Trật Tự Thế Giới - Chương 09

Chương 9

CÔNG NGHỆ, CÂN BẰNG, VÀ Ý THỨC CON NGƯỜI

Mỗi thời đại có nét chủ đạo riêng của nó, một tập hợp các niềm tin lý giải vũ trụ, truyền cảm hứng hay an ủi từng cá nhân bằng cách mang đến một lời giải thích cho nhiều sự kiện tác động đến người đó. Trong thời kỳ trung cổ, đó là tôn giáo; trong thời kỳ Khai sáng, đó là lý tính; trong thế kỷ 19 và 20, đó là chủ nghĩa dân tộc kết hợp với quan điểm lịch sử như một lực đẩy. Khoa học và công nghệ là những khái niệm chi phối thời đại chúng ta. Chúng đã mang đến những tiến bộ trong đời sống con người chưa từng có trong lịch sử. Sự phát triển của chúng vượt qua những hạn chế văn hóa truyền thống. Nhưng chúng cũng đã sản xuất ra những loại vũ khí có khả năng tiêu diệt cả nhân loại. Công nghệ đã mang đến một phương tiện truyền thông cho phép liên lạc tức thời giữa các cá nhân hay các tổ chức ở mọi nơi trên địa cầu, cũng như việc lưu trữ và truy xuất số lượng lớn các thông tin chỉ bằng một cái nhấn nút. Nhưng công nghệ này cho thấy những mục đích gì? Điều gì sẽ xảy ra với trật tự quốc tế, nếu công nghệ đã trở thành một phần của cuộc sống hằng ngày đến mức nó xác định vũ trụ riêng của nó như là vũ trụ duy nhất có liên quan? Liệu sức tàn phá của công nghệ vũ khí hiện đại lớn đến mức khiến cho nỗi sợ hãi chung có thể đoàn kết toàn thể nhân loại để loại bỏ tai họa chiến tranh? Hay việc sở hữu những vũ khí này gây ra một linh cảm xấu thường trực? Liệu sự nhanh chóng và phạm vi của truyền thông sẽ phá vỡ những rào cản giữa các xã hội và các cá nhân, mang đến sự minh bạch ở một mức độ mà những ước mơ lâu đời về một cộng đồng nhân loại sẽ trở thành hiện thực? Hay điều ngược lại sẽ xảy ra: Liệu nhân loại, giữa những vũ khí hủy diệt hàng loạt, minh bạch trên mạng, và không có sự riêng tư, tự đẩy mình vào một thế giới không có giới hạn hay trật tự, chao đảo qua những cơn khủng hoảng mà không hiểu gì về chúng?

Tác giả tự thừa nhận là không có khả năng bàn thêm về các hình thức công nghệ tiên tiến; mối quan tâm của tác giả là những hàm ý của chúng.

TRẬT TỰ THẾ GIỚI TRONG THỜI ĐẠI HẠT NHÂN

Kể từ khi lịch sử bắt đầu được ghi nhận, các thực thể chính trị – dù có được miêu tả như là các quốc gia hay không – có toàn quyền sử dụng chiến tranh như sự trông cậy cuối cùng. Tuy nhiên, công nghệ cũng có thể hạn chế quy mô của chiến tranh. Những quốc gia hùng mạnh nhất và được vũ trang tốt nhất chỉ có thể phô trương sức mạnh trên những khoảng cách hạn chế, với số lượng nhất định và trước rất nhiều mục tiêu. Những nhà lãnh đạo tham vọng bị hạn chế bởi cả quy ước và tình trạng công nghệ truyền thông. Những tiến trình hành động cấp tiến bị giới hạn bởi tốc độ mà chúng diễn ra. Những chỉ dẫn ngoại giao bị buộc phải tính đến các tình huống bất trắc có thể xảy ra trong thời gian mà một thông điệp có thể đi hết một vòng. Điều này đặt ra một khoảng lặng định sẵn để suy ngẫm và thừa nhận có sự cách biệt giữa những gì các nhà lãnh đạo có thể và không thể kiểm soát.

Có hay không một sự cân bằng quyền lực giữa các quốc gia được vận hành như một nguyên tắc chính thức, hay chỉ đơn giản được thực thi mà không được xây dựng chi tiết về mặt lý thuyết, trạng thái cân bằng dưới hình thức nào đó là một thành phần thiết yếu của bất kỳ trật tự quốc tế nào – hoặc ở vùng ngoại biên như với các đế chế La Mã và Trung Quốc, hoặc là một nguyên tắc vận hành cốt lõi như ở châu Âu.

Với cuộc cách mạng công nghiệp, tốc độ thay đổi tăng nhanh chóng và sức mạnh phô trương bởi quân đội hiện đại trở nên có sức tàn phá lớn hơn. Khi khoảng cách công nghệ trở nên rất lớn, thậm chí công nghệ thô sơ – theo các tiêu chuẩn hiện nay – trên thực tế cũng có thể mang tính chất diệt chủng. Công nghệ châu Âu và những bệnh tật châu Âu đã xóa sổ các nền văn minh từng tồn tại ở châu Mỹ. Sự hứa hẹn những hiệu quả mới dẫn đến những sức tàn phá tiềm tàng mới, như tác động của chế độ cưỡng bách tòng quân hàng loạt nhân hiệu ứng phức hợp của công nghệ lên nhiều lần.

Sự ra đời của vũ khí hạt nhân đưa quá trình này lên tới đỉnh điểm. Trong Thế chiến II, các nhà khoa học từ các cường quốc lớn miệt mài nghiên cứu để làm chủ được và cùng với nó là khả năng giải phóng năng lượng của nguyên tử. Được biết đến như là Dự án Manhattan và thu hút những bộ óc vĩ đại nhất từ Mỹ, Anh, và cộng đồng người châu Âu hải ngoại, nỗ lực của Mỹ đã thắng thế. Sau thử nghiệm nguyên tử thành công đầu tiên vào tháng Bảy năm 1945 ở vùng sa mạc New Mexico, J. Robert Oppenheimer, nhà vật lý lý thuyết phụ trách nỗ lực phát triển vũ khí bí mật này, đã sững sờ trước thành công của mình, và hồi tưởng lại một câu trong Chí Tôn ca: “Giờ đây ta là Thần chết, kẻ hủy diệt thế giới.”

Trong những giai đoạn trước đây, các cuộc chiến tranh luôn có một sự tính toán ngầm: những lợi ích của chiến thắng vượt hơn tổn thất của cuộc chiến và bên yếu hơn chiến đấu để gây ra những tổn thất như vậy đối với bên mạnh hơn nhằm làm nhiễu loạn phương trình này. Các liên minh được thành lập để tăng thêm sức mạnh, nhằm không để lại chút nghi ngờ nào về sự liên kết lực lượng, và để xác định lý do gây chiến (trong chừng mực việc loại bỏ nghi ngờ về những ý định cuối cùng là có thể được trong một xã hội của các quốc gia có chủ quyền). Những thiệt hại của cuộc xung đột quân sự được cân nhắc ít hơn so với những thiệt hại nếu thất bại. Ngược lại, thời đại hạt nhân dựa trên một vũ khí mà việc sử dụng nó sẽ gây ra những thiệt hại quá lớn so với bất kỳ lợi ích nào có thể tưởng tượng được.

Thời đại hạt nhân đặt ra tình thế nan giải về việc làm thế nào để đưa tính chất phá hoại của vũ khí hiện đại vào mối quan hệ đạo đức hay chính trị với những mục tiêu đang được theo đuổi. Triển vọng cho bất kỳ hình thức trật tự quốc tế nào – trên thực tế vì sự sống còn của loài người – giờ đây khẩn thiết đòi hỏi sự cải thiện, nếu không muốn nói là xóa bỏ cuộc xung đột giữa các cường quốc lớn. Một giới hạn lý thuyết đã được tìm kiếm – ngay trước thời điểm một trong hai siêu cường sử dụng toàn bộ khả năng quân sự của mình.

Sự ổn định chiến lược được định nghĩa như là một sự cân bằng, trong đó không bên nào sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt bởi vì đối thủ luôn có khả năng gây ra một mức độ tàn phá không thể chấp nhận được để trả đũa. Trong một loạt các cuộc hội thảo tại Đại học Harvard, Caltech, Viện Công nghệ Massachusetts, và tổ chức tư vấn chính sách Rand Corporation cũng như ở các nơi khác trong những năm 1950 và 1960, một học thuyết về “sử dụng hạn chế” được thăm dò để giới hạn vũ khí hạt nhân trên chiến trường hoặc cho các mục tiêu quân sự. Tất cả những nỗ lực lý thuyết như vậy đã thất bại; bất kỳ giới hạn nào được tưởng tượng, một khi ngưỡng chiến tranh hạt nhân bị vượt qua, công nghệ hiện đại sẽ không đếm xỉa đến những giới hạn có thể nhận thấy được và luôn cho phép đối thủ leo thang. Sau cùng, các chiến lược gia ở cả hai bên thống nhất với nhau, ít nhất là theo ngụ ý, về khái niệm cùng tận diệt như là cơ chế của hòa bình trong thời đại hạt nhân. Dựa trên tiền đề rằng cả hai bên đều sở hữu một kho vũ khí hạt nhân có khả năng trụ qua được một cuộc tấn công phủ đầu, mục tiêu là đối trọng bằng những mối đe dọa đủ khiếp sợ khiến không bên nào nghĩ đến việc thực sự cần đến chúng.

Đến cuối những năm 1960, học thuyết chiến lược thịnh hành của mỗi siêu cường dựa trên khả năng giáng một mức độ thiệt hại “không thể chấp nhận được” lên đối thủ giả định. Tất nhiên, không thể biết những gì đối thủ sẽ coi là không thể chấp nhận được; hay sự phán đoán này được truyền đạt ra sao.

Một đặc tính khác thường ám ảnh tính toán răn đe này, dựa trên những phương trình “hợp lý” của các kịch bản đặt mức độ thương vong diễn ra chỉ trong vài ngày hoặc thậm chí vài giờ và vượt quá những gì phải chịu đựng trong bốn năm của các cuộc thế chiến. Vì chưa hề có kinh nghiệm trước đây với các vũ khí yểm trợ cho những mối đe dọa này, sự răn đe phụ thuộc phần lớn vào khả năng tác động đến tâm lý đối thủ. Những năm 1950, khi Mao nói Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận hy sinh hàng trăm triệu người trong một cuộc chiến tranh hạt nhân, tuyên bố này được phần lớn phương Tây coi như triệu chứng của sự xáo trộn cảm xúc hay tư tưởng. Trên thực tế, đây có lẽ là kết quả của một sự tính toán nghiêm túc nhằm trụ vững trước những năng lực quân sự vượt xa kinh nghiệm trước đây của loài người, một quốc gia cần biểu thị sự sẵn sàng hy sinh vượt quá sự hiểu biết của con người. Trong bất kỳ trường hợp nào, các thủ đô phương Tây và khối Hiệp ước Warsaw đã bị sốc khi tuyên bố này đã phớt lờ những khái niệm riêng của các siêu cường về sự răn đe dựa trên nguy cơ ngày tận thế. Thậm chí nếu diễn đạt tinh tế hơn, học thuyết cùng tận diệt dựa trên lời xác nhận rằng các nhà lãnh đạo đang hành động vì lợi ích của hòa bình bằng cách cố ý đặt người dân của họ vào tình thế nguy hiểm của mối đe dọa hủy diệt.

Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để tránh tình thế nan giải của việc sở hữu một kho vũ khí khổng lồ mà không thể sử dụng, và việc sử dụng nó thậm chí không thể dùng để đe dọa một cách đáng tin. Các kịch bản chiến tranh phức tạp đã được vạch ra. Nhưng theo như tôi biết – và trong một số thời điểm của giai đoạn này tôi đã ở vị trí được biết – không bên nào từng tiếp cận đến điểm thật sự sử dụng vũ khí hạt nhân trong một cuộc khủng hoảng cụ thể giữa hai siêu cường. Ngoại trừ cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, khi một sư đoàn chiến đấu Xô-viết ban đầu được cho phép sử dụng vũ khí hạt nhân để tự vệ, thì không bên nào tiếp cận việc sử dụng chúng, hoặc để chống lại nhau, hoặc trong các cuộc chiến tranh với các nước thứ ba phi hạt nhân.

Theo cách này, dù chiếm phần lớn ngân sách quốc phòng của mỗi siêu cường, những loại vũ khí đáng sợ nhất này mất đi tính phù hợp với các cuộc khủng hoảng thực sự mà các nhà lãnh đạo phải đối mặt. Cùng tự sát đã trở thành cơ chế của trật tự quốc tế. Trong Chiến tranh Lạnh, khi hai bên Washington và Moscow thách thức lẫn nhau, nó được tiến hành thông qua các cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Tại cực điểm của kỷ nguyên hạt nhân, chính các lực lượng quy ước mới đóng vai trò quan trọng then chốt. Những cuộc đấu tranh quân sự thời gian đó diễn ra trên những vùng ngoại vi xa xôi – Inchon, vùng đồng bằng sông Cửu Long, Luanda, Iraq, và Afghanistan. Thành công được đo bằng tính hiệu quả trong việc hỗ trợ các đồng minh bản địa ở các nước đang phát triển. Trong ngắn hạn, tuy không thể sánh với các mục tiêu chính trị có thể hình dung được, nhưng những kho vũ khí chiến lược của các cường quốc lớn tạo ra một ảo tưởng về sức mạnh tuyệt đối vốn đã bị tiến trình thực tế của chiến tranh chứng minh là sai lầm.

Chính trong bối cảnh này mà vào năm 1969, Tổng thống Nixon bắt đầu các cuộc đàm phán chính thức với Liên Xô về việc giới hạn vũ khí chiến lược (viết tắt là SALT). Chúng dẫn đến một thỏa thuận năm 1972 thiết lập một mức trần đối với việc tăng cường vũ khí tấn công, và hạn chế số lượng giàn tên lửa chống tên lửa đạn đạo của mỗi siêu cường xuống còn một (trên thực tế biến chúng thành những địa điểm huấn luyện vì một sự triển khai chống tên lửa đạn đạo đầy đủ đối với Mỹ theo đề xuất ban đầu của Nixon năm 1969 sẽ cần phải có 12 giàn). Do Nghị viện Mỹ từ chối phê chuẩn phòng thủ tên lửa nhiều hơn hai giàn, sự răn đe do đó cần phải dựa trên cùng tận diệt. Vì theo chiến lược đó, các vũ khí hạt nhân tấn công của mỗi bên là đủ – trên thực tế còn nhiều hơn thế – để gây ra một mức độ thương vong không thể hình dung được. Không có phòng thủ tên lửa sẽ loại bỏ bất kỳ sự bất định nào khỏi tính toán này, đảm bảo sự răn đe lẫn nhau và cả sự phá hủy xã hội, nếu răn đe thất bại.

Năm 1986, tại hội nghị thượng đỉnh Reykjavík, Reagan đảo ngược cách tiếp cận cùng tận diệt. Ông đề xuất bãi bỏ tất cả các loại vũ khí tấn công của cả hai bên và xé bỏ Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo, do đó cho phép một hệ thống phòng thủ. Mục đích của ông là từ bỏ khái niệm cùng tận diệt bằng cách cấm các hệ thống tấn công và giữ các hệ thống phòng thủ như một sự đảm bảo chống lại những vi phạm. Nhưng do tin nhầm rằng chương trình phòng thủ tên lửa của Mỹ đang tiến triển tốt, trong khi Liên Xô không có một cơ sở kinh tế công nghệ tương đương nào nên sẽ không thể theo kịp, Gorbachev đã kiên quyết duy trì Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo. Trên thực tế, Liên Xô từ bỏ cuộc đua vũ khí chiến lược ba năm sau đó, kết thúc Chiến tranh Lạnh.

Kể từ đó, số lượng đầu đạn hạt nhân tấn công chiến lược đã được cắt giảm, đầu tiên dưới thời Tổng thống George W. Bush và sau đó dưới thời Tổng thống Obama, theo thỏa thuận với Nga xuống còn khoảng 1.500 đầu đạn hạt nhân mỗi bên – khoảng 10% số lượng đầu đạn hạt nhân có tại đỉnh điểm của chiến lược cùng tận diệt. (Số lượng giảm nhiều hơn mức cần thiết để có thể thực hiện một chiến lược cùng tận diệt.)

Sự cân bằng hạt nhân đã tạo ra một tác động nghịch lý đối với trật tự quốc tế. Sự cân bằng quyền lực trong lịch sử đã thúc đẩy sự thống trị của phương Tây đối với thế giới thuộc địa khi đó; ngược lại, trật tự hạt nhân – do riêng phương Tây tạo ra – đã có tác dụng ngược. Chênh lệch về ưu thế quân sự của các nước tiên tiến so với các nước đang phát triển đã lớn hơn rất nhiều mà không một giai đoạn lịch sử nào trước đó có thể sánh được. Nhưng do rất nhiều nỗ lực quân sự của họ đã được dành cho vũ khí hạt nhân, mà việc sử dụng chúng không gì khác ngoài cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất hoàn toàn không được tính đến, các quốc gia khu vực có thể khôi phục sự cân bằng quân sự tổng thể bằng chiến lược hướng đến việc kéo dài bất kỳ cuộc chiến tranh nào vượt xa ý chí sẵn sàng duy trì nó của công chúng ở các nước “tiên tiến” – như Pháp với kinh nghiệm ở Algeria và Việt Nam; Mỹ ở Triều Tiên, Việt Nam, Iraq, và Afghanistan; và Liên Xô ở Afghanistan. (Trên thực tế, ngoại trừ Triều Tiên, tất cả các cuộc chiến tranh này dẫn đến kết quả một sự rút quân đơn phương của cường quốc về mặt chính thức thì mạnh hơn nhiều, sau cuộc xung đột kéo dài với các lực lượng quy ước.) Chiến tranh bất đối xứng vận hành trong các kẽ hở của những học thuyết truyền thống về những chiến dịch liên tiếp nhắm vào lãnh thổ của kẻ thù. Do không bảo vệ lãnh thổ nào, lực lượng du kích có thể tập trung vào việc gây thương vong và làm xói mòn ý chí chính trị của công chúng về việc tiếp tục cuộc xung đột. Theo ý nghĩa này, ưu thế công nghệ trở thành sự bất lực địa chính trị.

THÁCH THỨC TỪ SỰ PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN

Với sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh, mối đe dọa về chiến tranh hạt nhân giữa các siêu cường hạt nhân hiện tại về cơ bản đã biến mất. Nhưng sự lan truyền của công nghệ – đặc biệt là công nghệ để sản xuất năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình – đã làm gia tăng đáng kể tính khả thi của việc đạt được năng lực vũ khí hạt nhân. Sự khoét sâu thêm những lằn ranh chia rẽ ý thức hệ và sự dai dẳng của các cuộc xung đột khu vực chưa được giải quyết đã phóng đại những động cơ để có được vũ khí hạt nhân, kể cả đối với những quốc gia bất hảo hay những nhóm phi nhà nước. Những tính toán về việc cùng mất an ninh dẫn đến sự kiềm chế trong Chiến tranh Lạnh không áp dụng với bất kỳ điều gì ở mức độ tương tự – nếu có – đối với những thực thể mới tham gia trong lĩnh vực hạt nhân và thậm chí ở mức độ thấp hơn thế đối với các nhóm phi nhà nước. Phổ biến vũ khí hạt nhân đã trở thành một vấn đề chiến lược tổng thể đối với trật tự quốc tế hiện đại.

Để đối phó với những nguy cơ này, Mỹ, Liên Xô, và Anh đã đàm phán và ký kết một Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) vào năm 1968. Hiệp ước đề xuất ngăn chặn bất kỳ sự lan truyền vũ khí hạt nhân nào xa hơn (Mỹ, Liên Xô, và Anh ký vào năm 1968, Pháp và Trung Quốc ký vào năm 1992). Các quốc gia không sở hữu vũ khí hạt nhân sẽ được các quốc gia sở hữu hạt nhân trợ giúp trong việc sử dụng công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình, với điều kiện các quốc gia này chấp nhận những biện pháp bảo vệ để đảm bảo các chương trình hạt nhân của họ là những hoạt động hoàn toàn phi quân sự. Khi cuốn sách này được viết, có 189 nước ký vào thỏa thuận không phổ biến vũ khí hạt nhân.

Tuy nhiên, chế độ không phổ biến vũ khí hạt nhân trên toàn cầu đã gặp khó khăn trong việc tự khắc sâu như là một chuẩn mực quốc tế đúng đắn. Bị một số quốc gia đả kích như là một hình thức “phân biệt chủng tộc hạt nhân” và nhiều quốc gia coi như là sự ấn định của các nước giàu, những giới hạn của NPT đã thường xuyên vận hành như một tập hợp các nguyện vọng mà các quốc gia phải được dụ dỗ để thực hiện chứ không phải là một nghĩa vụ pháp lý ràng buộc. Sự phát triển trái phép tiến tới vũ khí hạt nhân đã tỏ ra rất khó phát hiện và khó cưỡng lại, vì các bước ban đầu của nó giống hệt với sự phát triển năng lượng hạt nhân cho việc sử dụng vì mục đích hòa bình được NPT cho phép rõ ràng. Hiệp ước này cấm nhưng không ngăn chặn được các quốc gia ký kết như Libya, Syria, Iraq, và Iran khỏi việc duy trì những chương trình hạt nhân bí mật vi phạm các biện pháp bảo vệ của NPT, hoặc trong trường hợp của Bắc Triều Tiên đã rút khỏi NPT vào năm 2003, thử nghiệm và phát triển công nghệ hạt nhân mà không được quốc tế kiểm soát.

