Tiền Không Mua Được Gì? - Chương 03

3

THỊ TRƯỜNG LẤN ÁT ĐẠO ĐỨC

Có thứ gì không nên mua được bằng tiền? Nếu có thì làm sao xác định được hàng hóa nào có thể đem ra mua bán, hàng hóa nào không? Theo tôi, chúng ta nên tiếp cận vấn đề này bằng một câu hỏi hơi khác: Có thứ gì mà tiền không thể mua được?

TIỀN MUA ĐƯỢC GÌ

VÀ KHÔNG MUA ĐƯỢC GÌ?

Phần lớn mọi người sẽ trả lời là có. Lấy ví dụ: tình bạn. Giả sử tôi muốn có nhiều bạn hơn hiện tại thì tôi có đi mua bạn không? Chắc là không. Chỉ một giây suy nghĩ thôi ai cũng nhận thấy điều ấy. Một người bạn được thuê sẽ không giống một người bạn thực thụ. Tôi có thể thuê người làm những việc mà bạn bè thường làm – nhận thư hộ khi tôi đi vắng, chăm sóc con cái hộ khi tôi quá bận, hoặc đôi khi đóng vai bác sỹ tâm lý, lắng nghe chuyện buồn của tôi và đưa ra những lời khuyên cảm thông. Nhưng gần đây, tôi có thể làm cho mình được biết đến nhiều hơn trên mạng thông qua việc thuê một số “bạn bè” có bề ngoài ưa nhìn cho trang Facebook – với giá 99 xu một “bạn” mỗi tháng. (Trang web cung cấp bạn giả đã bị đóng cửa khi bị phát hiện sử dụng ảnh trái phép, phần lớn là ảnh của các người mẫu) [136]. Mặc dù tôi có thể mua mọi dịch vụ kể trên, nhưng thực tế là tôi không thể mua được một người bạn. Vì lý do nào đó, dùng tiền để mua bạn đã làm hỏng tình bạn, hoặc làm cho nó biến thành một thứ khác, không phải tình bạn nữa.

Hoặc lấy ví dụ giải Nobel. Giả sử bạn vô cùng muốn được giải Nobel nhưng không thành công. Và bạn có cơ hội mua nó. Nhưng bạn sẽ nhanh chóng nhận ra rằng mua giải là không ổn. Giải Nobel là loại hàng hóa mà tiền không thể mua được. Giải Cầu thủ xuất sắc nhất của giải Vô địch bóng chày quốc gia Mỹ cũng vậy. Bạn có thể mua chiếc cúp lưu niệm nếu có ai đó từng đoạt giải muốn bán lại cho bạn và trưng bày trong phòng khách. Nhưng bạn không thể mua bản thân giải thưởng. Lý do không phải vì Ủy ban trao giải Nobel hay giải bóng chày quốc gia Mỹ không bán giải mà vì kể cả khi họ có bán, giả sử mỗi năm có một giải Nobel được bán ra, thì cái bạn mua được cũng không phải giải thưởng thật. Việc trao đổi, mua bán trên thị trường sẽ làm mất ý nghĩa giá trị cho hàng hóa. Vì giải Nobel là một thứ đáng tôn trọng. Khi mua nó, bạn sẽ làm xói mòn giá trị mà bạn đang tìm kiếm. Một khi lộ tin có người mua giải thưởng thì giải thưởng không còn thể hiện sự thừa nhận, tôn vinh đối với người được trao giải Nobel nữa.

Giải Cầu thủ bóng chày xuất sắc nhất cũng vậy. Nó cũng là hàng hóa đáng tôn trọng và giá trị của nó sẽ mất đi nếu người đoạt giải đi mua nó thay vì được trao sau một mùa thi đấu ghi nhiều điểm hoặc đạt các thành tích khác. Tất nhiên, giữa cúp lưu niệm biểu tượng của giải thưởng và bản thân giải thưởng có sự khác biệt. Thực tế là một vài người từng đoạt giải của Viện Hàn lâm điện ảnh Hollywood hoặc người thừa kế của họ đã bán bức tượng Oscar. Một vài bức tượng Oscar đã bị đem ra đấu giá ở nhà đấu giá Sotheby và vài nơi khác. Năm 1999, Michael Jackson đã trả 1,54 triệu dollar để sở hữu bức tượng Oscar giải Phim hay nhất cho phim Cuốn theo chiều gió. Viện Hàn lâm điện ảnh phản đối những vụ mua bán này. Hiện tại, họ yêu cầu người nhận giải phải ký cam kết không bán tượng Oscar. Họ muốn tránh việc biến bức tượng mang tính biểu tượng thành món đồ sưu tập có thể mua bán được. Nhưng dù người sưu tầm có mua được tượng Oscar hay không thì rõ ràng việc mua bức tượng giải nữ diễn viên xuất sắc nhất vẫn khác việc được trao giải thưởng đó [137].

Đây là những ví dụ rõ ràng cho thấy manh mối dẫn đến câu hỏi khó hơn mà chúng ta đang phải trả lời: Có thứ gì mà tiền có thể mua được, nhưng không nên dùng tiền để mua? Sau đây ta hãy xem một hàng hóa có thể mua được, nhưng việc mua bán gây tranh cãi mạnh mẽ về đạo đức: thận người. Một số người ủng hộ thị trường nội tạng phục vụ cấy ghép, một số người khác thấy không chấp nhận được về mặt đạo đức. Cái sai khi mua một quả thận không giống như khi mua giải Nobel là việc dùng tiền mua sẽ làm xói mòn giá trị hàng hóa. Quả thận vẫn hoạt động tốt (giả sử nó phù hợp với cơ thể người nhận) cho dù được mua bằng tiền. Vì vậy, để xác định có nên mua bán thận hay không, chúng ta phải đặt một câu hỏi đạo đức. Chúng ta phải nghiên cứu các lập luận ủng hộ và phản đối mua bán bộ phận cơ thể người và xem cái nào thuyết phục hơn.

Hoặc lấy ví dụ mua bán trẻ em. Vài năm trước, thẩm phán Richard Posner, người đứng đầu phong trào “luật pháp và kinh tế học” đã đề xuất sử dụng thị trường để phân bổ con nuôi. Ông biết rằng những em bé được nhiều người muốn nhận nuôi có giá cao hơn những em bé ít người muốn nhận. Nhưng ông cho rằng so với hệ thống hiện tại – là các cơ sở môi giới con nuôi sẽ thu một khoản phí nhất định chứ không đấu giá hay đặt giá cho các em bé – thị trường tự do sẽ làm tốt hơn việc phân bổ các em bé cho các gia đình muốn nhận con nuôi [138].

Khá nhiều người không đồng tình với đề xuất của Posner và cho rằng không nên mua bán trẻ em cho dù thị trường trẻ em có hiệu quả đến đâu. Về vấn đề gây tranh cãi này, chúng ta cần lưu ý một đặc điểm riêng biệt của nó: cũng như thị trường thận, thị trường trẻ em không làm mất đi giá trị của hàng hóa mà người mua tìm kiếm. Một em bé bạn mua được khác với một người bạn hay một giải Nobel. Nếu tồn tại thị trường con nuôi thì những người trả theo giá thị trường sẽ sở hữu cái họ muốn – một đứa con. Còn thị trường con nuôi có phù hợp về mặt đạo đức không lại là câu hỏi khác.

Vì vậy, dường như khi nhìn qua, có sự khác biệt rõ ràng giữa hai loại hàng hóa: những thứ tiền không thể mua được (như bạn bè, giải Nobel) và những thứ tiền có thể mua được nhưng mọi người cho rằng không nên dùng tiền để mua (như thận, trẻ em). Nhưng theo tôi, sự khác biệt thực ra không rõ ràng như chúng ta thấy ban đầu. Nếu xem xét kỹ càng hơn, chúng ta có thể lờ mờ thấy có mối liên hệ giữa các tình huống rõ ràng – trong đó việc dùng tiền để mua đã làm ảnh hưởng đến hàng hóa – và các tình huống gây tranh cãi, trong đó hàng hóa vẫn có thể được mua bán, nhưng bị cho là sẽ xói mòn, hư hại hay mất đi.

MUA LỜI XIN LỖI VÀ LỜI CHÚC MỪNG ĐÁM CƯỚI

Chúng ta có thể tìm hiểu mối liên hệ nói trên thông qua một số ví dụ nằm giữa hai tình huống tình bạn và quả thận. Bạn không thể mua được tình bạn, nhưng biểu tượng tình bạn hoặc biểu hiện của sự thân tình, yêu thương hay hối hận thì sao?

Năm 2001, báo New York Times đăng tải câu chuyện về một công ty ở Trung Quốc chuyên cung cấp một dịch vụ khác thường: nếu bạn muốn xin lỗi một người – có thể là người yêu đang giận dỗi bạn hay đối tác làm ăn đang bất hòa với bạn, và bạn không thể tự mình nói lời xin lỗi với họ, bạn có thể thuê công ty Xin lỗi Thiên Tân làm hộ bạn. Khẩu hiệu của công ty là: “Thay bạn nói lời xin lỗi”. Theo bài báo, những người xin lỗi chuyên nghiệp là người “ở độ tuổi trung niên, có bằng đại học, mặc bộ vét màu tối. Họ là những luật sư, cán bộ làm công tác xã hội hoặc giáo viên với ‘khả năng ăn nói xuất sắc’, kinh nghiệm sống dày dặn, và còn được đào tạo thêm về cách tư vấn” [139].

