên trong lịch sử của tổ chức này, áp dụng Điều 5 của Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương – quy định rằng “một cuộc tấn công vũ trang chống lại một hoặc nhiều nước [đồng minh NATO] ở châu Âu hay Bắc Mỹ sẽ được coi là một cuộc tấn công nhắm vào toàn liên minh.” Chín ngày sau các vụ tấn công ngày 11 tháng Chín, Tổng thống George W. Bush gửi một tối hậu thư cho chính quyền Taliban ở Afghanistan, khi đó đang chứa chấp al-Qaeda: “Dẫn giải tới nhà chức trách Mỹ tất cả những kẻ cầm đầu al-Qaeda đang lẩn trốn trong đất các vị... Đồng ý để Mỹ tiếp cận đầy đủ tới các trại huấn luyện khủng bố, để chúng tôi có thể chắc chắn rằng chúng không còn hoạt động nữa.” Khi Taliban không tuân thủ, Mỹ và đồng minh phát động một cuộc chiến tranh với mục đích đã được Bush miêu tả kiệm lời tương tự vào ngày 7 tháng Mười: “Những hành động có mục tiêu được tính toán kỹ lưỡng này được thiết kế nhằm làm gián đoạn việc sử dụng Afghanistan như một căn cứ hoạt động khủng bố, và nhằm tấn công khả năng quân sự của chế độ Taliban.”
Những cảnh báo ban đầu về lịch sử của Afghanistan như là “mồ chôn các đế chế” dường như vô căn cứ. Sau một nỗ lực nhanh chóng do Mỹ, Anh, và các lực lượng Afghanistan đồng minh tiến hành, chế độ Taliban đã bị lật đổ. Tháng Mười hai năm 2001, một hội nghị quốc tế ở Bonn, Đức, đã tuyên bố thành lập một chính phủ lâm thời Afghanistan do Hamid Karzai đứng đầu và thiết lập quy trình cho việc triệu tập một loya jirga (một hội đồng bộ tộc truyền thống) để thiết kế và phê chuẩn các thể chế của Afghanistan hậu chiến. Các mục tiêu trong cuộc chiến tranh liên minh dường như đã đạt được.
Những người tham gia trong các cuộc đàm phán tại Bonn lạc quan khẳng định một tầm nhìn rộng lớn: “thành lập một chính phủ của đa số, nhạy cảm về giới tính, đa sắc tộc và đầy đủ đại diện.” Năm 2003, một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc cho phép sự mở rộng của Lực lượng hỗ trợ An ninh quốc tế của NATO để hỗ trợ Chính quyền lâm thời Afghanistan và những chính quyền kế nhiệm trong việc duy trì an ninh ở các vùng đất của Afghanistan bên ngoài thủ đô Kabul và vùng phụ cận, như vậy các cơ quan của Afghanistan cũng như nhân viên của Liên Hợp Quốc... có thể hoạt động trong một môi trường an ninh.
Tiền đề trung tâm trong nỗ lực của Mỹ và đồng minh trở thành “tái thiết Afghanistan” qua cách thức của một chính phủ Afghanistan dân chủ, đa nguyên, minh bạch mà mệnh lệnh hành chính của nó có thể vươn tới khắp đất nước, và một quân đội quốc gia Afghanistan có khả năng đảm nhận trách nhiệm đảm bảo an ninh trên toàn quốc. Với một chủ nghĩa lý tưởng nổi bật, những nỗ lực này được hình dung giống như việc xây dựng nền dân chủ ở Đức và Nhật Bản sau Thế chiến II.
Không một thể chế nào trong lịch sử ở Afghanistan hay bất kỳ khu vực nào ở nước này có thể mang lại một nỗ lực trên diện rộng như vậy từ trước đến nay. Theo truyền thống, Afghanistan chưa phải là một quốc gia theo nghĩa thông thường, nó giống như một thể hiện về địa lý cho một khu vực chưa bao giờ được tập hợp dưới sự quản lý thống nhất của bất kỳ chính quyền duy nhất nào. Trong phần lớn lịch sử được ghi trong sử sách, các bộ tộc Afghanistan và các giáo phái đã gây chiến với nhau, đôi khi lại thống nhất với nhau trong thời gian ngắn để chống lại những cuộc xâm lược hay để phát động các cuộc tấn công cướp bóc hàng xóm của họ. Giới tinh hoa ở Kabul có thể thực hiện các thử nghiệm theo từng giai đoạn về các thể chế nghị viện, nhưng bên ngoài thủ đô, một bộ luật danh dự có từ xa xưa của các bộ tộc lại chiếm ưu thế. Những người nước ngoài đã vô tình đạt được sự thống nhất của Afghanistan, khi các bộ tộc và giáo phái liên kết trong việc chống lại một kẻ xâm lược.