Trong trường hợp một quốc gia đã vi phạm hoặc bác bỏ các điều khoản của NPT, do dự ở bên lề của việc tuân thủ, hay chỉ đơn giản là từ chối công nhận tính hợp pháp của việc không phổ biến vũ khí hạt nhân như là một tiêu chuẩn quốc tế, không có một chế tài quốc tế nào được quy định để ép buộc quốc gia này phải thực thi. Cho đến nay, hành động tấn công phủ đầu mới chỉ được Mỹ thực hiện khi đánh Iraq – một động cơ góp phần cho cuộc chiến chống lại Saddam Hussein – và Israel khi chống lại Iraq và Syria; Liên Xô cân nhắc hành động này đối với Trung Quốc trong những năm 1960, cuối cùng đã kiềm chế.

Chế độ không phổ biến vũ khí hạt nhân đã có một số thành công đáng kể trong việc dẫn đến sự tháo dỡ các chương trình hạt nhân thông qua đàm phán. Nam Phi, Brazil, Argentina, và một số nước cộng hòa “hậu Xô-viết” đã từ bỏ những chương trình vũ khí hạt nhân mà vốn dĩ đã hoàn thành hoặc có nhiều tiến bộ kỹ thuật quan trọng. Đồng thời, kể từ khi chấm dứt sự độc quyền của Mỹ vào năm 1949, các nước Liên Xô/Nga, Anh, Pháp, Israel, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bắc Triều Tiên đã có vũ khí hạt nhân, và Iran thì đạt được ở một mức độ nào đó. Hơn nữa, Pakistan và Bắc Triều Tiên đã phổ biến rộng rãi bí quyết hạt nhân của họ.

Phổ biến vũ khí hạt nhân đã có tác động đối với trạng thái cân bằng hạt nhân theo một cách khác, tùy thuộc vào sự sẵn sàng (được cảm nhận) của các quốc gia hạt nhân mới trong việc sử dụng vũ khí của mình. Năng lực hạt nhân của Anh và Pháp được bổ sung vào kho vũ khí của NATO nhưng không nhiều. Chúng chủ yếu được coi như một phương sách cuối cùng, như một mạng lưới an toàn trong trường hợp bị Mỹ bỏ rơi, nếu một số cường quốc lớn đe dọa những gì mà Anh và Pháp coi là lợi ích quốc gia cơ bản, hoặc như một phương tiện để tránh xa cuộc chiến tranh hạt nhân giữa các siêu cường – tất cả về cơ bản đều là những tình huống bất trắc xa vời. Các cơ sở hạt nhân của Ấn Độ và Pakistan, ban đầu hướng trực tiếp vào nhau, đang tác động đến trạng thái cân bằng chiến lược theo hai cách. Những rủi ro của sự leo thang có thể làm giảm khả năng xảy ra chiến tranh quy ước toàn diện trên Tiểu lục địa này. Nhưng do các hệ thống vũ khí này rất dễ bị tổn thương, và về mặt kỹ thuật rất khó để bảo vệ trước những cuộc tấn công tầm ngắn, sự cám dỗ trong việc đánh đòn phủ đầu là cố hữu với công nghệ này, đặc biệt trong các tình huống khi cảm xúc đã dâng cao. Nói tóm lại, phổ biến vũ khí hạt nhân dẫn đến tình thế tiến thoái lưỡng nan cổ điển: ngay cả khi vũ khí hạt nhân làm giảm khả năng chiến tranh, nó cũng sẽ phóng đại nhiều lần sự tàn bạo của mình nếu chiến tranh xảy ra.

Mối quan hệ hạt nhân của Ấn Độ với Trung Quốc có lẽ gần tương tự sự phô diễn răn đe từng có giữa các đối thủ trong Chiến tranh Lạnh; đó là hai quốc gia này sẽ có xu hướng tiến tới ngăn chặn việc sử dụng chúng. Cơ sở hạt nhân của Pakistan có ảnh hưởng tới các vấn đề khu vực và toàn cầu rộng lớn hơn. Tiếp giáp với Trung Đông và có sự hiện diện đáng kể của cộng đồng Hồi giáo trong nước, Pakistan đôi khi đã ám chỉ vai trò người bảo vệ hạt nhân hoặc nhà sản xuất vũ khí hạt nhân. Tác động của sự phổ biến vũ khí hạt nhân cho Iran sẽ làm phức tạp thêm những vấn đề này – như đã được thảo luận ở Chương 4.

Thậm chí theo thời gian, sự phổ biến không ngừng vũ khí hạt nhân sẽ ảnh hưởng đến sự cân bằng hạt nhân tổng thể giữa các siêu cường hạt nhân. Các nhà lãnh đạo của những cường quốc hạt nhân lâu đời có nghĩa vụ phải chuẩn bị cho những tình huống tồi tệ nhất. Đó là khả năng đưa ra các mối đe dọa hạt nhân không chỉ từ siêu cường khác, mà còn từ những quốc gia phổ biến vũ khí hạt nhân. Kho vũ khí của họ sẽ phản ánh niềm tin rằng ngoài việc răn đe đối thủ tiềm năng chính, họ còn cần phải có một lượng dự trữ để đối phó với những phần còn lại trên thế giới được phổ biến vũ khí hạt nhân. Nếu mỗi cường quốc hạt nhân lớn tính toán theo cách này, sự phổ biến vũ khí hạt nhân sẽ thúc đẩy một sự gia tăng tương ứng trong lượng dự trữ, dẫn đến kéo căng hoặc vượt quá những giới hạn hiện tại. Hơn nữa, những cân bằng hạt nhân chồng chéo này sẽ ngày càng trở nên phức tạp hơn khi sự phổ biến vũ khí hạt nhân vẫn tiếp tục. Trật tự hạt nhân tương đối ổn định của thời Chiến tranh Lạnh sẽ bị thay thế bởi một trật tự quốc tế, trong đó một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân thể hiện hình ảnh sẵn sàng đưa ra những quyết định kiểu ngày tận thế có thể có một lợi thế tai ác hơn các đối thủ.

Để có một mạng lưới an toàn chống lại các siêu cường hạt nhân, ngay cả những quốc gia có khả năng hạt nhân cũng có động cơ náu mình dưới sự bảo trợ ngầm hoặc công khai của một siêu cường (các ví dụ là Israel, các lực lượng hạt nhân châu Âu, Nhật Bản với ngưỡng khả năng hạt nhân của mình, các quốc gia đang phổ biến hoặc tiến gần tới phổ biến vũ khí hạt nhân ở Trung Đông). Do đó, có thể có khả năng sự phổ biến vũ khí hạt nhân sẽ dẫn đến hệ thống các liên minh quân sự với mức độ cứng rắn tương đương với những liên minh đã dẫn đến Thế chiến I, thậm chí vượt xa những liên minh này về phạm vi toàn cầu và sức mạnh hủy diệt.

Sự mất cân bằng đặc biệt nghiêm trọng có thể xảy ra nếu một quốc gia đã phổ biến vũ khí hạt nhân tiến gần tới khả năng tấn công quân sự đối với hai siêu cường hạt nhân (một việc mà cả Trung Quốc và Ấn Độ dường như có thể đạt được). Bất kỳ một quốc gia hạt nhân lớn nào, nếu thành công trong việc tránh xa cuộc xung đột hạt nhân giữa những quốc gia khác, sẽ nổi lên như là một quốc gia có khả năng chi phối. Trong một thế giới hạt nhân đa cực, điều đó cũng có thể xảy ra nếu một quốc gia như vậy liên kết với một trong hai siêu cường, vì sau đó các lực lượng phối hợp có thể có một lợi thế chiến lược. Vì thế sự cân bằng hạt nhân sơ khai tồn tại giữa hai siêu cường hiện nay có thể nghiêng khỏi sự ổn định chiến lược; mức độ thỏa thuận giữa các lực lượng tấn công giữa Nga và Mỹ càng thấp thì điều này càng có khả năng trở thành sự thật.

Bất kỳ sự phổ biến nào xa hơn nữa của vũ khí hạt nhân sẽ làm nhân lên các nguy cơ đối đầu hạt nhân; nó phóng đại tính chất nguy hiểm của sự chệch hướng, cố ý, hay trái phép. Điều này cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa các siêu cường hạt nhân. Và khi sự phát triển của vũ khí hạt nhân lan sang Iran và tiếp tục ở Bắc Triều Tiên – bất chấp tất cả các cuộc đàm phán đang diễn ra – các quốc gia khác càng có động cơ đi theo cũng con đường đó.

Đối mặt với những xu hướng này, Mỹ cần phải liên tục xem xét lại công nghệ của mình. Trong Chiến tranh Lạnh, công nghệ hạt nhân được thừa nhận rộng rãi như thành tựu khoa học hàng đầu của Mỹ – một biên giới của kiến thức đặt ra những thách thức quan trọng và chiến lược nhất khi đó. Giờ đây những bộ óc khoa học tốt nhất được động viên để nỗ lực cống hiến cho công nghệ hạt nhân, thay vì cho các dự án được cho là liên quan nhiều hơn đến cộng đồng. Có lẽ một phần do nguyên nhân này, sự hạn chế phát triển công nghệ hạt nhân được coi là không thể lay chuyển, cho dù các quốc gia đang phổ biến vũ khí hạt nhân tăng cường vũ trang và các quốc gia khác nâng cấp công nghệ của họ. Mỹ phải duy trì vị trí dẫn đầu trong công nghệ hạt nhân, ngay cả khi nước này tiến hành đàm phán về việc hạn chế sử dụng nó.

Từ góc nhìn về việc không hề có một cuộc xung đột giữa các cường quốc lớn trong nửa thế kỷ qua, có thể lập luận rằng vũ khí hạt nhân đã khiến cho thế giới ít thiên về chiến tranh hơn. Nhưng song song với việc số lượng các cuộc chiến tranh giảm đi, có sự gia tăng lớn về bạo lực do các nhóm phi nhà nước hoặc các quốc gia thực hiện dưới vỏ bọc không phải chiến tranh. Sự kết hợp giữa rủi ro bất thường và cực đoan về ý thức hệ đã dẫn đến nguy cơ chiến tranh bất đối xứng, và những thách thức từ các nhóm phi nhà nước làm suy yếu sự kiềm chế trong dài hạn.