Tôi không biết công ty Thiên Tân có thành công không, thậm chí cũng không rõ nó có tồn tại không nữa. Nhưng bài báo khiến tôi tự hỏi: Lời xin lỗi mà đi mua thì có tác dụng không? Nếu có người làm sai hoặc xúc phạm bạn rồi thuê một người đến xin lỗi bạn thì bạn có hài lòng không? Tùy từng trường hợp, hoặc thậm chí có thể tùy vào cả chi phí. Liệu bạn có cho rằng lời xin lỗi đắt tiền thì có giá trị hơn lời xin lỗi rẻ tiền không? Hay hành động xin lỗi của người mắc lỗi mới thực sự thể hiện sự ăn năn, và không thể thuê người khác làm hộ được? Nếu không lời xin lỗi đi mua nào – dù tốn kém đến đâu – có thể thay thế lời xin lỗi của chính người mắc lỗi, thì cũng như bạn bè, lời xin lỗi là cái mà tiền không thể mua được.

Hãy xem một tình huống khác khá gần với tình bạn – lời phát biểu nâng cốc chúc mừng cô dâu và chú rể trong đám cưới. Theo truyền thống, lời chúc mừng này phải ấm áp, hài hước, thể hiện chân thành mong muốn hai người hạnh phúc, và phải do phù rể – thường là bạn thân của chú rể – nói ra. Nhưng không dễ mà nghĩ ra một lời chúc mừng hay trong đám cưới, và nhiều phù rể không tự tin là mình làm được. Vì vậy, một số người phải tìm cách mua trên mạng lời chúc mừng trong đám cưới [140].

ThePerfectToast.com là một trong những trang web hàng đầu cung cấp dịch vụ viết thuê các bài phát biểu trong đám cưới. Nó bắt đầu hoạt động từ năm 1997. Bạn phải trả lời một bảng hỏi trên mạng với những câu hỏi như cô dâu, chú rể gặp nhau như thế nào, bạn mô tả con người họ ra sao, bạn muốn một lời chúc hài hước hay cảm động. Và chỉ trong vòng ba ngày làm việc, bạn sẽ nhận được một bài phát biểu nâng cốc chúc mừng đám cưới dài từ ba đến năm phút, được viết một cách chuyên nghiệp. Giá là 149 dollar, trả bằng thẻ tín dụng. Với những người không đủ tiền để đặt lời chúc mừng viết riêng thì có những trang web khác, chẳng hạn InstantWeddingToasts.com chuyên bán các bài phát biểu chuẩn viết sẵn cho đám cưới với giá 19,95 dollar, kèm theo cam đoan sẽ trả lại tiền nếu không hiệu quả [141].

Giả sử vào ngày bạn thành hôn, phù rể của bạn có một lời phát biểu nâng cốc chúc mừng rất chân thành, xúc động đến mức bạn ứa nước mắt. Nhưng về sau bạn phát hiện ra là cậu ta không tự viết mà mua ở trên mạng, liệu bạn có khó chịu không? Bạn có thấy lời chúc không còn ý nghĩa như ban đầu, trước khi bạn biết nó là của một tay chuyên nghiệp viết thuê? Phần lớn chúng ta hẳn sẽ trả lời là có, lời chúc mừng đám cưới được mua về không có giá trị bằng khi nó được người nói tự viết ra.

Một số người có thể lập luận rằng lời chúc mừng thông thường của các nguyên thủ quốc gia thực chất không phải thông điệp của nhà nước. Nó chỉ là lời thể hiện tình hữu nghị. Mặc dù lời chúc đi mua có thể “tốt” theo nghĩa tạo ra hiệu ứng mong muốn, nhưng nó đạt được một phần nhờ sự lừa dối. Sau đây là phép thử: Giả sử vì quá lo sợ việc phải phát biểu trong đám cưới bạn thân nên bạn đã mua một lời chúc tuyệt hay, xúc động, đầy tình cảm trên mạng. Liệu bạn có nói ra sự thực đó không, hay bạn sẽ tìm cách giấu giếm? Nếu hiệu quả của lời chúc đi mua phụ thuộc vào việc công bố hay giấu giếm nguồn gốc của nó thì có lý do để chúng ta nghi ngờ bản đi mua đã làm xói mòn ý nghĩa của bản tự viết.

Lời xin lỗi và lời phát biểu nâng cốc chúc mừng trong đám cưới là những hàng hóa mà xét từ góc độ nào đó, có thể mua được. Nhưng mua bán sẽ làm thay đổi tính chất, giảm bớt giá trị của chúng.

QUAN ĐIỂM PHẢN ĐỐI TẶNG QUÀ

Hãy xem một cách thể hiện tình bạn khác: tặng quà. Không như lời chúc mừng trong đám cưới, quà tặng hiển nhiên có ý nghĩa vật chất. Nhưng với một số món quà, ý nghĩa vật chất tương đối mơ hồ; với một số món quà khác thì nó lại hiển hiện rõ ràng. Trong vài thập kỷ gần đây đã xuất hiện xu hướng tiền tệ hóa quà tặng, và ta lại có một ví dụ khác về đời sống xã hội đang ngày càng được biến thành hàng hóa nhiều hơn.

Các nhà kinh tế học không thích quà. Nói chính xác hơn là họ không có thời gian để xem tặng quà là hành vi hợp lý của xã hội. Xét từ quan điểm thị trường thì tặng tiền mặt luôn luôn tốt hơn tặng quà. Nếu nhìn chung mỗi người tự biết mình ưa thích cái gì nhất, và tặng quà nhằm mục đích đem lại niềm vui cho bạn bè, cho người thân thì chẳng gì hơn là tặng tiền. Kể cả khi bạn có gu thẩm mỹ rất trang nhã thì bạn bè của bạn vẫn chưa chắc đã thích chiếc cà vạt hay dây chuyền bạn chọn. Vì vậy, nếu bạn thực sự muốn tối đa hóa phúc lợi mà món quà mang lại thì bạn đừng mua quà nữa, đơn giản là hãy tặng số tiền mà bạn định dùng để mua quà. Bạn bè, người thân của bạn có thể tự mua thứ mà bạn dự kiến mua, hoặc (nhiều khả năng hơn) họ sẽ mua thứ khiến họ còn vui hơn.

Đây là logic kinh tế của quan điểm phản đối tặng quà. Logic này hợp lý với một số điều kiện. Nếu tôi nhìn thấy một thứ mà bạn của tôi sẽ thích, nhưng chưa có – chẳng hạn món đồ công nghệ cao mới nhất – thì món quà này hoàn toàn có thể khiến bạn tôi, người mà tôi biết rất rõ, hài lòng hơn bất cứ thứ gì mà anh ta có thể mua được với số tiền tương đương. Nhưng đó là tình huống đặc biệt, vẫn nhất quán với giả định cơ bản của các nhà kinh tế học rằng mục đích tặng quà là tối đa hóa phúc lợi hay mức độ hài lòng của người nhận.

Joel Waldfogel, nhà kinh tế học thuộc Đại học Pennsylvania cho rằng hành vi tặng quà không đạt hiệu quả kinh tế vì lý do cá nhân. Theo ông, “không đạt hiệu quả” ở đây nghĩa là giá trị bạn thu được từ chiếc áo len họa tiết quả trám trị giá 120 dollar mà bà cô tặng bạn vào dịp sinh nhật sẽ khác (có thể không đáng kể) với giá trị của thứ hàng hóa mà bạn mua (ví dụ, máy nghe nhạc iPod) với số tiền mà giả sử bà ấy đưa bạn. Năm 1993, Waldfogel đã khiến mọi người chú ý tới dịch bệnh lãng phí do những món quà gây ra với bài báo “Giáng sinh gây ra hiện tượng tổn thất phúc lợi”. Ông cũng cập nhật, phân tích thêm chủ đề này trong cuốn sách gần đây – Kinh tế học hà tiện: Tại sao bạn không nên mua quà vào dịp lễ (Scroogenomics: Why You Shouldn’t Buy Presents for the Holidays). “Điều cơ bản là khi mọi người đi mua sắm, quần áo, đĩa nhạc hay bất cứ thứ gì khác thì rõ ràng là ít khả năng họ chọn được món quà đúng như khi chúng ta tự chọn. Cho dù họ có ý định tốt đến đâu thì chúng ta vẫn có thể tin là lựa chọn của họ sẽ sai lầm. Nếu so với sự hài lòng mà lẽ ra số tiền họ bỏ ra mua quà có thể mang lại thì món quà của họ đúng là đã làm tổn thất giá trị” [142].

Sử dụng lập luận thị trường chính thống, Waldfogel đã kết luận trong hầu hết các trường hợp, nên tặng tiền thì tốt hơn: “Lý thuyết kinh tế – và cả nhận thức thông thường – đều khiến chúng ta kỳ vọng rằng tự mua quà cho mình sẽ khiến mình hài lòng hơn với từng đồng bỏ ra so với khi mua cho người khác... Mua quà luôn làm tổn thất giá trị và đem lại sự hài lòng cùng lắm là bằng tặng tiền, trong những tình huống rất đặc biệt ít xảy ra” [143].