Như vậy những gì các lực lượng Mỹ và NATO đối mặt trong những năm đầu thế kỷ 21 về cơ bản giống với hoàn cảnh mà một Winston Churchill thời trẻ gặp phải năm 1897:
Ngoại trừ thời gian thu hoạch, khi bản năng tự vệ buộc phải có thỏa thuận ngừng bắn tạm thời, các bộ tộc người Pathan [Pashtun] luôn tham gia vào các cuộc chiến tranh riêng hoặc chung. Mỗi người là một chiến binh, chính trị gia, và nhà thần học. Mỗi ngôi nhà lớn là một pháo đài phong kiến thực sự... Mỗi ngôi làng đều có sự phòng thủ của mình. Mỗi gia đình, mỗi gia tộc đều nuôi dưỡng một mối thù truyền kiếp của mình. Nhiều bộ tộc và liên minh các bộ tộc đều có những chuyện phải quấy cần giải quyết với nhau. Không có gì bị lãng quên, và rất ít món nợ được bỏ qua không thanh toán.
Trong bối cảnh này, những mục tiêu đã được tuyên bố của liên minh và của Liên Hợp Quốc về một chính quyền trung ương Afghanistan dân chủ, minh bạch, vận hành trong một môi trường an ninh chẳng khác gì việc viết lại hoàn toàn lịch sử Afghanistan. Trên thực tế, nó đã nâng một bộ tộc lên trên những bộ tộc khác – bộ tộc Pashtun Popalzai của Hamid Karzai – và đòi hỏi bộ tộc này phải tự thiết lập quyền lực của mình trên khắp đất nước, hoặc bằng sức mạnh (của riêng mình hoặc của liên minh quốc tế), hoặc bằng việc phân phối các chiến lợi phẩm từ viện trợ nước ngoài, hoặc cả hai. Chắc chắn, những nỗ lực cần thiết để áp đặt những thể chế như vậy đã động chạm đến các đặc quyền lâu đời, làm xáo trộn sự biến ảo của các liên minh bộ tộc theo những cách mà bất kỳ thế lực bên ngoài nào cũng đều thấy khó hiểu và khó kiểm soát.
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2008 kết hợp cả sự phức tạp rắc rối và sự nước đôi. Tổng thống mới Barack Obama đã vận động tranh cử trên tiền đề rằng ông sẽ khôi phục lại cuộc chiến tranh “cần thiết” ở Afghanistan và dự định chấm dứt cuộc chiến tranh “ngớ ngẩn” ở Iraq mà ở đó các lực lượng đã bị vắt kiệt. Nhưng khi tại nhiệm, ông quyết tâm mang lại một trọng tâm thời bình qua việc tập trung vào các ưu tiên đối nội mang đến sự biến đổi sâu rộng. Kết cục là việc tái diễn sự nước đôi đã đi cùng với các chiến dịch quân sự của Mỹ trong thời kỳ hậu Thế chiến II: gửi thêm 30.000 quân để “tăng quân” ở Afghanistan cùng với một thời hạn 18 tháng cho việc rút quân, trong cùng một thông báo. Mục đích của thời hạn này được lập luận là để mang lại động lực cho chính quyền Karzai trong việc đẩy nhanh nỗ lực xây dựng một chính quyền trung ương và quân đội hiện đại để thay thế người Mỹ. Tuy nhiên, về bản chất, mục tiêu của một chiến lược du kích như của Taliban là để cầm cự lâu hơn với các lực lượng bảo vệ. Đối với các nhà lãnh đạo Kabul, thông báo chấm dứt sự hỗ trợ từ bên ngoài vào một ngày đã được ấn định này sẽ khởi động một quá trình vận động phe phái, kể cả với Taliban.