Có lẽ, thách thức quan trọng nhất đối với các cường quốc hạt nhân lâu đời là xác định phản ứng của mình nếu vũ khí hạt nhân thực sự được các quốc gia đang sản xuất vũ khí hạt nhân sử dụng để chống lại nhau. Đầu tiên, những gì phải được thực hiện để ngăn chặn việc sử dụng vũ khí hạt nhân liệu có vượt ra ngoài các thỏa thuận hiện hành? Nếu chúng vẫn được sử dụng, những bước đi nào ngay lập tức phải được thực hiện để ngăn chặn một cuộc chiến tranh như vậy? Thiệt hại về con người và xã hội có thể được giải quyết như thế nào? Phải làm gì để ngăn chặn sự leo thang trả đũa trong khi vẫn duy trì cơ sở vững chắc của việc răn đe và áp đặt những hậu quả thích hợp nếu răn đe thất bại? Quá trình phát triển tiến bộ công nghệ không được che giấu tính chất đáng sợ của những khả năng mà nhân loại đã phát minh và sự mong manh tương đối của những cân bằng kiềm chế việc sử dụng chúng. Vũ khí hạt nhân không được phép hóa thành vũ khí thông thường. Trong tình hình đó, trật tự quốc tế đòi hỏi một sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia hạt nhân lớn hiện tại trong việc kiên quyết không phổ biến hạt nhân, nếu không trật tự sẽ buộc phải bị áp đặt bằng những thảm họa của chiến tranh hạt nhân.

CÔNG NGHỆ ẢO VÀ TRẬT TỰ THẾ GIỚI

Trong hầu hết lịch sử, thay đổi công nghệ diễn ra qua hàng thập kỷ và thế kỷ, tiến bộ qua từng bước tinh chỉnh và kết hợp những công nghệ hiện có. Ngay cả những đổi mới sáng tạo triệt để theo thời gian cũng có thể phù hợp với các học thuyết chiến thuật và chiến lược trước đó: xe tăng được tính toán từ những hạn chế tiền lệ rút ra từ nhiều thế kỷ của chiến tranh kỵ binh; máy bay có thể được định nghĩa như là một hình thức khác của pháo binh, chiến hạm như pháo đài di động, và tàu sân bay như đường băng. Với tất cả độ phóng đại về sức mạnh hủy diệt của chúng, thậm chí vũ khí hạt nhân ở góc độ nào đó cũng là phép ngoại suy từ kinh nghiệm trước đó.

Điểm mới trong thời đại hiện nay là tốc độ thay đổi trong sức mạnh tính toán và sự mở rộng của công nghệ thông tin vào mọi lĩnh vực của sự sống. Trong những năm 1960, dựa trên kinh nghiệm của mình khi còn là kỹ sư tại Công ty Intel, Gordon Moore kết luận rằng ông đã thấy một xu hướng sẽ tiếp tục theo những khoảng thời gian bằng nhau, đó là tốc độ của các bộ xử lý máy tính tăng gấp đôi mỗi hai năm. “Định luật Moore” đã tỏ ra có tính tiên tri đáng kinh ngạc. Máy tính đã giảm về cả kích thước lẫn chi phí và nhanh hơn theo cấp số nhân, đến mức các bộ vi xử lý máy tính tân tiến giờ đây có thể được gắn vào hầu hết các đồ vật – điện thoại, đồng hồ, xe hơi, đồ gia dụng, hệ thống vũ khí, máy bay không người lái, và trên chính cơ thể con người.

Cuộc cách mạng tin học là cuộc cách mạng đầu tiên đưa rất nhiều các cá nhân và quá trình vào cùng một phương tiện truyền thông, biến đổi và theo dõi hành động của họ theo một ngôn ngữ công nghệ duy nhất. Không gian ảo – một từ mới được đặt ra, vào thời điểm đó như là một khái niệm về cơ bản mang tính giả thuyết, chỉ trong những năm 1980 – đã xâm chiếm không gian vật lý và đang bắt đầu hợp nhất với nó, ít nhất là tại các trung tâm đô thị lớn. Truyền đạt thông tin qua không gian ảo và giữa các nút mạng gia tăng theo cấp số nhân của nó là gần như tức thời. Khi những công việc mà chủ yếu là thủ công hoặc trên giấy cách đây một thế hệ – đọc sách, mua sắm, học hành, giao lưu bạn bè, nghiên cứu công nghiệp và khoa học, các chiến dịch chính trị, tài chính, lưu giữ hồ sơ chính phủ, giám sát, chiến lược quân sự – được lọc qua lĩnh vực điện toán, hoạt động của con người ngày càng trở nên “được dữ liệu hóa” và là một phần của một hệ thống duy nhất “định lượng được và phân tích được.”

Hơn tất cả, với số lượng thiết bị kết nối Internet hiện nay khoảng 10 tỉ và dự kiến tăng lên 50 tỉ vào năm 2020, một “Internet kết nối mọi thứ” lờ mờ hiện ra. Các nhà sáng tạo giờ đây dự báo một thế giới của việc sử dụng máy tính ở khắp mọi nơi, với những thiết bị xử lý dữ liệu thu nhỏ được gắn vào các đồ vật hằng ngày – “ổ khóa cửa thông minh, bàn chải đánh răng, đồng hồ đeo tay, theo dõi tập thể dục, báo cháy, camera giám sát, lò nướng, đồ chơi, và robot” – hoặc lơ lửng trong không khí, bao quát và định hình môi trường của chúng dưới hình thức “đám mây thông minh.” Mỗi đồ vật sẽ được kết nối với Internet và được lập trình để giao tiếp với một máy chủ trung tâm hoặc các thiết bị nối mạng khác.

Những hiệu ứng của cuộc cách mạng này mở rộng đến mọi cấp độ trong việc tổ chức, sắp xếp con người. Từng cá nhân cầm trên tay chiếc điện thoại thông minh (và theo ước tính gần đây có khoảng một tỉ người như vậy) giờ đây sở hữu thông tin và khả năng phân tích vượt xa tầm của nhiều cơ quan tình báo cách đây một thế hệ. Các tập đoàn tập hợp và theo dõi dữ liệu do những cá nhân này trao đổi với nhau, nắm quyền ảnh hưởng và giám sát vượt xa nhiều quốc gia hiện đại và thậm chí cả các cường quốc truyền thống. Và các chính phủ, vì đề phòng việc bị mất những lĩnh vực mới này vào tay đối thủ, đã bị đẩy vào lĩnh vực không gian mạng mà hầu như chưa hề có sự hướng dẫn hay sự kiềm chế nào. Như với bất kỳ đổi mới công nghệ nào, sự cám dỗ nằm ở chỗ coi lĩnh vực mới này như một lĩnh vực để giành lợi thế chiến lược.

Những thay đổi này đã xảy ra quá nhanh, tới mức vượt xa hầu hết nỗ lực của những người không có chuyên môn kỹ thuật nên không thể hiểu được hậu quả sâu rộng của chúng. Chúng đưa nhân loại vào những lĩnh vực cho đến nay vẫn chưa giải thích được, thực sự chưa hình dung được. Kết quả là, nhiều trong số những công nghệ và kỹ thuật mang tính cách mạng nhất gần đây bị giới hạn sử dụng bởi năng lực và sự thận trọng của những quốc gia tiên tiến nhất về công nghệ.

Không chính phủ nào, kể cả chính phủ độc tài toàn trị nhất, có thể chặn lại dòng chảy này hoặc chống lại xu hướng đẩy nhanh hơn bao giờ hết các hoạt động của mình sang lĩnh vực kỹ thuật số. Hầu hết các nền dân chủ đều có bản năng cố hữu mà một nỗ lực ngăn chặn những tác động của cuộc cách mạng thông tin sẽ là điều không thể và có lẽ cũng vô đạo đức. Hầu hết các quốc gia bên ngoài thế giới tự do-dân chủ đã gạt nỗ lực ngăn cản những thay đổi sang một bên và chuyển sang làm chủ chúng. Mỗi quốc gia, công ty, và cá nhân giờ đây đang gia nhập vào cuộc cách mạng công nghệ như một chủ thể hoặc như một khách thể. Đối với mục đích của cuốn sách này, điều quan trọng là tác động đối với triển vọng về trật tự quốc tế.

Thế giới hiện nay thừa hưởng di sản vũ khí hạt nhân có khả năng phá hủy cuộc sống văn minh. Nhưng dù hậu quả của chúng có thảm khốc như thế nào, ý nghĩa của chúng và việc sử dụng chúng vẫn có thể được phân tích theo các chu kỳ chiến tranh và hòa bình tách rời nhau. Công nghệ Internet mới này mở ra những viễn cảnh hoàn toàn mới. Không gian ảo thách thức tất cả các kinh nghiệm lịch sử. Nó phổ biến khắp mọi nơi nhưng không mang tính chất đe dọa; mối đe dọa của nó phụ thuộc vào cách nó được sử dụng. Những mối đe dọa đang xuất hiện từ không gian mạng là mơ hồ và không xác định, có lẽ khó để quy cho là chúng đến từ đó. Sự thâm nhập của truyền thông mạng trong các lĩnh vực xã hội, tài chính, công nghiệp, và quân sự có những lợi ích to lớn; nhưng cũng đã cách mạng hóa các lỗ hổng. Vượt nhanh hơn hầu hết các quy định và luật lệ (và thực sự cả sự hiểu biết kỹ thuật của nhiều nhà quản lý), ở một số khía cạnh nó đã tạo ra trạng thái tự nhiên mà các triết gia đã tiên đoán, và sự thoát khỏi – theo Hobbes – quyền lực vận hành tạo ra một trật tự chính trị.

Trước thời đại mạng ảo, khả năng của các quốc gia vẫn có thể được đánh giá thông qua tổng hợp của nguồn nhân lực, thiết bị, địa lý, kinh tế học, và tinh thần. Có sự phân biệt rõ ràng giữa các thời kỳ hòa bình và chiến tranh. Chiến sự nổ ra bởi những sự kiện được xác định và được thực hiện bằng các chiến lược do một số học thuyết tình báo định hình. Ngành tình báo đóng vai trò chủ yếu trong việc đánh giá và đôi khi trong việc phá vỡ khả năng của đối thủ; các hoạt động trong ngành này bị hạn chế bởi các tiêu chuẩn ngầm chung về hành vi, hay ở mức tối thiểu bởi những kinh nghiệm chung phát triển qua nhiều thập kỷ.

Công nghệ Internet đã vượt xa chiến lược hay học thuyết – ít nhất là trong thời gian này. Trong kỷ nguyên mới, tồn tại các khả năng nhưng đến nay vẫn chưa có sự diễn giải chung hay thậm chí sự hiểu rõ về chúng. Có rất ít, nếu không muốn nói là không, các giới hạn giữa những người sử dụng chúng để xác định những hạn chế ngầm hoặc rõ ràng. Khi các cá nhân với liên kết không rõ ràng có khả năng tiến hành những hành động với tham vọng và sự xâm nhập ngày càng tăng, định nghĩa về quyền lực nhà nước có thể trở nên khá mơ hồ. Vấn đề trở nên phức tạp, bởi thực tế là tiến hành những cuộc tấn công mạng ảo dễ hơn là chống lại chúng, từ đó có thể khuyến khích một sự thiên về tấn công khi xây dựng những khả năng mới.