Ngoài việc sử dụng logic kinh tế để phản đối tặng quà, Waldfogel còn tiến hành một số cuộc điều tra để tính xem hành vi tặng quà phi hiệu quả làm mất đi bao nhiêu giá trị. Ông đề nghị những người được tặng quà ước tính giá trị bằng tiền của món quà họ được nhận và cho biết họ sẵn lòng trả bao nhiêu tiền nếu mua món quà đó. Và ông kết luận: “Chúng tôi nhận thấy với mỗi dollar bỏ ra để mua quà, giá trị của món quà đối với người nhận thấp hơn 20% so với giá trị của chính nó khi chúng tôi tự mua cho mình”. Con số 20% cho phép Waldfogel ước tính được tổng “giá trị bị tổn thất” trên cả nước khi mua quà vào các dịp lễ. “Có nghĩa là với số tiền 65 tỷ dollar người Mỹ bỏ ra để mua quà vào các dịp lễ mỗi năm, độ hài lòng của chúng ta bị giảm đi 13 tỷ dollar so với khi chúng ta tự mua hàng hóa một cách cẩn thận cho mình như bình thường. Người Mỹ chào mừng các ngày lễ với một tổn thất giá trị khổng lồ” [144].

Nếu tặng quà gây ra sự phí phạm, phi hiệu quả khổng lồ như vậy thì tại sao chúng ta vẫn cứ khăng khăng phải làm? Không dễ trả lời câu hỏi này nếu sử dụng những giả định chuẩn mực của kinh tế học. Gregory Mankiw đã liều lĩnh thử giải thích trong cuốn giáo trình của ông. Ông bắt đầu với việc nhận thấy rằng “tặng quà là một phong tục kỳ lạ”, nhưng ông cũng công nhận là nếu vào sinh nhật bạn trai hay bạn gái mà ta tặng tiền thay vì quà thì cũng không ổn. Nhưng tại sao?

Mankiw giải thích: tặng quà là một hình thức “phát tín hiệu” – thuật ngữ của giới kinh tế, chỉ việc sử dụng thị trường để khắc phục tình trạng “thông tin không cân xứng”. Ví dụ, một công ty có sản phẩm tốt bỏ tiền làm một chương trình quảng cáo tốn kém, không chỉ để trực tiếp thuyết phục khách hàng mà còn để “phát tín hiệu” với khách hàng rằng họ rất tự tin vào chất lượng sản phẩm của mình, đến mức sẵn sàng tiến hành một chiến dịch quảng cáo đắt tiền. Tương tự, Mankiw cho rằng tặng quà cũng là phát tín hiệu. Một người đàn ông dự tính tặng quà cho bạn gái tức là muốn truyền đạt “thông tin riêng mà người bạn gái muốn biết: Anh có thực sự yêu cô không? Chọn món quà đẹp là tín hiệu cho cô thấy tình yêu của anh”. Vì chọn quà cần thời gian và công sức nên chọn một món quà thích hợp là cách anh ta “chuyển tải thông tin về tình yêu đến với cô ấy” [145].

Đúng là một cách nghĩ khô khan về tình yêu và những món quà. “Phát tín hiệu” tình yêu không giống việc thể hiện nó. Khi Mankiw nói đến phát tín hiệu, ông đã giả định sai lầm rằng tình yêu là thông tin riêng tư mà một người muốn chuyển tải đến cho người khác. Nếu đúng thì tiền cũng làm nhiệm vụ chuyển tải thông tin rất tốt chứ – đưa càng nhiều tiền thì tín hiệu càng mạnh, và tình yêu (giả định là có) càng lớn lao. Nhưng tình yêu không chỉ là – hay phần lớn là – thông tin riêng tư, mà là việc ở bên một người, chia sẻ với người đó. Tặng quà, đặc biệt tặng quà một cách ân cần là một cách thể hiện tình yêu. Về chuyện đắt hay rẻ, một món quà đẹp không chỉ để làm hài lòng, theo nghĩa làm thỏa mãn sở thích của người nhận, mà còn để thể hiện sự kết nối, gắn bó – và sự kết nối, gắn bó ấy phản ánh tình cảm. Vì vậy, chú tâm vào việc chọn và tặng quà thực sự quan trọng.

Tất nhiên, không phải món quà nào cũng đáng giá như vậy. Nếu bạn đến dự đám cưới một người họ hàng xa, hoặc lễ Bar Mitzvah [146] của cậu con trai đối tác kinh doanh thì tốt hơn cả là nên mua một món đồ trong danh mục quà tặng mong muốn của cô dâu chú rể hoặc tặng tiền. Nhưng nếu tặng tiền thay vì một món quà được chọn lựa kỹ càng cho một người bạn, người yêu hoặc bạn đời thì lại là thể hiện sự bàng quan, thiếu quan tâm. Nó giống như bạn bỏ tiền ra để không phải quan tâm đến người khác nữa.

Các nhà kinh tế học đều biết rằng quà tặng một phần là để thể hiện thái độ, tình cảm, ngay cả khi học thuyết họ tin tưởng không giải thích được điều ấy. Alex Tabarrok, nhà kinh tế học và là tác giả một blog viết: “Phần kinh tế học trong tôi nói rằng quà tặng tốt nhất là tiền. Nhưng phần còn lại trong con người tôi phản đối”. Ông đưa ra một ví dụ rất hay để phản đối lại quan điểm vị lợi cho rằng món quà lý tưởng là cái mình tự mua cho chính mình: Giả sử có người cho bạn 100 dollar, và bạn mua một bộ lốp ô tô mới. Đây là cách bạn tối đa hóa độ hài lòng của bản thân. Nhưng bạn không cảm thấy vô cùng hạnh phúc nếu bạn gái bạn tặng bạn một bộ lốp ô tô vào dịp sinh nhật. Tabarrok chỉ ra rằng trong hầu hết các tình huống, chúng ta muốn được tặng những món quà không “trần tục” quá, chúng ta muốn những thứ mà chúng ta không tự mua cho mình. Ít nhất, từ đáy lòng, chúng ta vẫn thích một món quà nói lên “phần hoang dại, phần đam mê, phần lãng mạn trong ta” [147].

Tôi nghĩ về điểm này ông ấy khá thuyết phục. Tặng quà không phải lúc nào cũng đi chệch ra khỏi điểm tối đa hóa phúc lợi hiệu quả vì quà không chỉ là vấn đề lợi ích. Một số món quà thể hiện mối quan hệ liên quan đến chúng ta, thách thức, giải thích lại con người chúng ta. Vì tình bạn không chỉ là người này có ích với người khác hay không; mà là sự trưởng thành về tính cách, về khả năng hiểu biết chính con người mình khi có bạn đồng hành. Như Aristotle đã nói, tình bạn lý tưởng nhất là tình bạn có mục tiêu xây đắp, giáo dục. Tiền tệ hóa mọi cách thức tặng quà giữa bạn bè với nhau có thể sẽ làm xói mòn tình bạn bằng những chuẩn mực vị lợi.

Ngay cả các nhà kinh tế học luôn nhìn nhận tặng quà dưới góc độ vị lợi cũng không thể không nhận thấy rằng quà tặng bằng tiền là ngoại lệ ít gặp, nhất là giữa bạn bè, tình nhân và những mối quan hệ quan trọng khác. Với Waldfogel, đây chính là gốc gác sinh ra tính phi hiệu quả mà ông không ưa. Vậy thì theo ông, cái gì khiến con người khăng khăng giữ một thói quen làm tổn thất giá trị nhiều đến như vậy? Đơn giản vì tiền được coi là một “món quà thô thiển”, mang tiếng xấu. Ông không đặt câu hỏi mọi người coi món quà bằng tiền là thô thiển là đúng hay sai. Mà ông coi việc xã hội coi tiền là xấu là không thực sự phù hợp, trừ chuyện tiền có xu hướng làm giảm độ hài lòng [148].

“Lý do duy nhất khiến đa phần quà Giáng sinh là hiện vật chứ không phải tiền là: tặng tiền thì mang tiếng xấu” – Waldfogel viết. “Nếu không có tiếng xấu này thì người tặng quà sẽ đưa tiền, và người nhận sẽ chọn mua cái mình thực sự muốn. Kết quả là số tiền được bỏ ra sẽ mang lại mức độ hài lòng cao nhất” [149]. Stephen Dubner và Steven Levitt cũng có quan điểm tương tự: chúng ta ngần ngại không muốn tặng nhau tiền chủ yếu vì đây là điều “xã hội cấm kỵ” – một quy định “làm tiêu tan giấc mơ của giới kinh tế học” về một “vụ trao đổi hiệu quả tuyệt vời”[150].

Trong phạm vi hẹp, phân tích hành vi tặng quà dưới góc độ kinh tế đã minh họa hai đặc điểm nổi bật của logic thị trường. Thứ nhất, nó cho thấy logic thị trường đã lén thâm nhập vào một vài phán xét đạo đức, cho dù các lý thuyết kinh tế thường tự khẳng định không quan tâm đến giá trị đạo đức. Waldfogel không hề phán xét tính đúng đắn của quan điểm phản đối tặng quà bằng tiền. Ông không bao giờ yêu cầu biện hộ cho nó. Ông chỉ đơn giản giả định nó cản trở một cách vô lý việc mọi người được hài lòng. Ông xem nó như một “thiết chế hỏng”, cần phải vượt qua [151]. Ông không quan tâm đến việc định kiến xã hội với những món quà bằng tiền có phải là chuẩn mực đáng gìn giữ như chuẩn mực về sự quan tâm trong tình bạn không.

Chúng ta nhấn mạnh mục tiêu của mọi món quà là tối đa hóa mức độ hài lòng có nghĩa là chúng ta giả định chắc chắn rằng: khái niệm tình bạn nghĩa là tối đa hóa mức độ hài lòng là quan điểm phù hợp nhất, và cách đối xử với bạn bè đúng đắn nhất là đáp ứng sở thích của họ, chứ không phải thách thức, hay tô đậm, hay làm phức tạp sở thích ấy lên.