Các bước tiến Afghanistan thực hiện trong thời gian này là đáng kể và phải khó khăn mới giành được. Người dân đã chấp nhận các thể chế bầu cử với không ít sự táo bạo, vì Taliban tiếp tục dọa giết những ai tham gia vào các cơ cấu dân chủ. Mỹ cũng thành công trong mục tiêu xác định vị trí và loại bỏ Osama bin Laden, gửi đi một thông điệp mạnh mẽ về tầm với toàn cầu và quyết tâm của Mỹ trong việc trả đũa những hành động tàn bạo.
Tuy nhiên, các triển vọng trong khu vực vẫn còn nhiều thách thức. Trong giai đoạn sau khi Mỹ rút quân (sắp diễn ra khi cuốn sách này đang được viết), các mệnh lệnh hành chính của chính quyền Afghanistan chỉ có thể được thực thi ở Kabul và các vùng lân cận chứ chưa được thống nhất thi hành trong phần còn lại của đất nước. Ở đây, một liên hiệp các vùng phong kiến, bán tự trị là phổ biến trên cơ sở sắc tộc, chịu ảnh hưởng đáng kể của các thế lực nước ngoài đang tranh giành. Thách thức sẽ trở về nơi nó bắt đầu – sự tương thích của một Afghanistan độc lập với một trật tự chính trị trong khu vực.
Ít nhất, những người láng giềng của Afghanistan cần phải có một lợi ích quốc gia đáng kể như Mỹ – và về lâu dài, một lợi ích lớn hơn rất nhiều – trong việc xác định và mang đến một kết cục rõ ràng, không có thánh chiến ở Afghanistan. Mỗi nước láng giềng của Afghanistan sẽ có nguy cơ phải chịu bất ổn ngay trong nước mình nếu Afghanistan quay trở về tình trạng trước chiến tranh như là một cơ sở cho các tổ chức thánh chiến phi nhà nước hoặc là một nhà nước quyết thực hiện các chính sách thánh chiến: Pakistan là quan trọng hơn cả với toàn bộ cấu trúc nội bộ của nước này, Nga với phần phía nam và phía tây theo Hồi giáo của nước này, Trung Quốc với vùng Tân Cương chủ yếu theo Hồi giáo, và thậm chí cả Iran theo hệ phái Shiite từ khuynh hướng Sunni cực đoan. Theo quan điểm chiến lược, tất cả những nước này bị đe dọa nhiều hơn Mỹ bởi một Afghanistan thân thiện với chủ nghĩa khủng bố (có lẽ ngoại trừ Iran có thể tính toán rằng một tình huống hỗn loạn ngoài biên giới của Iran sẽ cho phép nước này thao túng các phe phái đối đầu, như đã từng thực hiện như vậy ở Syria, Lebanon và Iraq).
Sự trớ trêu cuối cùng có thể là Afghanistan, bị chiến tranh tàn phá, có thể trở thành trường hợp thử nghiệm để xem liệu một trật tự khu vực có thể được đúc kết từ những lợi ích an ninh và quan điểm lịch sử khác nhau hay không. Nếu không có một chương trình quốc tế bền vững liên quan đến an ninh của Afghanistan, mỗi nước láng giềng lớn của nước này sẽ yểm trợ các phe phái đối địch dựa trên những lằn ranh chia rẽ về sắc tộc và giáo phái cổ xưa. Kết cục có thể sẽ là một sự chia cắt trên thực tế, với Pakistan kiểm soát phía nam của tộc người Pashtun, và Ấn Độ, Nga, và có lẽ cả Trung Quốc ưa thích vùng phía bắc với sự pha trộn về sắc tộc. Để tránh một khoảng trống, một nỗ lực ngoại giao lớn là cần thiết nhằm xác định một trật tự khu vực để đối phó với khả năng Afghanistan sẽ lại nổi lên như một trung tâm thánh chiến. Trong thế kỷ 19, các cường quốc lớn đã đảm bảo tính trung lập của Bỉ, một sự đảm bảo mà cuối cùng đã kéo dài gần 100 năm. Liệu một điều tương tự, với những định nghĩa lại cho phù hợp, có thể xảy ra? Nếu một khái niệm như vậy – hay giống như vậy – bị lẩn tránh, Afghanistan có thể sẽ kéo thế giới quay trở lại tình trạng chiến tranh quanh năm suốt tháng của nó.