Sự nguy hiểm càng tăng lên bởi sự chối bỏ có vẻ đáng tin của những kẻ tình nghi thực hiện những hành động như vậy, và do thiếu các điều ước quốc tế mà ngay cả khi đạt được thì lại không có hệ thống chế tài thực thi. Một chiếc máy tính xách tay cũng có thể gây ra những hậu quả toàn cầu. Một nhân vật đơn độc với sức mạnh tin học đủ lớn có thể thâm nhập không gian mạng ảo để vô hiệu hóa và có khả năng phá hủy cơ sở hạ tầng quan trọng từ một vị trí gần như hoàn toàn vô danh. Những mạng lưới điện có thể bị quá tải, các nhà máy điện bị vô hiệu hóa bằng những hành động được thực hiện hoàn toàn từ bên ngoài lãnh thổ vật lý của một quốc gia (hay ít nhất là lãnh thổ theo quan niệm truyền thống). Từng xảy ra vụ một nhóm hacker ngầm đã chứng tỏ có khả năng thâm nhập mạng lưới chính phủ và phổ biến các thông tin mật ở quy mô lớn tới mức ảnh hưởng đến các hoạt động ngoại giao. Stuxnet, một ví dụ về cuộc tấn công mạng ảo do nhà nước hậu thuẫn, đã thành công trong việc phá vỡ và làm chậm những nỗ lực hạt nhân của Iran tới mức độ sánh ngang với những tác động của một cuộc tấn công quân sự hạn chế, theo một số tính toán. Cuộc tấn công botnet[142] từ Nga vào Estonia năm 2007 từng làm truyền thông bị tê liệt trong nhiều ngày.

Tình trạng như vậy, dù có lợi thế tạm thời đối với các nước tiên tiến, không thể kéo dài mãi. Con đường đến một trật tự thế giới có thể dài và bất định, nhưng không một tiến bộ có ý nghĩa nào có thể được thực hiện nếu một trong những yếu tố phổ biến nhất của đời sống quốc tế không được đối thoại nghiêm túc. Rất có thể xảy ra trường hợp tất cả các bên, đặc biệt là những bên bị định hình bởi truyền thống văn hóa khác nhau, sẽ đạt đến một cách độc lập những kết luận tương tự về bản chất và khả năng được phép sử dụng năng lực xâm nhập mới của họ. Những nỗ lực vạch ra một nhận thức chung về tình hình mới của chúng ta là rất cần thiết. Thiếu nó, các bên sẽ tiếp tục vận hành trên cơ sở trực giác riêng biệt, làm tăng nguy cơ dẫn đến một hậu quả hỗn loạn. Vì các hành động được thực hiện trong thế giới mạng ảo có khả năng gây áp lực đối với các biện pháp đối phó trong thế giới thực, nhất là khi chúng có tiềm năng gây thiệt hại về bản chất tương tự như các cuộc tấn công vũ trang trước đây. Thiếu những chi tiết rõ ràng về các giới hạn và thỏa thuận về các nguyên tắc kiềm chế chung, một tình huống khủng hoảng có nguy cơ xảy ra, dù không chủ tâm; chính khái niệm về trật tự quốc tế có thể là đối tượng của những căng thẳng gia tăng.

Trong những phạm trù khả năng chiến lược khác, các chính phủ đã nhận ra bản chất tự chuốc lấy thất bại của những hành động quốc gia không bị giới hạn. Tiến trình bền vững hơn là theo đuổi một sự kết hợp giữa răn đe và các bên cùng tự kiềm chế, thậm chí giữa các đối thủ tiềm tàng đi kèm với các biện pháp ngăn chặn một cuộc khủng hoảng có thể nảy sinh từ việc diễn giải sai hoặc truyền đạt thông tin nhầm.

Không gian ảo đã trở nên không thể thiếu về mặt chiến lược. Khi cuốn sách này được viết, người dùng dù là từng cá nhân, tập đoàn, hay các quốc gia, đều dựa trên phán đoán của mình khi thực hiện các hoạt động của họ. Chỉ huy Bộ Tư lệnh Mạng ảo Mỹ từng dự đoán rằng “cuộc chiến tranh sắp tới sẽ bắt đầu từ không gian ảo.” Không thể nào hình thành một trật tự quốc tế khi khu vực, thông qua đó sự tồn tại và tiến bộ của các quốc gia đang diễn ra, vẫn chưa có bất kỳ tiêu chuẩn quốc tế nào để điều chỉnh, và vẫn để ngỏ cho các quyết định đơn phương.

Lịch sử chiến tranh cho thấy mỗi khả năng tấn công công nghệ cuối cùng sẽ có những biện pháp phòng thủ tương xứng, dù không phải mọi nước đều có thể có được chúng như nhau. Điều này có nghĩa là những quốc gia ít tiến bộ về công nghệ phải núp dưới sự bảo trợ của các xã hội công nghệ cao? Có phải kết quả sẽ là một loạt những sự cân bằng quyền lực căng thẳng? Sự răn đe, trong trường hợp vũ khí hạt nhân, dưới hình thức cân bằng các quyền lực phá hoại, không thể được áp dụng bằng phép loại suy trực tiếp, bởi vì mối nguy hiểm lớn nhất là một cuộc tấn công không báo trước có lẽ không bị lộ cho đến khi nó đã diễn ra.

Cũng không thể đặt sự răn đe trong không gian mạng dựa trên sự trả đũa đối xứng, như trong trường hợp với vũ khí hạt nhân. Nếu một cuộc tấn công mạng ảo chỉ giới hạn ở một chức năng hay mức độ nhất định, một “sự đáp trả lịch sự” có thể có ý nghĩa hoàn toàn khác đối với Mỹ và cả những kẻ tấn công. Ví dụ, nếu cấu trúc tài chính của một nền kinh tế công nghiệp lớn bị phá hoại, có phải nạn nhân chỉ được quyền phản công tương đương, đánh vào các tài sản có tiềm năng không đáng kể của kẻ tấn công? Hay chỉ đánh vào các máy tính đã thực hiện cuộc tấn công? Do không hành động nào trong hai hành động này có khả năng răn đe đủ mạnh, câu hỏi sẽ là liệu hành động gây hấn “ảo” có đảm bảo “động lực” đáp trả – và ở mức độ nào và tình trạng cân bằng tương đương nào. Một thế giới mới với lý thuyết răn đe và học thuyết chiến lược hiện đang ở thời kỳ trứng nước đòi hỏi phải được soạn thảo khẩn cấp, công phu.

Cuối cùng, một khuôn khổ cho việc tổ chức môi trường mạng ảo toàn cầu sẽ là bắt buộc. Khuôn khổ này có thể không tự bắt kịp với công nghệ, nhưng quá trình xác định nó sẽ dạy các nhà lãnh đạo về những mối nguy hiểm và hậu quả của công nghệ. Thậm chí nếu các thỏa thuận không có mấy sức nặng trong trường hợp một cuộc đối đầu, ít nhất chúng cũng có thể ngăn chặn tình hình tuột dốc vào một cuộc xung đột không thể cứu vãn do sự hiểu lầm gây ra.

Vấn đề nan giải của những công nghệ này là không thể thiết lập các quy tắc ứng xử, trừ phi có một sự hiểu biết chung ít nhất là về một số khả năng quan trọng. Nhưng chính những khả năng này mà các bên tham gia sẽ không muốn tiết lộ. Mỹ đã kêu gọi Trung Quốc hạn chế ăn cắp bí mật thương mại qua xâm nhập mạng, khi cho rằng quy mô của hoạt động này là lớn chưa từng có. Nhưng Mỹ sẵn sàng tiết lộ những nỗ lực tình báo mạng ảo của chính mình đến mức nào?

Theo cách này, bất đối xứng và một dạng rối loạn trật tự thế giới bẩm sinh được hình thành trong mối quan hệ giữa các cường quốc mạng ảo cả trong ngoại giao và chiến lược. Nhiều ganh đua chiến lược đang tập trung chuyển từ lĩnh vực vật lý sang lĩnh vực thông tin, thu thập và xử lý dữ liệu, xâm nhập mạng và tâm lý chiến. Thiếu quy định rõ ràng về một số quy tắc ứng xử quốc tế, một cuộc khủng hoảng sẽ nảy sinh từ những động năng nội tại của hệ thống.

NHÂN TỐ CON NGƯỜI

Từ khi bắt đầu kỷ nguyên hiện đại vào thế kỷ 16, các nhà triết học chính trị đã thảo luận về vấn đề mối quan hệ của con người với hoàn cảnh xung quanh mà anh ta tìm thấy chính mình trong đó. Hobbes, Locke[143], và Rousseau phát triển một chân dung tâm sinh lý của ý thức con người và đưa ra các quan điểm chính trị từ xuất phát điểm này. Các Tổ phụ Lập quốc của Mỹ, đặc biệt là Madison trong tác phẩm Người liên bang 10, cũng hành động tương tự. Họ mô tả sự phát triển của xã hội thông qua các nhân tố được “gieo trong bản chất mỗi người”: khả năng lý trí mạnh mẽ nhưng có khuynh hướng sai lầm và “lòng tự ái” cố hữu của mỗi cá nhân, từ sự tương tác trong đó “những ý kiến khác nhau sẽ được hình thành”; và khả năng đa dạng của loài người, từ đó “có những mức độ và loại thuộc tính khác nhau trực tiếp dẫn đến” và cùng với chúng là một “sự phân chia xã hội thành các lợi ích và các nhóm khác nhau.” Mặc dù những nhà tư tưởng này khác nhau trong các phân tích của họ về các nhân tố cụ thể và trong các kết luận họ rút ra, tất cả đều đóng khung trong quan niệm của mình về một nhân loại mang bản chất cố hữu và kinh nghiệm thực tế là muôn thuở và không thay đổi.

Trong thế giới hiện đại, ý thức con người được định hình thông qua một bộ lọc chưa từng có. Tivi, máy tính, và điện thoại thông minh hợp thành bộ ba hàng đầu mang đến sự tương tác với màn hình gần như liên tục suốt ngày. Sự tương tác của con người trong thế giới vật lý giờ đây đang không ngừng bị đẩy vào thế giới ảo của các thiết bị nối mạng. Những nghiên cứu gần đây cho thấy thanh niên Mỹ dành trung bình khoảng một nửa thời gian trong ngày trước màn hình, và con số này tiếp tục tăng.