Vì vậy, lập luận kinh tế phản đối tặng quà không hề trung lập về đạo đức. Nó thừa nhận một khái niệm nhất định về tình bạn – và khái niệm này bị rất nhiều người cho là sẽ làm xói mòn tình bạn. Nhưng cho dù nó không phù hợp về mặt đạo đức thế nào đi nữa thì quan điểm kinh tế về hành vi tặng quà đang dần có chỗ đứng. Từ đây, chúng ta thấy đặc điểm nổi bật thứ hai của ví dụ về tặng quà. Cho dù những giả định về đạo đức có gây tranh cãi thế nào đi nữa thì lối tư duy kinh tế về quà tặng vẫn cứ dần biến thành thực tế. Trong hai mươi năm qua, khía cạnh tiền bạc của quà tặng đã ngày càng lộ rõ.

TIỀN TỆ HÓA QUÀ TẶNG

Hãy xem sự nổi lên của phiếu mua quà. Thay vì phải tìm món quà phù hợp, người đi mua quà vào dịp lễ sử dụng ngày càng nhiều phiếu mua quà, là tấm thẻ có giá trị bằng tiền nhất định ghi trên nó, có thể dùng để mua sắm hàng hóa ở cửa hàng. Phiếu mua quà là cách thức trung gian, nằm ở giữa chọn món quà sao cho đúng và tặng tiền. Nó giúp chúng ta mua quà dễ dàng hơn và đem lại cho người nhận nhiều sự lựa chọn hơn. Một tấm phiếu mua quà trị giá 50 dollar ở các trung tâm mua sắm như Target, Walmart hay Saks Fifth Avenue giúp mọi người tránh được “tổn thất giá trị” khi mua nhầm phải chiếc áo len nhỏ hơn hai cỡ, bằng cách cho phép người nhận quà chọn thứ mà họ thực sự muốn. Và ở mức độ nào đó, phiếu quà vẫn khác với tặng tiền. Đúng, thực tế là người nhận biết chính xác bạn tặng họ bao nhiêu tiền – giá trị bằng tiền hiển hiện rất rõ. Tuy nhiên, tặng nhau phiếu mua quà do một cửa hàng phát hành không bị định kiến như khi đơn giản là tặng tiền. Có lẽ yếu tố quan tâm, chăm chút được thể hiện qua việc lựa chọn một cửa hàng phù hợp đã làm giảm bớt định kiến ở mức độ nhất định.

Xu hướng tiền tệ hóa quà tặng đã tăng vọt vào thập niên 1990, khi ngày càng có nhiều người mua quà sử dụng phiếu mua quà. Vào cuối thập niên 1990, xu hướng các cửa hàng chuyển sang sử dụng thẻ mua quà bằng nhựa với dải nam châm chiếm ưu thế. Từ năm 1998 đến 2010, doanh thu bán thẻ mua quà đã tăng gấp tám lần, đạt hơn 90 tỷ dollar. Theo các cuộc điều tra người tiêu dùng thì thẻ mua quà hiện là món quà được mong đợi nhất, hơn cả quần áo, trò chơi điện tử, thiết bị điện tử cá nhân, trang sức và các vật dụng khác [152].

Những người nệ cổ tỏ ra nuối tiếc trước xu hướng này. Judith Martin, người giữ chuyên mục các quy tắc xã giao dưới bút danh Cô nàng Phong cách đã phàn nàn rằng thẻ mua quà đã “tước đi phần hồn của ngày lễ”. Với thẻ mua quà, cơ bản là bạn trả tiền cho người khác – trả tiền để họ bỏ đi chỗ khác”. Liz Pulliam Weston, người giữ chuyên mục tài chính cá nhân thì lo ngại rằng “nghệ thuật tặng quà đang nhanh chóng biến thành giao dịch thương mại thuần túy”. Bà đặt câu hỏi: “Bao lâu nữa thì chúng ta chỉ tặng quà đơn giản theo cách là dúi nắm tiền vào tay nhau?” [153]

Từ quan điểm của lập luận kinh tế, việc chuyển sang tặng nhau thẻ mua quà là một bước đi đúng hướng. Nếu tiến được đến chỗ đưa tiền mặt cho nhau thì còn tốt hơn nữa. Tại sao? Vì mặc dù thẻ mua quà làm giảm tình trạng “tổn thất phúc lợi” xảy ra khi tặng quà, nhưng không xóa bỏ được hoàn toàn. Giả sử bác của bạn tặng bạn thẻ mua quà trị giá 100 dollar của cửa hàng đồ xây dựng và sửa chữa nhà cửa Home Depot. Như thế thì tốt hơn là tặng bạn một bộ dụng cụ gia đình trị giá 100 dollar mà bạn không thích. Nhưng nếu bạn không có nhu cầu mua dụng cụ hay thiết bị sửa chữa nhà cửa thì bạn sẽ muốn được tặng tiền hơn. Nói cho cùng, tiền chính là tấm thẻ mua quà sử dụng được ở tất cả mọi nơi.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi giải pháp thị trường cho tình trạng này đã ra đời. Một số công ty trên mạng chuyên mua lại thẻ mua quà (với giá thấp hơn giá trị ghi trên thẻ) và bán lại chúng. Ví dụ, một công ty có tên là Plastic Jungle sẽ mua lại tấm thẻ mua quà trị giá 100 dollar ở Home Depot của bạn với giá 80 dollar, rồi họ sẽ bán lại với giá 93 dollar. Tỷ lệ chiết khấu tùy thuộc vào mức độ phổ biến của cửa hàng. Với thẻ mua quà trị giá 100 dollar ở các siêu thị Walmart hay Target, Plastic Jungle sẽ trả 91 dollar. Thẻ mua quà trị giá 100 dollar ở cửa hàng sách Barnes and Noble, thật đáng buồn, chỉ có giá 77 dollar, thấp hơn cả thẻ của cửa hàng đồ ăn nhanh Burger King (79 dollar) [154].

Với các nhà kinh tế học lo ngại tặng quà làm tổn thất phúc lợi xã hội, thị trường thứ cấp này đã lượng hóa được phần phúc lợi bị tổn thất mà người nhận quà phải chịu khi bạn tặng họ thẻ mua quà thay vì tặng tiền: con số bị chiết khấu đi càng cao, chênh lệch giữa giá trị thẻ mua quà và giá trị tính bằng tiền càng lớn. Tất nhiên, tiền hay thẻ mua quà đều không phản ánh sự chu đáo, quan tâm như món quà truyền thống. Ưu điểm chu đáo và quan tâm đã bị mất đi khi chúng ta chuyển từ tặng quà sang tặng thẻ, và cuối cùng là tặng tiền.

Một nhà kinh tế học nghiên cứu thẻ mua quà đã đề xuất một giải pháp để cân bằng được tính hiệu quả của tiền với tính chu đáo, quan tâm của món quà truyền thống như sau: “Một người dự định tặng quà bằng thẻ mua quà có thể vừa tận dụng lợi ích của món quà bằng tiền, vừa thể hiện sự quan tâm bằng cách gửi tới người nhận một lời nhắn, trong đó gợi ý người nhận nên tiêu tiền ở đâu [với một danh sách các cửa hàng kèm theo]” [155].

Tặng tiền kèm theo lời nhắn trong đó gợi ý người nhận nên tiêu tiền ở đâu, nói cho cùng, chính là một món quà đã được tháo dỡ ra thành từng thành tố. Nó giống như chúng ta gói thành tố vị lợi và chuẩn mực thể hiện tình cảm trong hai hộp khác nhau và buộc chúng với cùng một cái nơ.

Ví dụ tôi ưa thích về việc biến tặng quà thành hàng hóa là hệ thống tặng lại quà qua đường điện tử mới được cấp bằng sáng chế gần đây. Báo New York Times có một bài mô tả về hệ thống tặng lại quà như sau: Giả sử bạn được người cô tặng một chiếc bánh ngọt hoa quả vào dịp Giáng sinh. Công ty làm bánh sẽ gửi bạn một bức thư điện tử, thông báo cho bạn biết về món quà tình cảm này và cho bạn lựa chọn có nhận quà không, hay đổi lấy một món quà khác, hay gửi chính cái bánh đó cho một người đáng tin cậy mà bạn muốn tặng quà. Vì mọi giao dịch đều diễn ra trên mạng nên bạn không phải lo việc đóng gói lại món quà và đem ra bưu điện. Nếu bạn chọn phương án tặng lại quà cho người khác, người nhận cũng sẽ được cung cấp các lựa chọn tương tự. Tức là chiếc bánh ngọt hoa quả không được mong muốn có thể bị đẩy qua đẩy lại vô định trên khắp không gian ảo [156].

Sự hỗn loạn có thể xảy ra: tùy vào chính sách tiết lộ thông tin của người bán hàng mà mỗi người được nhận quà trên hành trình của chiếc bánh có thể biết đường đi của nó. Lúc ấy thì thật khó xử. Nếu bạn biết chiếc bánh ngọt hoa quả đã bị vài người từ chối trước đó và giờ nó được đẩy cho bạn, bạn sẽ mất hẳn sự biết ơn vì món quà và không còn thấy nó thể hiện giá trị gì nữa. Cảm giác ấy hơi giống như khi bạn phát hiện ra bạn thân nhất của mình đã mua những lời chúc mừng đám cưới đầy tình cảm ở trên mạng.