Iraq
Sau vụ tấn công ngày 11 tháng Chín, Tổng thống George W. Bush nêu ra một chiến lược toàn cầu chống lại chủ nghĩa thánh chiến cực đoan và củng cố trật tự quốc tế đã được thiết lập từ lâu, bằng cách truyền vào đó một cam kết về sự chuyển đổi dân chủ. Chiến lược An ninh quốc gia năm 2002 của Nhà Trắng lập luận, các “cuộc đấu tranh vĩ đại của thế kỷ 20” đã chứng minh rằng có “một mô hình bền vững duy nhất cho thành công của một quốc gia: tự do, dân chủ, và kinh doanh tự do.”
Tài liệu Chiến lược An ninh quốc gia nhấn mạnh, thời điểm hiện tại chứng kiến một thế giới bị bàng hoàng bởi sự tàn bạo khủng bố chưa từng có, các cường quốc lớn “trên cùng một chiến tuyến – được thống nhất bởi những mối nguy hiểm chung về bạo lực khủng bố và hỗn loạn.” Việc khuyến khích các thể chế tự do và các mối quan hệ hợp tác giữa các cường quốc lớn mang đến “cơ hội tốt nhất kể từ khi xuất hiện các quốc gia-dân tộc vào thế kỷ 17 để xây dựng một thế giới, nơi các cường quốc lớn cạnh tranh trong hòa bình thay vì liên tục chuẩn bị cho chiến tranh.” Trọng tâm của những gì được gọi là Nghị trình Tự do là sự chuyển đổi Iraq từ một trong các quốc gia hà khắc nhất Trung Đông thành một nền dân chủ đa đảng, mà tới lượt mình sẽ truyền cảm hứng cho một sự chuyển đổi dân chủ trong khu vực: “Nền dân chủ ở Iraq sẽ thành công – và thành công đó sẽ gửi đi thông điệp, từ Damascus tới Teheran – rằng tự do có thể là tương lai của mỗi quốc gia.”
Nghị trình Tự do không phải là suy nghĩ tùy tiện của một tổng thống đơn độc và các phụ tá của ông ta, như sau này bị cáo buộc. Tiền đề cơ bản của nó là sự diễn giải kỹ lưỡng về những mặt tinh túy của nước Mỹ. Tài liệu Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2002 – lần đầu tiên công bố chính sách này – lặp lại những lập luận trong Báo cáo của Ủy ban An ninh Quốc gia NSC-68 rằng, vào năm 1950, đã xác định sứ mệnh của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh, dù có một sự khác biệt mang tính quyết định. Tài liệu năm 1950 đã liệt kê những giá trị của Mỹ trong việc bảo vệ thế giới tự do. Tài liệu năm 2002 lập luận về việc chấm dứt chế độ độc tài khắp mọi nơi nhân danh các giá trị tự do phổ quát.
Nghị quyết số 687 năm 1991 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã yêu cầu Iraq phá hủy tất cả các kho vũ khí hủy diệt hàng loạt của nước này và cam kết không bao giờ phát triển loại vũ khí như vậy nữa. Iraq đã liên tục vi phạm nghiêm trọng mười nghị quyết của Hội đồng Bảo an kể từ đó.
Điều khác biệt – và mang truyền thống Mỹ – về nỗ lực quân sự ở Iraq là quyết định đưa ra hành động cưỡng chế thi hành, trên thực tế như một mặt của dự án truyền bá tự do và dân chủ. Mỹ phản ứng trước cơn thủy triều gia tăng của thuyết phổ độ cực đoan Hồi giáo bằng cách tái khẳng định tính phổ quát của những giá trị và khái niệm về trật tự thế giới của riêng mình.