Biến động văn hóa này có tác động đối với quan hệ giữa các quốc gia như thế nào? Nhà hoạch định chính sách đảm nhận nhiều nhiệm vụ, nhiều trong số đó do lịch sử và văn hóa của xã hội định hình. Trước hết, ông ta phải tập trung phân tích xã hội nơi mình sống. Đây vốn là nơi quá khứ gặp tương lai; do đó một đánh giá như vậy không thể thực hiện được nếu không có thiên hướng về cả hai yếu tố này. Sau đó, ông ta phải cố gắng hiểu được quỹ đạo này sẽ đưa mình và xã hội tới đâu. Ông ta phải chống lại cám dỗ đồng nhất việc hoạch định chính sách với việc phóng chiếu những gì quen thuộc vào tương lai, vì ngự trị trên con đường đó là sự đình trệ và sau đó là suy thoái. Trong thời đại biến động công nghệ và chính trị, càng ngày kinh nghiệm càng cho thấy phải chọn một con đường khác. Theo định nghĩa, khi dẫn dắt một xã hội từ điểm hiện tại tới điểm nó chưa bao giờ tới, một lộ trình mới đặt ra cả những thuận lợi và khó khăn mà sẽ luôn có vẻ rất cân bằng. Để thực hiện cuộc hành trình trên con đường chưa từng có dấu chân người đi qua đòi hỏi phải có nghị lực và can đảm: nghị lực vì sự lựa chọn là không rõ ràng; và can đảm vì con đường sẽ cô đơn lúc ban đầu. Và chính khách phải truyền cảm hứng cho người dân của mình để kiên định trong nỗ lực đó. Các chính khách lão luyện (Churchill, cả hai Roosevelt, de Gaulle, và Adenauer) đã có những phẩm chất này – tầm nhìn và sự kiên định; điều mà trong xã hội ngày nay rất khó để phát triển chúng.

Đối với tất cả những thành tựu to lớn và không thể thiếu mà Internet đã mang lại cho thời đại chúng ta, sự nổi bật của nó là có thật chứ không phải điều bất ngờ, trên thực tế chứ không phải khái niệm, trên các giá trị được định hình bởi sự đồng thuận chứ không phải sự suy xét nội tâm. Kiến thức về lịch sử và địa lý không còn cần thiết đối với những người có thể truy xuất dữ liệu chỉ bằng một cú nhấn nút. Tư duy độc hành trên con đường chính trị có thể không hiển nhiên đối với những người tìm kiếm sự thừa nhận của hàng trăm, đôi khi hàng ngàn bạn trên Facebook.

Trong thời đại Internet, trật tự thế giới thường được đánh đồng với tiên đề rằng nếu người dân có khả năng tự do biết và trao đổi thông tin trên thế giới, bản chất hướng tới tự do của con người sẽ tự bén rễ và tốt tươi, và lịch sử sẽ tự vận hành như nó đã từng. Nhưng các triết gia và thi gia từ lâu đã tách tầm hiểu biết của trí óc thành ba phần: thông tin, kiến thức, và sự thông tuệ. Internet tập trung vào lĩnh vực thông tin và thúc đẩy thông tin lan truyền theo cấp số nhân. Những chức năng phức tạp hơn bao giờ hết được sáng tạo ra, nhất là khả năng trả lời những câu hỏi thực tế – những câu hỏi không tự thay đổi theo thời gian. Các công cụ tìm kiếm có thể xử lý nhiều câu hỏi ngày càng phức tạp với tốc độ ngày càng nhanh. Nhưng nghịch lý là tình trạng quá nhiều thông tin có lẽ lại hạn chế việc tiếp thu kiến thức và đẩy sự hiểu biết thậm chí xa vời hơn so với trước.

Nhà thơ T.S. Eliot[144] ghi nhận điều này trong tác phẩm Điệp khúc từ “Tảng đá” của ông:

Nơi đâu ta đã đánh mất cuộc sống trong sinh tồn?

Nơi đâu ta đã đánh mất thông tuệ trong kiến thức?

Nơi đâu ta đã đánh mất kiến thức trong thông tin?

Các sự kiện là hiếm khi rõ ràng; ý nghĩa, sự phân tích, và diễn giải của chúng, ít nhất là trong thế giới chính sách ngoại giao, phụ thuộc vào bối cảnh và sự liên quan. Khi ngày càng nhiều vấn đề được xem như là có tính chất thực tế, chúng củng cố một giả thuyết rằng mỗi câu hỏi đều phải có một câu trả lời có thể nghiên cứu, rằng không nên suy nghĩ quá lâu về các vấn đề và giải pháp mà nên “tìm kiếm.” Nhưng trong mối quan hệ giữa các quốc gia – và trong nhiều lĩnh vực khác – để thực sự hữu ích, thông tin phải được đặt trong một bối cảnh rộng hơn về lịch sử và kinh nghiệm để có thể trở thành kiến thức thực tế. Và may mắn cho một xã hội nếu các nhà lãnh đạo của nó đôi khi có thể đạt đến mức độ thông tuệ.

Việc tiếp thu kiến thức từ sách vở mang đến kinh nghiệm khác so với từ Internet. Đọc sách tương đối mất thời gian; để quá trình này dễ dàng hơn, cách đọc là rất quan trọng. Vì không thể đọc tất cả các cuốn sách về một chủ đề nhất định, chứ chưa nói đến mọi cuốn sách, hay dễ dàng sắp xếp những gì đã đọc, việc học hỏi từ sách mang đến cho tư duy khái niệm một tầm quan trọng đặc biệt – khả năng nhận ra những dữ liệu và sự kiện tương đương nhau và phóng chiếu những khuôn mẫu này vào tương lai. Và phong cách đọc đưa người đọc vào trong một mối quan hệ với tác giả, hoặc với chủ đề, bằng cách dung hợp chất liệu và mỹ học.

Theo truyền thống, một cách khác để có được kiến thức là thông qua các cuộc trò chuyện cá nhân. Từ hàng ngàn năm, việc thảo luận và trao đổi các ý tưởng đã mang đến một chiều kích tình cảm và tâm lý cộng thêm nội dung thực tế của thông tin được trao đổi. Nó mang đến những gì vô hình của niềm tin và tính cách. Giờ đây, văn hóa nhắn tin đang tạo ra một sự miễn cưỡng lạ lùng khi tham gia tương tác mặt đối mặt, nhất là trên cơ sở một-một.

Máy tính đã giải quyết vấn đề tiếp nhận, duy trì, và truy xuất thông tin tới một mức độ đáng kể. Dữ liệu có thể được lưu trữ trên thực tế với số lượng không giới hạn và dưới hình thức có thể quản lý được. Máy tính khiến một lượng lớn dữ liệu không thể có được trong thời đại sách vở trở nên sẵn có. Nó gói ghém dữ liệu hiệu quả; không còn cần đến những cách thức để dữ liệu trở nên dễ tiếp cận hay ghi nhớ. Khi xử lý với một quyết định đơn độc tách biệt khỏi ngữ cảnh của nó, máy tính cung cấp những công cụ thậm chí cách đây chỉ một thập kỷ đã không thể tưởng tượng được. Nhưng nó cũng thu hẹp phối cảnh. Do thông tin có thể tiếp cận rất dễ dàng và truyền thông ngay tức thời, sự tập trung vào ý nghĩa của nó bị suy giảm, hay thậm chí cả về định nghĩa ý nghĩa là gì. Động lượng này có thể khuyến khích các nhà hoạch định chính sách chờ đợi một vấn đề phát sinh hơn là dự đoán nó, và coi những thời khắc quyết định như một loạt các sự kiện cô lập chứ không phải là một phần của sự liên tục lịch sử. Khi điều này xảy ra, thao túng thông tin thay thế sự suy ngẫm như là công cụ chính sách chủ yếu.

Theo cách tương tự, Internet có xu hướng làm giảm ký ức lịch sử. Hiện tượng này đã được miêu tả như sau: “Mọi người quên những tin họ nghĩ sẽ có sẵn từ bên ngoài và ghi nhớ những tin họ nghĩ sẽ không có sẵn.” Bằng việc chuyển rất nhiều tin vào lĩnh vực có sẵn, Internet làm giảm động cơ ghi nhớ chúng. Công nghệ truyền thông đe dọa làm giảm năng lực truy vấn nội tâm của một cá nhân bằng cách làm tăng sự phụ thuộc của anh ta vào công nghệ như một công cụ hỗ trợ và trung gian của quá trình suy nghĩ. Thông tin có sẵn trong tầm tay khuyến khích tư duy của một nhà nghiên cứu, nhưng lại có thể làm giảm tư duy của một nhà lãnh đạo. Một sự thay đổi trong ý thức con người có thể thay đổi đặc điểm của từng cá nhân và bản chất các mối tương tác của họ, do đó bắt đầu làm thay đổi tình trạng của bản thân con người. Liệu mọi người trong thời đại in ấn có nhìn thế giới giống như tổ tiên của họ thời Trung cổ? Liệu nhận thức thị giác về thế giới có bị thay đổi trong thời đại máy tính?

Cho đến nay, lịch sử và tâm lý học phương Tây đã coi sự thật là độc lập với nhân cách và có tính tiên nghiệm với người quan sát. Tuy nhiên, thời đại chúng ta đang ở trên ranh giới của sự thay đổi quan niệm về bản chất của sự thật. Gần như tất cả các trang web có chứa một số loại chức năng tùy biến dựa trên các đoạn mã theo dõi Internet được thiết kế để xác định lai lịch và sở thích của người dùng. Những phương pháp này được dự định nhằm khuyến khích người dùng “tiêu thụ nội dung nhiều hơn,” và trong khi làm như vậy, tiếp xúc với quảng cáo nhiều hơn, điều mà cuối cùng thúc đẩy nền kinh tế Internet. Những định hướng tinh tế này phù hợp với một xu hướng rộng lớn hơn nhằm quản lý sự hiểu biết truyền thống về lựa chọn của con người. Hàng hóa được sắp xếp và đặt thứ tự ưu tiên để giới thiệu những “thứ bạn có thể thích,” và tin tức trực tuyến được trình bày như “tin tức có thể phù hợp với bạn nhất.” Hai người khác nhau yêu cầu cùng một câu hỏi ở một công cụ tìm kiếm không nhất thiết nhận được câu trả lời giống nhau. Khái niệm về sự thật đã được tương đối hóa và cá nhân hóa – làm mất đi tính phổ quát của nó. Thông tin được trình bày như là miễn phí. Trên thực tế, người nhận trả tiền cho nó bằng cách cung cấp dữ liệu được khai thác bởi những người anh ta không hề biết, theo cách ngày càng định hình các thông tin được cung cấp cho anh ta.

Dù tiện ích của cách tiếp cận này trong lĩnh vực tiêu dùng là gì đi nữa, ảnh hưởng của nó đối với việc hoạch định chính sách có thể nhận thấy là biến đổi hoàn toàn. Những lựa chọn khó khăn của việc hoạch định chính sách là luôn gần giống nhau. Trong một thế giới của các mạng xã hội xuất hiện ở khắp nơi, liệu từng cá nhân có thể tìm ra không gian để nuôi dưỡng sự dũng cảm khi đưa ra những quyết định, mà theo định nghĩa, không thể dựa trên sự đồng thuận? Câu ngạn ngữ rằng các nhà tiên tri không được thừa nhận trong chính thời đại của họ là đúng trong ý nghĩa rằng họ hành động vượt xa quan niệm truyền thống – đó là điều khiến họ trở thành nhà tiên tri. Trong kỷ nguyên của chúng ta, việc đi trước thời gian đối với các nhà tiên tri có lẽ đã biến mất hoàn toàn. Việc theo đuổi sự minh bạch và tính kết nối trong mọi khía cạnh của đời sống bằng cách phá vỡ sự riêng tư, đã hạn chế việc hình thành những nhân vật có sức mạnh đủ để đưa ra những quyết định đơn độc.