MUA SỰ TÔN VINH

Mặc dù tiền không mua được tình bạn, nhưng nó vẫn mua được biểu hiện của tình bạn ở mức độ nào đó. Như chúng ta đã thấy, biến lời xin lỗi, lời phát biểu nâng cốc chúc mừng đám cưới và quà tặng thành hàng hóa không hề hủy hoại chúng, nhưng lại làm giá trị của chúng bị suy giảm. Lý do chúng bị suy giảm có liên quan dến lý do tại sao tiền không mua được tình bạn: Tình bạn và những hành vi xã hội giúp duy trì tình bạn được xây đắp nên bởi một số chuẩn mực, thái độ, giá trị nhất định. Biến chúng thành hàng hóa tức là làm mất đi những chuẩn mực như sự cảm thông, sự hào phóng, sự quan tâm, sự chu đáo; thay vào đó là các giá trị thị trường.

Một người bạn đi thuê không giống một người bạn thật; hầu như ai cũng chỉ ra được sự khác biệt giữa họ.

Ngoại lệ duy nhất tôi có thể nghĩ ra là nhân vật của Jim Carrey trong phim Chương trình của Truman (The Truman Show). Anh này sống cả đời ở một thị trấn có vẻ thanh bình, nhưng thực ra anh ta không biết nó là bối cảnh một chương trình truyền hình thực tế. Phải mất một thời gian anh ta mới phát hiện ra vợ và bạn thân nhất của mình là diễn viên được thuê đóng. Nhưng dĩ nhiên anh không phải người bỏ tiền ra thuê, người thuê là nhà sản xuất chương trình.

Điểm quan trọng khi mô phỏng tình bạn là: lý do khiến chúng ta (thường) không mua được bạn bè (mua bán bạn bè sẽ làm hỏng tình bạn) đã cho thấy thị trường làm xói mòn biểu hiện của tình bạn như thế nào. Lời xin lỗi hoặc lời chúc mừng đám cưới đi mua – cho dù nghe khá giống với lời nói thật lòng – luôn có xu hướng bị giảm giá trị. Tiền có thể mua được những thứ chúng ta vừa nói, nhưng cái mua được thường dưới dạng đã bị hư hại.

Những thứ liên quan đến sự tôn vinh cũng bị tổn hại tương tự. Không thể mua được giải Nobel. Nhưng còn các hình thức tôn vinh, công nhận khác thì sao? Ví dụ bằng cấp danh dự. Các trường đại học thường trao bằng danh dự cho các học giả, nhà khoa học, nghệ sỹ hoặc các quan chức ưu tú, xuất sắc. Nhưng một số người được trao bằng lại là những người hào phóng, đã đóng góp một số tiền lớn cho trường đại học. Liệu đây thực ra có phải bằng cấp đi mua không, hay họ thực sự được tôn vinh?

Khá là mơ hồ. Nếu trường nói thẳng ra lý do của họ thì sự minh bạch này sẽ làm mất giá trị tấm bằng. Giả sử lời phát biểu trong lễ phát bằng như sau: “Chúng tôi thường trao bằng danh dự cho các nhà khoa học, các nghệ sỹ vì thành tựu của họ. Nhưng chúng tôi trao cho ngài tấm bằng này để bày tỏ sự biết ơn vì ngài đã đóng góp 10 triệu dollar để chúng tôi xây thư viện mới”. Khi đó khó ai có thể gọi đây là bằng danh dự. Tất nhiên, không trường nào phát biểu như vậy cả. Họ thường nói về sự cống hiến cho xã hội, cam kết làm từ thiện và tận tâm với sứ mệnh của trường – những từ ngữ tôn vinh, làm lu mờ sự khác biệt giữa một tấm bằng danh dự và một tấm bằng đi mua.

Có thể đặt câu hỏi tương tự với việc mua bán quyền nhập học ở các trường đại học nổi tiếng. Trường đại học không đấu giá chỗ nhập học, ít nhất họ không công khai làm vậy. Rất nhiều trường đại học nổi tiếng có thể tăng doanh thu cho trường nếu họ bán vị trí sinh viên năm thứ nhất cho người trả giá cao nhất. Nhưng kể cả khi họ muốn tối đa hóa doanh thu thì họ cũng không đấu giá tất cả chỉ tiêu nhập học. Nếu họ làm vậy thì nhu cầu nhập học sẽ giảm, không chỉ bởi chất lượng chuyên môn giảm mà còn vì niềm vinh dự khi được nhận vào học không còn nữa. Khó mà có thể tự hào khi bạn (hoặc con bạn) được chấp nhận vào học ở Đại học Stanford hay Princeton khi những trường này thường xuyên bán chỉ tiêu nhập học và ai cũng biết điều đó. Cùng lắm thì bạn cũng chỉ tự hào như khi mua được một chiếc du thuyền.

Tuy nhiên, giả sử phần lớn chỉ tiêu nhập học là dành cho những người xuất sắc, nhưng có một vài chỗ là để bán không công khai. Và giả sử có rất nhiều tiêu chí được xét nhập học: điểm học ở trường phổ thông, điểm thi kỳ thi SAT, các hoạt động ngoại khóa, tính đa dạng về chủng tộc và địa lý, lòng dũng cảm trong chiến đấu, tình trạng thừa kế (con cái của một cựu sinh viên); cho nên khó mà nói được trong từng trường hợp thì tiêu chí nào là quan trọng nhất. Trong điều kiện như vậy, trường đại học có thể bán một vài chỉ tiêu cho các nhà trợ giàu có mà không làm ảnh hưởng đến niềm vinh dự của những người được một trường đại học hàng đầu nhận vào học.

Các nhà phê bình giáo dục đại học cho rằng tình huống này khá gần với thực tế đang diễn ra ở các trường đại học ngày nay. Họ mô tả “ưu tiên thừa kế”, tức là ưu tiên chấp nhận hồ sơ của con cái các cựu sinh viên là một dạng chính sách ưu tiên người thiểu số dành cho người giàu. Ý họ muốn nhắc đến những trường hợp mà trường đại học đã nới lỏng tiêu chí xét tuyển cho những ứng viên không nổi bật lắm, cha mẹ không phải cựu sinh viên, nhưng giàu có và có khả năng sẽ đóng góp một số tiền đáng kể cho nhà trường [157].

Những người bảo vệ chính sách này cho rằng các trường đại học tư phụ thuộc tài chính rất nhiều vào nguồn đóng góp của cựu sinh viên và các nhà tài trợ giàu có, và khoản đóng góp của họ cho phép các trường cung cấp học bổng và hỗ trợ tài chính cho những sinh viên ít điều kiện hơn[158].

Vì vậy, khác với giải Nobel, việc được nhận vào trường đại học là một hàng hóa có thể mua bán được, miễn là việc mua bán được tiến hành một cách thận trọng. Liệu các trường đại học có nên làm như vậy không lại là một câu hỏi xa hơn. Ý tưởng bán quyền nhập học đại học gặp phải hai lập luận phản đối: thứ nhất là vấn đề công bằng, thứ hai là vấn đề tham nhũng. Lập luận phản đối liên quan đến tính công bằng cho rằng: nhận con cái của các nhà tài trợ giàu có vào học để đổi lấy một khoản tiền đóng góp khá lớn cho ngân quỹ của trường là hành vi bất công với những ứng viên không được đánh giá cao vì cha mẹ không giàu có. Những người phản đối theo tư tưởng này coi giáo dục đại học là một cơ hội, một thứ người dân được phép tiếp cận, và họ lo ngại rằng ưu tiên con nhà giàu sẽ kéo dài tình trạng bất công xã hội và kinh tế.

Lập luận còn lại về tham nhũng liên quan đến tính liêm chính của tổ chức. Những người theo tư tưởng phản đối thứ hai cho rằng giáo dục bậc cao không chỉ tạo điều kiện cho sinh viên ra trường có việc làm tốt mà nó còn mang theo những quan niệm nhất định: đó là tìm ra chân lý, thúc đẩy thành tựu học thuật và khoa học, khuyến khích dạy và học, trau dồi đạo đức công dân. Mặc dù trường đại học nào cũng cần tiền để theo đuổi mục tiêu, nhưng để cho nhu cầu tìm nguồn tài chính chiếm vai trò chi phối sẽ làm tăng rủi ro bóp méo các mục tiêu cuối cùng và xói mòn các giá trị nền tảng của trường đại học. Chính quan điểm phổ biến về sự “bán rẻ” là nguồn gốc khiến người ta cho rằng lập luận phản đối liên quan đến tham nhũng chủ yếu là về tính liêm chính – một tổ chức có trung thành với tư tưởng nền tảng tạo ra nó hay không.

HAI LẬP LUẬN PHẢN ĐỐI THỊ TRƯỜNG

Hai lập luận nói trên phản ánh cuộc tranh cãi về những thứ nên và không nên mua được bằng tiền. Lập luận về tính công bằng đặt câu hỏi về tính công bằng của các lựa chọn trên thị trường; trong khi đó lập luận về tham nhũng băn khoăn về những thái độ, chuẩn mực có thể bị tổn hại, xói mòn bởi mối quan hệ trên thị trường [159].