Tiền đề cơ bản bắt đầu với sự ủng hộ quan trọng của công chúng, đặc biệt bao gồm cả việc loại bỏ Saddam Hussein. Năm 1998, Nghị viện Mỹ thông qua Đạo luật Giải phóng Iraq với sự ủng hộ áp đảo của cả hai đảng (tỉ lệ 360-38 ở Hạ viện và được nhất trí ở Thượng viện), tuyên bố rằng “chính sách của Mỹ cần hỗ trợ các nỗ lực loại bỏ chế độ do Saddam Hussein cầm đầu khỏi quyền lực ở Iraq và thúc đẩy sự ra đời của một chính quyền dân chủ để thay thế chế độ đó.” Khi ký dự luật thành luật vào ngày 31 tháng Mười, cùng ngày nó được Thượng viện thông qua, Tổng thống Clinton bày tỏ sự đồng thuận của cả hai đảng:
Mỹ muốn Iraq tái gia nhập gia đình của các quốc gia như một thành viên yêu chuộng tự do và tôn trọng luật pháp. Đây là lợi ích của chúng ta và của cả các đồng minh của chúng ta trong khu vực… Mỹ đang yểm trợ các nhóm đối lập trên tất cả các lĩnh vực trong cộng đồng Iraq mà có thể dẫn đến một chính quyền được ủng hộ rộng rãi.
Do không một đảng chính trị nào được phép hoạt động ở Iraq, ngoại trừ Đảng Baath đang cầm quyền do Saddam Hussein điều hành với một bàn tay sắt, và do đó không có đảng đối lập chính thức nào tồn tại, những lời của Tổng thống chắc chắn có nghĩa là Mỹ sẽ tạo ra một chương trình bí mật để lật đổ nhà độc tài Iraq.
Sau sự can thiệp quân sự ở Iraq, Bush diễn giải những hàm ý sâu xa hơn trong một bài phát biểu vào tháng Mười một năm 2003 đánh dấu lễ kỷ niệm lần thứ 20 của Quỹ Quốc gia hỗ trợ dân chủ. Bush chỉ trích các chính sách trong quá khứ của Mỹ ở khu vực này vì đã tìm kiếm sự ổn định với cái giá phải trả là tự do:
Việc các quốc gia phương Tây bào chữa và cho phép sự thiếu tự do ở Trung Đông trong sáu mươi năm qua đã không thể làm cho chúng ta an toàn – vì trong dài hạn, sự ổn định không thể mua được bằng cái giá của tự do.
Trong hoàn cảnh đã thay đổi của thế kỷ 21, những cách tiếp cận chính sách truyền thống đặt ra những rủi ro không thể chấp nhận. Do đó, chính quyền đã chuyển từ chính sách ổn định sang “một chiến lược thúc đẩy tự do ở Trung Đông.” Kinh nghiệm của Mỹ ở châu Âu và châu Á đã chứng minh rằng “tiến bộ tự do dẫn đến hòa bình.”
Tôi ủng hộ quyết định thực hiện thay đổi chế độ ở Iraq. Khi trình bày ở các diễn đàn công khai và của chính phủ, tôi đã có những sự lưỡng lự về việc mở rộng quyết định này tới việc xây dựng quốc gia và cho nó một phạm vi toàn cầu như vậy. Nhưng trước khi viết ra những e dè của mình, tôi muốn bày tỏ ở đây sự tôn trọng không ngừng và sự cảm mến cá nhân đối với Tổng thống George W. Bush, người đã dẫn dắt nước Mỹ với lòng dũng cảm, nhân cách, và niềm tin trong một thời đại bất ổn. Những mục tiêu và cống hiến của ông vinh danh đất nước mình ngay cả khi trong một số trường hợp chúng tỏ ra không thể đạt được trong vòng xoáy chính trị Mỹ. Nó là biểu tượng cho sự tận tụy của ông đối với Nghị trình Tự do mà Bush giờ đây đang theo đuổi trong cuộc sống của mình sau khi mãn nhiệm và đã từng biến nó thành chủ đề chính tại thư viện tổng thống của ông ở Dallas.