Các cuộc bầu cử ở Mỹ – đặc biệt là những cuộc bầu cử tổng thống – đại diện cho một khía cạnh khác của quá trình phát triển này. Năm 2012, có báo cáo rằng các chiến dịch tranh cử có dữ liệu về hàng chục triệu cử tri có khả năng là độc lập. Được rút ra từ nghiên cứu trên các mạng xã hội, dữ liệu công cộng mở và hồ sơ y tế, những tập dữ liệu này hình thành một hồ sơ đối với mỗi cử tri, có lẽ chính xác hơn so với cả khi chính người này thu thập từ ký ức của mình. Điều này cho phép các chiến dịch có thể lựa chọn công nghệ thích hợp – nên dựa trên những chuyến thăm cá nhân bởi những người bạn tận tâm (cũng được phát hiện qua Internet), những bức thư được cá nhân hóa (rút ra từ nghiên cứu trên mạng xã hội) hay các cuộc họp nhóm.

Chiến dịch tranh cử tổng thống đang cận kề khả năng biến thành những cuộc cạnh tranh truyền thông giữa những bậc thầy vận hành Internet. Những gì từng là các cuộc tranh luận thực sự về nội dung quản lý nhà nước sẽ hạ các ứng viên xuống thành người phát ngôn cho một nỗ lực tiếp thị được theo đuổi bằng những phương pháp mà tính chất xâm phạm [sự riêng tư] của chúng có lẽ sẽ bị coi là chất liệu của khoa học viễn tưởng cách đây chỉ một thế hệ. Vai trò chính của các ứng cử viên có lẽ trở thành gây quỹ hơn là soạn thảo kỹ lưỡng các vấn đề. Liệu nỗ lực tiếp thị được thiết kế để truyền đạt niềm tin của ứng viên, hay niềm tin được ứng viên thể hiện là phản ánh của một nỗ lực nghiên cứu một “dữ liệu lớn” về sở thích và thiên kiến có thể có của từng cá nhân? Liệu nền dân chủ có thể tránh được tiến trình hướng tới một kết quả mị dân dựa trên việc thu hút cảm xúc quần chúng hơn là quá trình lý luận mà các Tổ phụ Lập quốc đã hình dung? Nếu khoảng cách giữa các phẩm chất cần thiết cho cuộc bầu cử và các phẩm chất cần thiết cho việc điều hành văn phòng trở nên quá rộng, sự nắm bắt khái niệm và ý thức về lịch sử – nên là một phần của chính sách đối ngoại – có thể bị mất; hoặc việc nuôi dưỡng những phẩm chất này có thể mất rất nhiều thời gian trong nhiệm kỳ đầu tiên của tổng thống cũng như hạn chế vai trò dẫn đầu của Mỹ.

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI TRONG KỶ NGUYÊN KỸ THUẬT SỐ

Những nhà quan sát thận trọng đã xem những biến đổi toàn cầu hóa được mở ra bởi sự gia tăng của Internet và công nghệ điện toán tiên tiến như là sự khởi đầu một kỷ nguyên mới của việc trao quyền cho dân chúng và tiến trình tới hòa bình. Họ ca ngợi khả năng của các công nghệ mới làm cho các cá nhân có năng lực, và thúc đẩy tính minh bạch – thông qua việc công khai những nhũng lạm của chính quyền hay việc mất dần các rào cản văn hóa do hiểu lầm. Với một vài lý lẽ biện minh, những người lạc quan chỉ ra những sức mạnh mới đáng ngạc nhiên mà truyền thông có được thông qua những mạng lưới toàn cầu tức thời. Họ nhấn mạnh khả năng của các mạng máy tính và các thiết bị “thông minh” tạo ra những hiệu quả mới về xã hội, kinh tế, và môi trường. Họ mong muốn giải mã những vấn đề kỹ thuật không thể giải được trước đây bằng cách khai thác sức mạnh trí tuệ của đám đông trên mạng.

Một hướng suy nghĩ cho rằng các nguyên tắc tương tự như truyền thông qua mạng, nếu được áp dụng đúng đắn đối với lĩnh vực quan hệ quốc tế, có thể giúp giải quyết những vấn đề xung đột bạo lực muôn thuở. Lý thuyết này khẳng định, những đối địch truyền thống về sắc tộc và phe phái có thể bị làm câm lặng trong thời đại Internet, vì “những người cố duy trì những huyễn hoặc về tôn giáo, văn hóa, sắc tộc, hay bất kỳ điều gì khác sẽ phải vất vả giữ cho câu chuyện của họ lan truyền được giữa một biển người nghe có đầy đủ thông tin. Với nhiều dữ liệu hơn, tất cả mọi người có được khung tham chiếu tốt hơn.” Sẽ có thể làm dịu sự đối địch giữa các quốc gia và giải quyết những tranh chấp lịch sử vì “với những thiết bị công nghệ, nền tảng, và cơ sở dữ liệu chúng ta có hôm nay, các chính phủ trong tương lai sẽ khó khăn hơn nhiều khi tranh luận về những tuyên bố như vậy, không chỉ bởi bằng chứng lâu dài mà còn bởi tất cả mọi người sẽ có quyền truy cập vào nguồn tài liệu tương tự.” Theo quan điểm này, sự lan truyền các thiết bị kỹ thuật kết nối mạng sẽ trở thành động cơ tích cực của lịch sử: các mạng truyền thông mới sẽ hạn chế sự nhũng lạm, làm dịu mâu thuẫn xã hội và chính trị, góp phần giúp các vùng xưa nay chia rẽ trở nên gắn kết vào một hệ thống toàn cầu hài hòa hơn.

Sự lạc quan của quan điểm này lặp lại những khía cạnh hay nhất trong lời tiên tri của Woodrow Wilson về một thế giới được thống nhất bởi dân chủ, ngoại giao mở, và các quy tắc chung. Như một kế hoạch chi tiết cho trật tự chính trị hoặc xã hội, nó cũng đặt ra một số câu hỏi tương tự như tầm nhìn ban đầu của Wilson về sự khác biệt giữa thực tế và ước vọng.

Những mâu thuẫn bên trong và giữa các xã hội đã xảy ra kể từ buổi hồng hoang của nền văn minh. Nguyên nhân của những mâu thuẫn này không chỉ bị giới hạn ở việc thiếu thông tin hay không đủ khả năng để chia sẻ nó. Chúng đã phát sinh không chỉ giữa các xã hội không hiểu nhau mà cả giữa những xã hội hiểu nhau quá rõ. Ngay cả với cùng nguồn tài liệu để xem xét, các cá nhân cũng không đồng ý về ý nghĩa của nó hoặc giá trị chủ quan của những gì mà nó mô tả. Khi giá trị, lý tưởng, hay mục tiêu chiến lược mâu thuẫn về cơ bản, sự phơi bày và kết nối trong một số trường hợp có thể “đổ thêm dầu” vào những đối đầu cũng giống như làm dịu chúng.

Các mạng xã hội và thông tin mới thúc đẩy tăng trưởng và sáng tạo. Chúng cho phép các cá nhân bày tỏ quan điểm và tố cáo những bất công mà nếu không có chúng có thể trôi qua mà không ai để ý đến. Trong những tình huống khủng hoảng, chúng mang đến một khả năng rất quan trọng là truyền thông nhanh chóng, công bố các sự kiện và chính sách một cách đáng tin cậy – có khả năng ngăn chặn sự bùng nổ xung đột do hiểu lầm.

Nhưng chúng cũng đưa những hệ giá trị mâu thuẫn nhau, đôi khi không tương thích, tới chỗ gần nhau hơn bao giờ hết. Sự ra đời của tin tức và bình luận trên Internet cùng những chiến lược bầu cử dựa trên dữ liệu đã không làm dịu đáng kể khía cạnh đảng phái trong nền chính trị Mỹ; có chăng, nó đã đưa một lượng khán giả lớn hơn tới những thái cực. Trên bình diện quốc tế, một số biểu đạt từng trôi qua mà không ai biết và bình luận, giờ đây được công khai trên toàn thế giới và được sử dụng như là cái cớ để kích động bạo lực – như đã xảy ra ở một số vùng trong thế giới Hồi giáo khi phản ứng với một biếm họa có tính chất khích động trên một tờ báo Đan Mạch, hay một bộ phim Mỹ tự chế bên lề. Trong khi đó, ở các tình huống xung đột, mạng xã hội có thể phục vụ như một diễn đàn làm sâu sắc thêm các vết nứt xã hội truyền thống ngang với việc xua tan chúng. Việc chia sẻ rộng rãi những hành động tàn ác được ghi hình trong cuộc nội chiến Syria dường như củng cố thêm quyết tâm của các bên tham chiến hơn là ngăn chặn việc tàn sát, trong khi tổ chức ISIL khét tiếng đã sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để tuyên bố một đế quốc Hồi giáo và kêu gọi thánh chiến.

Một số cấu trúc độc tài có thể sụp đổ như là kết quả của việc thông tin được lan truyền trực tuyến hay các cuộc biểu tình được kêu gọi qua mạng xã hội; chúng có thể được thay thế đúng lúc bằng những hệ thống mở và dân chủ hơn, xây dựng các giá trị nhân đạo và vì mọi người. Ở những nơi khác, một số chính quyền sẽ có được những phương tiện đàn áp mạnh hơn nhiều lần. Sự phổ biến của các cảm biến có mặt khắp mọi nơi theo dõi và phân tích từng cá nhân, thu hình và truyền mọi trải nghiệm của họ (giờ đây trong một số trường hợp là ngay từ khi ra đời), và (nhờ sức mạnh hàng đầu của điện toán) dự đoán trước những suy nghĩ của họ, mở ra những khả năng đàn áp cũng như giải phóng. Ở khía cạnh này trong hầu hết các khía cạnh căn bản của công nghệ mới, nó có thể trao quyền lực vào tay các nhóm thiểu số tinh hoa ở trên đỉnh các cấu trúc chính trị và kinh tế, xử lý và theo dõi thông tin, định hình tranh luận và ở mức độ nào đó là xác định sự thật.

Phương Tây ca ngợi “Facebook” và “Twitter” là các vẻ bề ngoài của những cuộc cách mạng kiểu Mùa xuân Ả-rập. Tuy nhiên, ở những nơi đám đông được trang bị kỹ thuật số thành công trong những cuộc biểu tình ban đầu, việc sử dụng công nghệ mới không đảm bảo rằng các giá trị thịnh hành sẽ là các giá trị của những nhà phát minh thiết bị hay thậm chí của đa số trong đám đông. Hơn nữa, chính những công nghệ tương tự được sử dụng để kêu gọi các cuộc biểu tình cũng có thể được sử dụng để theo dõi và đàn áp các cuộc biểu tình đó. Ngày nay, hầu hết các quảng trường công cộng ở bất kỳ thành phố lớn nào cũng đều có sự giám sát bằng video liên tục, và bất kỳ người dùng điện thoại thông minh nào cũng có thể bị theo dõi bằng điện tử trong thời gian thực. Như một cuộc khảo sát gần đây kết luận, “Internet đã khiến việc theo dõi dễ dàng hơn, rẻ hơn và hữu ích hơn.”