Lấy ví dụ về thận. Đúng là có thể dùng tiền mua một quả thận mà không ảnh hưởng gì đến giá trị của nó. Nhưng liệu có nên mua bán thận không? Những người trả lời là không thường đưa ra một trong hai lý do sau: Họ cho rằng những thị trường kiểu này là nhằm vào người nghèo – những người chọn cách bán thận không hẳn là vì tự nguyện (lập luận về tính công bằng). Hoặc họ giải thích là những thị trường kiểu này khuyến khích chúng ta có cái nhìn sai lầm, thờ ơ về con người, coi mỗi người chỉ là một tập hợp các bộ phận cơ thể (lập luận về sự tham nhũng).

Hay lấy ví dụ về con cái. Có thể tạo ra thị trường con nuôi. Nhưng có nên không? Những người phản đối đưa ra hai lý do: Thứ nhất, cho phép mua bán con cái sẽ đẩy những phụ huynh nghèo ra khỏi thị trường, hoặc khiến họ chỉ giành được những em bé rẻ tiền nhất, ít được yêu thích nhất (lập luận về tính công bằng). Thứ hai, đặt giá cho các em bé sẽ làm xói mòn chuẩn mực về tình yêu vô điều kiện của cha mẹ, giá cả của các em bé khác nhau sẽ nhấn mạnh thêm ý tưởng cho rằng giá trị của các em phụ thuộc vào chủng tộc, giới tính, tiềm năng trí tuệ, năng lực hoặc khiếm khuyết thể chất và các đặc điểm khác (lập luận về sự tham nhũng).

Cần dành chút thời gian để làm rõ hai lập luận về hạn chế đạo đức của thị trường. Lập luận về tính công bằng nhằm vào sự bất công xuất hiện khi con người mua bán hàng hóa trong tình thế bất công hoặc trong điều kiện thiếu thốn về mặt kinh tế. Theo lập luận này, những cuộc trao đổi trên thị trường không phải lúc nào cũng là tự nguyện như những người hâm mộ thị trường thường nói. Một người nông dân có thể đồng ý bán một quả thận hoặc giác mạc của mình để có tiền nuôi sống cả gia đình đang đói kém. Nhưng anh ta không thực sự tự nguyện làm như vậy. Thực tế là anh ta bị bắt buộc một cách bất công, do tình thế yêu cầu.

Lập luận về tham nhũng lại khác. Nó đề cập đến ảnh hưởng xấu của giá trị thị trường và việc mua bán trao đổi một số hàng hóa, dịch vụ. Theo lập luận này, một số yếu tố đạo đức sẽ bị suy giảm, bị mất đi nếu đem ra mua bán. Tạo ra điều kiện trao đổi công bằng cũng không giải quyết được tình trạng đó. Nó xảy ra cả trong tình huống công bằng và bất công.

Cuộc tranh luận kéo dài về mại dâm chính là ví dụ minh họa sự khác biệt nói trên. Một số người phản đối mại dâm vì họ cho rằng nó rất ít khi thực sự là tự nguyện (nếu như có tự nguyện). Theo họ, những người bán thân cho nhu cầu tình dục thường là do bắt buộc, có thể vì nghèo, vì nghiệm ma túy hoặc bị đe dọa bằng bạo lực. Đây là một cách giải thích theo lập luận về công bằng. Nhưng những người khác lại phản đối mại dâm với lý do mại dâm làm giảm giá trị của phụ nữ, bất kể họ có bị bắt buộc hay không. Theo họ, mại dâm là một dạng tham nhũng, làm mất phẩm giá phụ nữ, khuyến khích thái độ xấu đối với tình dục. Lập luận phản đối không phụ thuộc vào chuyện phụ nữ có đồng ý bán dâm không – nó phản đối mại dâm kể cả trong những xã hội không có nghèo đói hay những tình huống gái mại dâm cao cấp thích và tự nguyện chọn nghề này.

Mỗi lập luận đều dựa trên một tư tưởng đạo đức riêng. Lập luận về công bằng dựa trên tư tưởng tự nguyện, hay nói chính xác hơn, tự nguyện trên cơ sở hoàn cảnh công bằng. Một trong những lập luận chính ủng hộ sử dụng thị trường để phân phối hàng hóa cho rằng thị trường tôn trọng quyền tự do lựa chọn. Nó cho phép mọi người tự quyết định bán hàng hóa này hay hàng hóa kia với một mức giá nhất định.

Nhưng lập luận phản đối liên quan đến công bằng đã chỉ ra rằng một số lựa chọn lại không phải thực sự tự nguyện. Lựa chọn trên thị trường được đưa ra không tự nguyện khi một số người quá nghèo hoặc không có khả năng đàm phán một cách công bằng. Vì vậy, để biết một lựa chọn có phải tự nguyện hay không, chúng ta cần đặt câu hỏi: trong bối cảnh ấy, bất công xã hội nào làm mất đi sự tự nguyện theo đúng nghĩa? Sự bất công về quyền mặc cả đã ép buộc người yếu thế hơn, xói mòn tính công bằng trong thỏa thuận giữa hai bên như thế nào?

Lập luận phản đối liên quan đến tham nhũng lại dựa trên hệ tư tưởng đạo đức khác. Nó không đòi hỏi sự tự nguyện mà nó quan tâm đến ý nghĩa đạo đức của hàng hóa được đem ra trao đổi trên thị trường và bị giá thị trường làm suy giảm giá trị. Vì vậy, để xác định có nên mua bán quyền nhập học đại học hay không, chúng ta phải tranh luận về những giá trị đạo đức mà trường đại học cần theo đuổi. Chúng ta cũng phải đặt câu hỏi liệu việc mua bán quyền nhập học có gây tổn hại cho chính hàng hóa này không. Để quyết định có hay không nên tạo thị trường con nuôi, chúng ta cần biết mối quan hệ cha mẹ và con cái bị chi phối bởi những chuẩn mực nào, và việc mua bán trẻ em có làm xói mòn những tiêu chí đó không.

Hai lập luận nói trên có ý nghĩa khác nhau đối với thị trường. Lập luận liên quan đến tính công bằng không phản đối thị trường hóa một số hàng hóa nhất định vì chúng là những thứ quý báu, thiêng liêng, vô giá; mà nó phản đối việc mua bán hàng hóa trong tình trạng bất công dẫn tới điều kiện mặc cả của hai bên là không bình đẳng với nhau. Nó không phản đối thị trường hóa hàng hóa (cho dù đó là tình dục, thận người hay quyền nhập học đại học) trong một xã hội mà điều kiện nền tảng của mọi người là ngang nhau.

Ngược lại, lập luận liên quan đến tham nhũng chú trọng đến đặc điểm của bản thân hàng hóa và những chuẩn mực chi phối chúng. Vì vậy, không thể giải quyết nhược điểm này đơn giản bằng cách tạo ra điều kiện mặc cả công bằng. Ngay cả khi xã hội tương đối bình đẳng về quyền lực và tài sản, vẫn có những hàng hóa không thể mua được bằng tiền. Nguyên nhân là thị trường không đơn thuần là nơi trao đổi hàng hóa, nó còn mang một số giá trị nhất định. Và đôi khi giá trị thị trường sẽ lấn át những giá trị phi thị trường mà chúng ta cần gìn giữ.

LẤN ÁT GIÁ TRỊ PHI THỊ TRƯỜNG

Quá trình lấn át này diễn ra như thế nào? Các giá trị thị trường làm xói mòn, hủy hoại hoặc thay thế các giá trị phi thị trường ra sao? Logic kinh tế học truyền thống cho rằng thị trường hóa một hàng hóa – tức là đem nó ra mua bán – không làm thay đổi tính chất của nó. Giao dịch mua bán trên thị trường làm tăng hiệu quả kinh tế mà không ảnh hưởng gì đến bản thân hàng hóa. Đó là lý do tại sao các nhà kinh tế học thường đồng tình với việc áp dụng công cụ tài chính để khuyến khích hành vi có lợi; đầu cơ vé của những sự kiện được đánh giá cao như hòa nhạc, thi đấu thể thao, hay thậm chí lễ mixa; sử dụng hạn mức có thể mua bán để phân phối quyền phát thải, số người tị nạn hay việc sinh con; tặng tiền thay vì tặng quà; dùng thị trường để xóa đi khoảng cách chênh lệch giữa cung và cầu của mọi loại hàng hóa, kể cả thận người. Giao dịch trên thị trường sẽ giúp cả người mua và người bán có lợi hơn mà không làm ai bị ảnh hưởng – nếu ta giả định rằng các mối quan hệ thị trường và thái độ mà nó cổ vũ không làm suy giảm giá trị của hàng hóa được đem ra trao đổi.

Nhưng nhiều người vẫn nghi ngờ giả định nói trên. Chúng ta đã xem một loạt ví dụ minh họa điều đó. Khi thị trường vươn tới những khía cạnh của cuộc sống vốn bị chi phối bởi những chuẩn mực phi thị trường thì nhận định cho rằng thị trường không làm ảnh hưởng xấu đến hàng hóa được trao đổi đang trở nên không hợp lý. Có ngày càng nhiều nghiên cứu khẳng định một điều mà nhiều người cũng nhận thấy: công cụ tài chính và các cơ chế thị trường khác có thể có tác dụng ngược khi chúng lấn át các giá trị phi thị trường. Đôi khi, trả tiền để khuyến khích một hành vi lại khiến hành vi ấy ít xuất hiện hơn.