Trải qua thời thơ ấu của mình như là thành viên một nhóm thiểu số bị phân biệt đối xử trong một hệ thống độc tài toàn trị và sau đó là người nhập cư đến Mỹ, tôi đã trải nghiệm những khía cạnh khai phóng của các giá trị Mỹ. Truyền bá chúng bằng hình mẫu và trợ giúp dân sự như trong Kế hoạch Marshall và các chương trình viện trợ kinh tế là một phần vinh dự và quan trọng của truyền thống Mỹ. Nhưng tìm cách đạt được chúng bằng sự chiếm đóng quân sự trong một khu vực trên thế giới nơi mà chúng không có cội rễ lịch sử và mong đợi sự thay đổi cơ bản trong một khoảng thời gian thích hợp về mặt chính trị – tiêu chuẩn được nhiều người ủng hộ lẫn những người chỉ trích về nỗ lực ở Iraq đặt ra – tỏ ra nằm ngoài những gì công chúng Mỹ sẽ ủng hộ và những gì xã hội Iraq có thể dung chứa.
Được đưa ra trong bối cảnh sự chia rẽ sắc tộc ở Iraq và cuộc xung đột ngàn năm giữa hai hệ phái Sunni và Shia, lằn ranh chia cắt chạy qua trung tâm Baghdad, cố gắng đảo ngược những di sản lịch sử trong điều kiện giao tranh, giữa lúc những cuộc tranh luận trong nước đang chia rẽ nước Mỹ, đã khiến cho nỗ lực của Mỹ ở Iraq chẳng khác nào “dã tràng xe cát.” Sự chống đối kiên quyết của các chế độ láng giềng làm phức tạp thêm những khó khăn. Nó trở thành một nỗ lực không bao giờ kết thúc, luôn cách thành công chỉ trong gang tấc.
Thực hiện một nền dân chủ đa nguyên thay thế luật lệ tàn bạo của Saddam Hussein tỏ ra khó khăn hơn rất nhiều so với việc lật đổ nhà độc tài này. Những người theo hệ phái Shia, vốn bị tước quyền bầu cử suốt một thời gian dài và trở nên chai sạn sau hàng thập kỷ bị đàn áp dưới thời Hussein, có xu hướng đánh đồng dân chủ với sự chuẩn thuận cho sự thống trị đa số của họ. Những người theo hệ phái Sunni coi dân chủ như một âm mưu của nước ngoài để đàn áp họ; và do đó, hầu hết họ đã tẩy chay cuộc bầu cử năm 2004, công cụ trong việc xác định trật tự theo hiến pháp hậu chiến. Những người Kurd ở phía bắc, với ký ức khôn nguôi về những cuộc tấn công tàn sát của Baghdad, đã tăng cường khả năng quân sự riêng của mình và cố gắng kiểm soát các mỏ dầu để tạo cho mình nguồn thu nhập không phụ thuộc vào ngân khố quốc gia. Họ định nghĩa quyền tự trị với những khái niệm khác biệt cặn kẽ, nếu có, với độc lập dân tộc.
Vốn đã lên cao trong bầu không khí cách mạng và sự chiếm đóng của ngoại bang, sự giận dữ đã bị các lực lượng bên ngoài kích động và khai thác liên tục sau năm 2003: Iran hậu thuẫn các nhóm hệ phái Shia lật đổ nền độc lập của chính quyền non trẻ; Syria tiếp tay cho việc chuyển giao vũ khí và những phần tử thánh chiến đi qua lãnh thổ của mình (cuối cùng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề đối với sự gắn kết của chính nước mình); và al-Qaeda bắt đầu một chiến dịch tàn sát có hệ thống nhắm vào những người theo hệ phái Shia. Mỗi cộng đồng ngày càng coi trật tự hậu chiến như cuộc chơi tổng-bằng-không nhằm tranh giành quyền lực, lãnh thổ, và nguồn lợi dầu mỏ.