Phạm vi toàn cầu và tốc độ của truyền thông làm xói mòn sự phân định giữa những biến động trong nước với quốc tế, và giữa các nhà lãnh đạo với những nhu cầu trước mắt của những nhóm lớn tiếng nhất. Các sự kiện mà hiệu ứng của nó từng mất hàng tháng để bộc lộ, giờ lan nhanh trên toàn cầu trong vòng vài giây. Các nhà hoạch định chính sách được mong chờ hình thành quan điểm trong vòng vài giờ và xen nó vào tiến trình của các sự kiện – nơi hiệu ứng của nó sẽ được các mạng đồng thời phát sóng ngay lập tức trên toàn cầu. Sự cám dỗ để chiều theo các nhu cầu của đám đông phản hồi dưới dạng số có thể gạt ra một bên sự suy xét cần có để vạch ra một tiến trình phức hợp hài hòa với những mục tiêu lâu dài. Sự phân biệt giữa thông tin, kiến thức, và sự thông tuệ bị yếu đi.

Chính sách ngoại giao mới khẳng định rằng nếu một lượng đủ lớn mọi người tụ tập để công khai kêu gọi một chính phủ từ chức và quảng bá nhu cầu của họ dưới dạng số, họ sẽ tạo thành một biểu hiện dân chủ đòi hỏi sự hỗ trợ tinh thần và thậm chí vật chất của phương Tây. Cách tiếp cận này kêu gọi các nhà lãnh đạo phương Tây (và đặc biệt là các nhà lãnh đạo Mỹ) truyền đạt sự chuẩn thuận của họ ngay lập tức và bằng những thuật ngữ rõ ràng qua các phương thức mạng xã hội tương tự, do vậy sự không chấp thuận chính phủ của họ sẽ được phát lại trên Internet, được truyền bá và khẳng định hơn nữa.

Nếu chính sách ngoại giao cũ đôi khi thất bại trong việc mở rộng sự ủng hộ tới các lực lượng chính trị xứng đáng về mặt đạo đức, thì chính sách ngoại giao mới lại có nguy cơ can thiệp bừa bãi, không liên kết với chiến lược. Nó tuyên bố thuần túy đạo đức với khán giả toàn cầu trước khi nó có thể đánh giá được những ý định dài hạn của các nhân vật trung tâm, triển vọng thành công của họ hay khả năng để tiến hành một chính sách dài hạn. Động cơ của các nhóm chính, năng lực phối hợp lãnh đạo của chúng, các nhân tố chiến lược và chính trị cơ bản trong nước, và mối quan hệ của chúng với các ưu tiên chiến lược khác được coi là thứ yếu so với sự cấp bách hơn hết của việc xác nhận một tâm trạng của thời khắc đó.

Trật tự không nên được ưu tiên hơn tự do. Nhưng việc khẳng định quyền tự do cần được nâng cao từ một tâm trạng thành một chiến lược. Trong cuộc tìm kiếm những giá trị nhân văn, biểu hiện của các nguyên tắc nâng cao là bước đi đầu tiên; sau đó chúng phải vượt qua được những mơ hồ và mâu thuẫn cố hữu trong mọi vấn đề con người, vốn là nhiệm vụ của chính sách. Trong tiến trình này, việc chia sẻ thông tin và sự ủng hộ của công chúng về các thể chế tự do là những khía cạnh mới, quan trọng trong kỷ nguyên chúng ta. Tự bản thân, khi thiếu sự chú ý đối với các nhân tố chiến lược và chính trị cơ bản, các nguyên tắc này sẽ khó hoàn thành trọn vẹn hứa hẹn của mình.

Những chính khách lão luyện, dù cá tính khác nhau như thế nào, gần như lúc nào cũng có một cảm giác bản năng đối với lịch sử xã hội của họ. Như Edmund Burke đã viết, “Những người không bao giờ nhìn lại tổ tiên của họ, sẽ không nhìn tới hậu thế.” Quan điểm của những người khát khao trở thành chính khách lão luyện trong thời đại Internet sẽ là gì? Sự bất an thường xuyên và nhất quyết tự khẳng định đe dọa cả các nhà lãnh đạo lẫn công chúng trong thời đại Internet. Các nhà lãnh đạo khi ngày càng không còn là người khởi tạo các chương trình của mình, sẽ tìm cách chi phối bằng sức mạnh ý chí hay uy tín. Trong các cuộc tranh luận công khai, công chúng ngày càng bị ép buộc tiếp cận với những điều mơ hồ. Các văn kiện pháp lý chính tại Mỹ, châu Âu, và ở những nơi khác thường chứa đựng hàng ngàn trang văn bản mà ý nghĩa chính xác của chúng khó nắm bắt ngay cả đối với những nhà lập pháp từng bỏ phiếu ủng hộ chúng.

Các thế hệ lãnh đạo phương Tây trước đây thực hiện vai trò dân chủ của họ trong khi thừa nhận rằng sự lãnh đạo không chỉ đơn giản là việc điều hành dựa trên kết quả của các cuộc thăm dò công chúng hằng ngày. Các thế hệ lãnh đạo sau này có lẽ tỏ ra miễn cưỡng thực hiện vai trò lãnh đạo độc lập với các kỹ thuật khai thác dữ liệu – kể cả khi sự thành thạo của họ về môi trường thông tin có thể mang lại sự tái đắc cử để theo đuổi một cách thông minh có mục đích những chính sách ngắn hạn.

Trong một môi trường như vậy, những người tham gia trong các cuộc tranh luận công khai có nguy cơ bị thúc đẩy không phải bởi những lập luận thuần lý mà bởi những gì nắm bắt tâm trạng trong khoảnh khắc. Các trọng tâm trước mắt hàng ngày bị dội vào ý thức công chúng bởi những người chủ trương mà trạng thái của họ được tạo ra nhờ khả năng kịch tính hóa vấn đề. Những người tham gia vào các cuộc biểu tình quần chúng hiếm khi được tập hợp dựa trên một chương trình cụ thể. Thay vào đó, nhiều người tìm kiếm khoảnh khắc vui sướng tinh thần, coi vai trò của họ trong sự kiện chủ yếu là tham gia vào một trải nghiệm cảm xúc.

Những thái độ này phản ánh phần nào sự phức tạp của việc xác định một bản sắc trong thời đại của truyền thông xã hội. Được ca ngợi là bước đột phá trong quan hệ con người, các phương tiện truyền thông xã hội khuyến khích việc chia sẻ lượng thông tin tối đa, dù là cá nhân hay vì mục đích chính trị. Mọi người được khuyến khích – và “mồi chài” – để đăng tải những hành vi và suy nghĩ sâu xa nhất của họ trên các trang web công cộng được điều hành bởi các công ty có chính sách nội bộ mà phần lớn vẫn khó hiểu đối với người dùng bình thường, kể cả khi chúng đã được công khai. Phần nhạy cảm nhất trong các thông tin này sẽ chỉ dành cho “bạn bè” mà trên thực tế có thể lên tới hàng ngàn. Sự tán thành là mục tiêu; vì nếu nó không phải là mục tiêu, việc chia sẻ thông tin cá nhân sẽ không quá phổ biến và đôi khi gây bất đồng đến vậy. Chỉ những người có cá tính rất mạnh mới có thể chống lại những nhận xét phản đối được kỹ thuật số tổng hợp và phóng đại những phán quyết bất lợi từ bạn bè mình. Mục tiêu là tìm kiếm sự đồng thuận, không phải bằng việc trao đổi ý tưởng mà là sự chia sẻ cảm xúc. Những người tham gia cũng không thể không bị ảnh hưởng bởi cảm giác đầy vui sướng được là thành viên trong một đám đông có vẻ là những người cùng chí hướng. Và liệu có phải những mạng lưới này sẽ là những thể chế đầu tiên trong lịch sử loài người không bị lạm dụng thường xuyên, và do đó không cần đến sự kiểm soát và cân bằng truyền thống?

Song song với những khả năng vô hạn do các công nghệ mới mở ra, suy ngẫm về trật tự quốc tế cần tính đến những nguy hiểm nội tại trong các xã hội do sự đồng thuận đám đông thúc đẩy, bỏ đi bối cảnh và tầm nhìn cần thiết về những khía cạnh tương ứng với đặc trưng lịch sử của các xã hội đó. Trong mỗi kỷ nguyên trước, đây được coi là bản chất của sự lãnh đạo; trong thời đại chúng ta, nó có nguy cơ bị giảm xuống chỉ còn là một loạt những khẩu hiệu được thiết kế để có được sự tán thành ngắn hạn trước mắt. Chính sách đối ngoại có nguy cơ trở thành một nhánh của chính trị trong nước thay vì là một nỗ lực hành động nhằm định hình tương lai. Nếu các nước lớn tiến hành chính sách của họ theo cách này trong nội bộ, quan hệ của họ trên vũ đài quốc tế sẽ đồng thời bị méo mó. Công cuộc tìm kiếm viễn cảnh có thể sẽ được thay thế bằng một sự cứng rắn trong những điểm khác biệt, nghệ thuật quản lý nhà nước được thay thế bằng sự phô diễn. Khi ngoại giao bị biến thành những cử chỉ, hành động hướng tới cảm xúc mạnh mẽ, công cuộc tìm kiếm trạng thái cân bằng có nguy cơ nhường chỗ cho sự thách thức các giới hạn.

Sự thông tuệ và tầm nhìn sẽ là cần thiết để tránh những mối nguy hiểm này và đảm bảo rằng kỷ nguyên công nghệ lấp đầy sự hứa hẹn rộng lớn của nó. Cần làm sâu sắc thêm mối bận tâm với những điều cấp thiết này thông qua việc hiểu biết tốt hơn về lịch sử và địa lý. Nhiệm vụ đó không chỉ – hay thậm chí chủ yếu – là vấn đề về công nghệ. Xã hội cần điều chỉnh chính sách giáo dục của mình theo những tình huống cấp thiết cơ bản trong định hướng lâu dài của đất nước và trong việc gây dựng các giá trị của nó. Các nhà sáng chế những thiết bị vốn đã cách mạng hóa việc thu thập và chia sẻ thông tin đến vậy có thể có đóng góp tương tự, thậm chí là lớn hơn, bằng cách phát minh các phương tiện để đào sâu thêm nền tảng khái niệm của nó. Trên con đường tới trật tự thế giới toàn cầu thực sự đầu tiên, những thành tựu công nghệ vĩ đại của con người phải được hợp nhất với những quyền hạn mở rộng về phán xét nhân đạo, siêu nghiệm, và đạo đức.

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3