BÃI CHẤT THẢI HẠT NHÂN

Trong nhiều năm, Thụy Sỹ đã phải cố tìm một địa điểm để chứa chất thải hạt nhân. Mặc dù Thụy Sỹ chủ yếu sử dụng điện hạt nhân, nhưng rất ít địa phương chịu chứa chất thải hạt nhân trên địa bàn của mình. Có một nơi được thiết kế để chứa chất thải hạt nhân, là một ngôi làng nhỏ vùng núi Wolfenschiessen (dân số 2.100 người) thuộc miền Trung Thụy Sỹ. Năm 1993, ngay trước cuộc trưng cầu ý dân về vấn đề này, một số nhà kinh tế học đã tiến hành điều tra dân cư trong làng với câu hỏi: nếu quốc hội Thụy Sỹ quyết định đặt bãi chứa chất thải hạt nhân ở nơi họ sinh sống thì họ có chấp nhận không. Mặc dù nhiều người cho rằng bãi thải hạt nhân là một thứ không được ưa thích, nhưng đa số (51%) người dân lại trả lời rằng họ chấp nhận. Rõ ràng nhận thức về trách nhiệm công dân của họ đã lấn át nỗi lo ngại về rủi ro có thể xảy ra. Sau đó, các nhà kinh tế học bổ sung thêm một giả định có tính mua chuộc: giả sử quốc hội xây dựng bãi thải hạt nhân trong vùng và đề xuất đền bù cho mỗi công dân một số tiền nhất định mỗi năm thì sao [160].

Kết quả: số người ủng hộ giảm xuống thay vì tăng lên. Bổ sung thêm công cụ khuyến khích bằng tiền đã làm giảm tỷ lệ người ủng hộ đi một nửa, từ 51% còn 25%. Đề xuất tặng tiền đã làm giảm mức độ sẵn lòng chấp nhận bãi thải hạt nhân. Thậm chí tăng số tiền lên cũng không có tác dụng. Khi các nhà kinh tế học đề xuất số tiền đền bù cao hơn, kết quả vẫn không thay đổi. Người dân vẫn giữ nguyên ý kiến khi số tiền đền bù hàng năm lên tới 8.700 dollar một người, cao hơn mức thu nhập trung vị trong một tháng của một gia đình. Các nhà kinh tế học cũng thấy phản ứng tương tự hoặc ít kịch tính hơn trước đề xuất trả tiền ở những cộng đồng khác, nơi người dân phản đối bãi thải hạt nhân [161].

Điều gì đã xảy ra ở ngôi làng Thụy Sỹ kia? Tại sao khi không trả tiền thì lại có nhiều người chấp nhận bãi chứa chất thải hạt nhân hơn?

Lập luận kinh tế học chính thống cho rằng nếu trả tiền thì số người chấp nhận gánh nặng phải tăng lên chứ không phải giảm đi. Nhưng Bruno S. Frey và Felix OberholzerGee, hai nhà kinh tế học tiến hành nghiên cứu nói trên đã chỉ ra rằng đôi khi hiệu ứng giá lại bị lấn át bởi yếu tố đạo đức, ở đây là cam kết đem lại hàng hóa công cho xã hội. Với nhiều người dân làng, thái độ sẵn lòng chấp nhận bãi thải hạt nhân phản ánh tinh thần vì cộng đồng – họ hiểu rằng cả đất nước phụ thuộc vào năng lượng hạt nhân, và chất thải hạt nhân phải được chứa ở đâu đó. Nếu nơi họ ở được coi là an toàn nhất để chứa chất thải hạt nhân thì họ sẵn lòng nhận lấy gánh nặng. Trái với trách nhiệm công dân, việc đề xuất trả tiền cho người dân khiến họ cảm thấy họ đang bị hối lộ - một nỗ lực mua lá phiếu của họ. Thực tế, 83% số người từ chối tiền bù cho biết lý do là không thể hối lộ được họ [162].

Bạn có thể cho rằng áp dụng công cụ khuyến khích bằng tiền đơn giản là sẽ củng cố thêm tinh thần vì cộng đồng vốn đã tồn tại từ trước, qua đó sẽ tăng số người ủng hộ xây dựng bãi chứa chất thải hạt nhân. Nói cho cùng, hai động cơ – động cơ tài chính và động cơ trách nhiệm công dân – thì phải có hiệu lực mạnh hơn một chứ? Không hẳn. Thật sai lầm nếu nghĩ rằng các động cơ có tác dụng hỗ trợ nhau. Ngược lại, với những công dân tuyệt vời của Thụy Sỹ, triển vọng được đền bù riêng đã biến trách nhiệm công dân thành vấn đề tiền bạc. Sự có mặt của chuẩn mực thị trường đã lấn át nhận thức về trách nhiệm công dân. Và các tác giả nghiên cứu kết luận: “Ở đâu tinh thần cộng đồng chiếm ưu thế thì nếu tìm kiếm thêm sự ủng hộ cho việc xây dựng một công trình có lợi cho cả xã hội nhưng không được cộng đồng địa phương mong muốn bằng công cụ khuyến khích bằng tiền thì sẽ phải trả giá đắt hơn so với kết quả phân tích của lập luận kinh tế chính thống. Nguyên nhân là các công cụ ấy sẽ lấn át trách nhiệm công dân” [163].

Điều này không có nghĩa là chính phủ đơn giản chỉ cần đưa ra quyết định xây dựng bãi chứa chất thải hạt nhân tại địa phương. Quản lý kiểu độc đoán thậm chí còn làm xói mòn tinh thần vì cộng đồng hơn cả công cụ khuyến khích bằng tiền. Để người dân địa phương tự đánh giá rủi ro, cho phép họ tham gia vào việc quyết định địa điểm nào là tốt nhất cho cả xã hội, trao cho cộng đồng địa phương quyền đóng cửa những công trình nguy hiểm nếu cần – đây là những cách thu hút sự ủng hộ của cộng đồng chắc chắn hơn là tìm cách mua họ [164].

Mặc dù việc dùng tiền mặt bị phản đối, nhưng mọi người vẫn chấp nhận đền bù bằng tiền. Các cộng đồng địa phương thường nhận tiền đền bù khi các công trình công cộng – như sân bay, bãi rác, cơ sở xử lý rác thải – được xây dựng trên vùng đất họ sinh sống. Nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra rằng mọi người sẽ dễ chấp nhận được đền bù dưới hình thức hàng hóa công cộng hơn là tiền. Công viên công cộng, thư viện, cải thiện chất lượng trường học, trung tâm sinh hoạt cộng đồng, thậm chí đường dành cho người đi bộ và đi xe đạp là những hình thức đền bù được người dân địa phương ưa thích hơn là tiền [165].

Từ quan điểm hiệu quả kinh tế thì đây là một hiện tượng khó hiểu, thậm chí vô lý. Trên lý thuyết, tiền luôn luôn tốt hơn các loại hàng hóa công cộng, lý do tương tự như chúng ta đã tìm hiểu trong phần tặng quà. Tiền nào cũng giống nhau, không phân biệt. Nó giống như thẻ quà tặng có giá trị trên toàn cầu: Nếu người dân được đền bù bằng tiền mặt, họ luôn có thể quyết định sử dụng vận may của mình để đầu tư vào công viên công cộng, thư viện hay sân chơi nếu đó là những thứ đem lại độ hài lòng lớn nhất cho họ. Hoặc họ có thể chọn tiêu tiền cho cá nhân.

Nhưng logic này đã bỏ qua ý nghĩa của tinh thần hy sinh vì lợi ích chung. Với thiệt hại và sự bất tiện chung thì đền bù bằng hàng hóa công cộng phù hợp hơn bằng tiền cho từng người, vì hàng hóa công cộng bù đắp được gánh nặng và sự hy sinh chung mà cộng đồng phải gánh chịu từ quyết định đặt địa điểm cho công trình độc hại. Hành động trả tiền cho người dân để họ chấp nhận xây dựng một đường băng hay bãi chôn rác thải mới tại nơi ở của họ có thể bị coi là hối lộ để họ bằng lòng cho phép cộng đồng bị tổn hại. Nhưng một thư viện, sân chơi hay trường học mới sẽ bù đắp lại sự hy sinh của các công dân một cách tương xứng – có thể nói như vậy – thông qua việc tăng cường sức mạnh cho cộng đồng và tôn vinh tinh thần vì lợi ích chung của họ.

NGÀY QUYÊN GÓP VÀ ĐÓN CON MUỘN

Công cụ khuyến khích bằng tiền còn lấn át tinh thần vì cộng đồng trong những tình huống ít liên quan đến số phận hơn so với ví dụ về bãi thải hạt nhân. Mỗi năm, vào “ngày quyên góp”, các học sinh trung học ở Israel lại đến từng nhà để quyên góp tiền cho những mục đích tốt như nghiên cứu chống bệnh ung thư, hỗ trợ trẻ em khuyết tật, v.v... Hai nhà kinh tế học đã tiến hành thí nghiệm để xem công cụ khuyến khích bằng tiền có ảnh hưởng lên động cơ đi quyên góp của các em học sinh như thế nào.

Hai ông chia các em học sinh thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất được nghe một bài diễn văn động viên ngắn gọn về tầm quan trọng của mục tiêu quyên góp, sau đó các em lên đường đi quyên tiền. Hai nhóm còn lại cũng được nghe bài diễn văn tương tự, ngoài ra các em sẽ được thưởng tiền dựa trên số tiền quyên góp được. Nhóm thứ hai được 1%, còn nhóm thứ ba được 10%. Tiền thưởng không lấy từ số tiền quyên góp mà từ nguồn khác [166].