Trong bầu không khí này, quyết định can đảm của Bush vào tháng Một năm 2007 để triển khai một sự “tăng quân” nhằm bổ sung binh sĩ để dập tắt bạo lực được đáp lại bằng một nghị quyết phản đối không mang tính ràng buộc, được 246 thành viên Hạ viện ủng hộ; dù nghị quyết này thất bại về mặt thủ tục ở Thượng viện, 56 Thượng nghị sĩ đã tham gia vào việc phản đối sự tăng quân. Nhà lãnh đạo khối đa số tại Thượng viện ngay sau đó tuyên bố “cuộc chiến này đã thất bại và việc tăng quân sẽ không làm được bất kỳ điều gì.” Cũng trong tháng đó, Hạ viện và Thượng viện đã thông qua các dự luật, mà sau đó bị Tổng thống phủ quyết, yêu cầu Mỹ bắt đầu rút quân trong vòng một năm.
Có báo cáo cho rằng, Bush đã kết luận một buổi họp lập kế hoạch năm 2007 bằng câu hỏi, “Nếu chúng ta không ở đó để chiến thắng, thì tại sao chúng ta lại đang ở đó?” Điều này thể hiện sự kiên quyết trong tính cách của Tổng thống, cũng như bi kịch của một đất nước mà trong hơn nửa thế kỷ người dân đã phải sẵn sàng gửi những người con trai và con gái của mình tới những ngóc ngách xa xôi của thế giới để bảo vệ tự do, nhưng hệ thống chính trị lại không thể tập hợp được một mục đích nhất quán và bền bỉ giống như vậy. Vì trong khi sự tăng quân, được Bush táo bạo ra lệnh và được Tướng David Petraeus xuất sắc thực hiện, thành công trong việc giành được một kết quả xứng đáng khỏi một sự sụp đổ lờ mờ, tâm trạng của nước Mỹ đã thay đổi vào thời điểm này. Barack Obama giành được đề cử của đảng Dân chủ một phần nhờ vào sự phản đối mạnh mẽ của ông đối với Chiến tranh Iraq. Ngay khi nhậm chức, ông tiếp tục công khai chỉ trích người tiền nhiệm, và thực hiện một “chiến lược thoát ra” với việc nhấn mạnh vào sự rút lui hơn là chiến lược. Khi cuốn sách này được viết, Iraq đóng vai trò như một chiến trường trung tâm đang diễn ra một cuộc đối đầu phe phái trong khu vực – chính quyền nước này nghiêng về phía Iran, các thành phần dân cư theo hệ phái Sunni đang vũ trang chống lại chính phủ, thành viên của cả hai bên trong sự chia rẽ phe phái này yểm trợ những nỗ lực thánh chiến đối lập ở Syria, và nhóm khủng bố ISIL đang cố gắng xây dựng một vương triều Hồi giáo trên một nửa lãnh thổ của nước này.
Vấn đề này vượt khỏi những tranh luận chính trị về tiền đề của nó. Sự củng cố của một thực thể thánh chiến ở trung tâm thế giới Ả-rập, được trang bị với một lượng đáng kể những vũ khí cướp được và một lực lượng chiến đấu xuyên quốc gia, tham gia vào cuộc chiến tranh tôn giáo với các nhóm cực đoan theo hệ phái Shia ở Iran và Iraq, đòi hỏi phải có một phản ứng quốc tế đồng bộ và mạnh mẽ nếu không nó sẽ di căn. Một nỗ lực chiến lược được duy trì bởi Mỹ, các thành viên thường trực khác của Hội đồng Bảo an, và có khả năng là cả những đối thủ trong khu vực sẽ là cần thiết.
MỤC TIÊU VÀ TÍNH KHẢ THI
Bản chất của trật tự quốc tế là một vấn đề cần được thảo luận, khi Liên Xô nổi lên như là một thách thức đối với hệ thống các quốc gia có chủ quyền theo Hòa ước Westphalia. Khi nhìn lại sau nhiều thập kỷ, người ta có thể tranh cãi liệu rằng sự cân bằng mà Mỹ tìm kiếm có luôn là tối ưu. Nhưng thật khó để phủ nhận rằng Mỹ, trong một thế giới của các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt và biến động chính trị xã hội, đã gìn giữ hòa bình, giúp khôi phục sức sống cho châu Âu, và cung cấp viện trợ kinh tế quan trọng cho các nước mới nổi.
Chính trong việc tiến hành các cuộc chiến tranh “nóng” mà Mỹ cảm thấy khó liên kết mục đích với khả năng. Chỉ một trong năm cuộc chiến tranh mà Mỹ đã tiến hành sau Thế chiến II (Triều Tiên, Việt Nam, Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, Iraq, và Afghanistan), Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất dưới thời Tổng thống George H. W. Bush, Mỹ mới đạt được các mục tiêu đã đề ra trước khi tham chiến mà không có sự chia rẽ gay gắt trong nước. Kết cục của những cuộc xung đột còn lại – từ thế bế tắc cho tới việc đơn phương rút quân – trở nên được định trước là chủ đề của một cuộc tranh luận khác. Vì những mục tiêu hiện tại đủ để nói rằng một quốc gia đóng vai trò không thể thiếu trong việc tìm kiếm một trật tự thế giới cần phải bắt đầu nhiệm vụ bằng cách quen dần với vai trò đó và với chính mình.
Bản chất của các sự kiện lịch sử hiếm khi thật sự rõ ràng đối với những ai trải qua chúng. Cuộc Chiến tranh Iraq có thể được xem như một sự kiện mang tính xúc tác cho một sự thay đổi lớn hơn ở khu vực – mà đặc điểm chính vẫn còn chưa được biết tới và đang chờ đợi kết quả lâu dài của Mùa xuân Ả-rập, thách thức hạt nhân và địa chính trị của Iran, và cuộc tấn công thánh chiến vào Iraq và Syria. Sự ra đời của nền chính trị bầu cử ở Iraq vào năm 2004 gần như chắc chắn truyền cảm hứng cho nhu cầu về các thể chế đại diện ở những nơi khác trong khu vực; tuy nhiên điều cần xem xét là liệu chúng có thể được kết hợp với một tinh thần khoan dung và thỏa hiệp hòa bình hay không.
Khi Mỹ xem xét các bài học của các cuộc chiến tranh ở thế kỷ 21 của mình, điều quan trọng là cần nhớ rằng không một cường quốc lớn nào khác ngoài chính mình mang lại những nỗ lực chiến lược với khát khao được cảm nhận sâu sắc về cuộc sống tốt đẹp hơn cho loài người. Có một đặc điểm đặc biệt đối với một quốc gia tuyên bố mục đích chiến tranh không chỉ nhằm mục đích trừng phạt kẻ thù mà còn cải thiện cuộc sống của những người dân nơi đó – đất nước tìm chiến thắng không ở sự thống trị mà ở việc chia sẻ những thành quả của tự do. Nước Mỹ sẽ không thành thật với chính mình nếu nó từ bỏ chủ nghĩa lý tưởng thuộc bản chất này. Nó cũng sẽ không thể trấn an những người bạn (hoặc giành chiến thắng trước kẻ thù) khi gạt sang một bên khía cạnh cốt lõi như vậy trong kinh nghiệm quốc gia của mình. Nhưng để có hiệu quả, những khía cạnh đầy khát vọng đó của chính sách cần phải được kết hợp với sự phân tích không ủy mị về các nhân tố cơ bản, bao gồm cả cơ cấu văn hóa và địa chính trị của các khu vực khác cũng như sự cam kết và khéo léo của kẻ thù trong việc chống lại các lợi ích và giá trị Mỹ. Những khát vọng đạo đức của Mỹ cần được kết hợp với một cách tiếp cận có tính đến yếu tố chiến lược của chính sách trong điều kiện người Mỹ có thể ủng hộ và duy trì qua nhiều chu kỳ chính trị.
Cựu Ngoại trưởng Mỹ George Shultz đã khôn ngoan nêu rõ sự nước đôi của Mỹ:
Là một dân tộc có đạo đức, người Mỹ muốn chính sách đối ngoại của mình phản ánh các giá trị mà chúng ta tán thành với tư cách một quốc gia. Nhưng là một dân tộc thực tế, người Mỹ cũng muốn chính sách đối ngoại của mình có hiệu quả.
Các cuộc tranh luận trong nước Mỹ thường được miêu tả như là cuộc đối đầu giữa chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa thực tế. Nhưng đối với Mỹ và phần còn lại của thế giới, nếu Mỹ không thể hành động theo cả hai chủ nghĩa, kết cục có thể là nó sẽ không thể hiện thực hóa chủ nghĩa nào cả.