Bạn đoán nhóm nào sẽ quyên được nhiều tiền nhất? Nếu bạn trả lời là nhóm thứ nhất thì bạn đúng. Số tiền mà nhóm học sinh không được thưởng tiền quyên được nhiều gấp rưỡi nhóm được thưởng 1%. Nhóm được thưởng 10% quyên được nhiều tiền hơn nhóm được thưởng 1%, nhưng không nhiều bằng nhóm không được thưởng tiền. (So với nhóm thứ ba này, nhóm thứ nhất quyên được số tiền nhiều hơn 9%) [167].

Ý nghĩa đạo đức của câu chuyện này là gì? Các tác giả của nghiên cứu đã kết luận như sau: nếu bạn muốn dùng tiền để khuyến khích, tạo động cơ cho người khác, bạn nên “trả tiền cho đủ, hoặc đừng trả gì hết” [168]. Đúng là nếu trả đủ tiền thì bạn sẽ có cái bạn muốn, nhưng đó không phải là toàn bộ câu chuyện. Đây cũng là một bài học cho thấy tiền đã lấn át giá trị như thế nào. Ở một mức độ nào đó, thí nghiệm của hai nhà kinh tế học đã khẳng định thêm giả định quen thuộc cho rằng tiền có thể tạo động lực. Nói cho cùng, nhóm học sinh được thưởng 10% đã quyên được nhiều tiền hơn nhóm học sinh được thưởng chỉ 1%. Nhưng câu hỏi thú vị đặt ra là tại sao cả hai nhóm được thưởng tiền đều quyên được ít tiền hơn nhóm không được thưởng. Chủ yếu là vì khi ta trả tiền để các em học sinh làm việc tốt, ta đã thay đổi tính chất của việc ấy. Đến tận nhà mọi người để quyên góp tiền từ thiện không còn là thực hiện trách nhiệm công dân mà trở thành cách kiếm tiền thì đúng hơn. Động cơ kinh tế đã biến một hoạt động vì cộng đồng thành một công việc để có thu nhập. Các học sinh người Israel đã gặp phải tình trạng giống như người dân làng ở Thụy Sỹ: các chuẩn mực thị trường đã thay thế, hay ít nhất cũng làm xói mòn cam kết về đạo đức và trách nhiệm công dân của họ.

Một thí nghiệm khác cũng của hai nhà kinh tế học cho thấy bài học tương tự. Lần này họ thí nghiệm với một nhà trẻ ở Israel. Như chúng ta đã biết, chính sách phạt tiền với các vị phụ huynh đến đón con muộn đã không những không làm giảm mà còn làm tăng số phụ huynh đón con muộn. Số lượt đón con muộn thực tế đã tăng gần gấp đôi. Các vị phụ huynh coi tiền phạt như một khoản phí mà họ sẵn lòng chi trả. Mà không chỉ có vậy. Sau khoảng mười hai tuần, khi nhà trẻ bỏ khoản tiền phạt đi thì tỷ lệ phụ huynh đón con muộn vẫn không giảm. Một khi nghĩa vụ đón con đúng giờ đã bị xói mòn bởi công cụ bằng tiền thì thật khó tìm lại được ý thức trách nhiệm ban đầu [169].

Ba ví dụ về xây dựng bãi chứa chất thải hạt nhân, gây quỹ từ thiện và đón con muộn đã cho thấy sự có mặt của đồng tiền trong tình huống phi thị trường có thể làm thay đổi thái độ của con người như thế nào và lấn át cam kết về đạo đức và trách nhiệm công dân ra sao. Đôi khi, hiệu ứng xói mòn đạo đức do mối quan hệ thị trường gây ra còn lấn át cả hiệu ứng giá của nó: Đưa ra công cụ khuyến khích bằng tiền để khiến người nhận chấp nhận bãi thải hạt nhân, đi quyên tiền ở các hộ gia đình hay đến đón con đúng giờ không khiến họ sẵn lòng làm những việc đó hơn mà ngược lại.

Tại sao chúng ta lại lo ngại về xu hướng thị trường lấn át các tiêu chí phi thị trường? Vì hai lý do: một liên quan đến tiền, một liên quan đến đạo đức. Từ quan điểm kinh tế, các chuẩn mực xã hội như đạo đức công dân hay tinh thần vì cộng đồng đều là những thỏa thuận vĩ đại. Chúng khuyến khích những hành vi có lợi cho xã hội mà nếu dùng tiền mua thì sẽ rất tốn kém. Nếu phải dựa vào các công cụ khuyến khích bằng tiền để được cộng đồng người dân chấp nhận xây dựng bãi thải hạt nhân ở nơi họ ở, bạn sẽ phải trả nhiều tiền hơn nhiều so với khi dựa vào nhận thức về nghĩa vụ công dân của họ. Nếu bạn thuê học sinh để quyên tiền từ thiện thì bạn phải trả cho các em mức thưởng ít nhất là 10% số tiền quyên được thì mới có kết quả ngang với khi các em làm bằng tinh thần tình nguyện vì cộng đồng.

Nhưng nếu coi các chuẩn mực đạo đức và công dân đơn giản chỉ là công cụ khuyến khích người dân theo cách không tốn kém thì chúng ta đã bỏ qua giá trị thực chất của các chuẩn mực. (Nó giống như chúng ta coi thái độ khinh rẻ quà tặng bằng tiền là một thực tế ngăn cản chúng ta đạt được hiệu quả kinh tế, nhưng không thể đánh giá nó trên góc độ đạo đức). Chỉ dùng công cụ khuyến khích bằng tiền để thuyết phục người dân chấp nhận bãi thải hạt nhân không chỉ tốn kém mà còn có tính chất tham nhũng. Nó bỏ qua bước thuyết phục và thái độ sẵn lòng chấp nhận của người dân sau khi cân nhắc về những rủi ro mà bãi thải hạt nhân mang lại so với sự cần thiết phải có nó đối với cả cộng đồng. Tương tự, trả tiền cho học sinh để các em đi quyên tiền vào ngày quyên góp không chỉ làm tăng chi phí quyên góp; nó còn làm mất đi tinh thần vì cộng đồng, bóp méo ý nghĩa giáo dục về đạo đức và trách nhiệm công dân.

HIỆU ỨNG THƯƠNG MẠI HÓA

Rất nhiều nhà kinh tế học giờ đây đã nhận thấy thị trường có thay đổi đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ mà nó chi phối. Gần đây, một trong những người đầu tiên quan tâm đến hiệu ứng xói mòn mà thị trường gây ra đối với các chuẩn mực phi thị trường là Fred Hirsch – nhà kinh tế học người Anh, cố vấn cao cấp của Quỹ Tiền tệ quốc tế. Trong cuốn sách xuất bản năm 1976 – cũng là năm cuốn sách rất có ảnh hưởng Cách tiếp cận kinh tế đối với hành vi của con người của Gary Becker được xuất bản, và ba năm trước khi Margaret Thatcher được bầu làm Thủ tướng Anh – Hirsch đã lật lại giả định cho rằng giá trị của hàng hóa không thay đổi, bất kể nó được cung cấp bởi thị trường hay hình thức nào khác.

Hirsch cho rằng kinh tế học chính thống đã không nhận thấy cái mà ông gọi là “hiệu ứng thương mại hóa”. Cụm từ này nghĩa là “ảnh hưởng lên đặc tính của một sản phẩm hay việc cung ứng nó hoàn toàn hoặc đa phần là do yếu tố thương mại gây ra, chứ không phải các nguyên nhân khác như mua bán phi chính thức, nghĩa vụ hai bên, sự vị tha, tình yêu, mong muốn được phục vụ người khác”. “Giả định thông thường – vốn luôn được ngầm định – là quá trình thương mại hóa một sản phẩm không làm ảnh hưởng đến nó”. Hirsch quan sát thấy giả định sai lầm này ngày càng phổ biến khi “kinh tế ngày càng thống trị”, với những nỗ lực của Becker và nhiều người khác nhằm đưa logic kinh tế vào nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội và chính trị [170].

Hai năm sau, Hirsch qua đời ở tuổi 47, nên ông không có cơ hội phát triển luận điểm phê phán kinh tế học chính thống của mình. Trong các thập niên sau đó, cuốn sách của ông trở thành một “tiểu kinh điển” đối với những người phản đối quá trình thương mại hóa đời sống cũng như lập luận kinh tế ủng hộ nó. Ba ví dụ chúng ta đưa ra ở trên đã minh chứng cho tư tưởng của Hirsch – rằng việc áp dụng công cụ khuyến khích bằng tiền và cơ chế thị trường có thể thay đổi thái độ của con người và lấn át các giá trị phi thị trường. Gần đây, các nhà kinh tế học thực nghiệm khác cũng tìm thêm được bằng chứng của sự tồn tại của hiệu ứng thương mại hóa.

Ví dụ, Dan Ariely, thuộc đội ngũ những nhà kinh tế học hành vi ngày càng đông hiện nay, đã tiến hành một loại thí nghiệm để chứng minh rằng trả tiền cho mọi người để họ làm việc gì đó lại khiến họ không nỗ lực bằng khi đề nghị họ làm và không trả tiền, nhất là với những việc tốt. Ông kể lại một chuyện thực minh họa kết luận của mình. Hiệp hội Hưu trí Mỹ hỏi một nhóm luật sư liệu họ có sẵn lòng cung cấp dịch vụ cho người về hưu khi cần với mức giá “khuyến mại” là 30 dollar một giờ không. Các luật sư từ chối. Sau đó Hiệp hội lại đề nghị các luật sư giúp người về hưu miễn phí. Lần này các luật sư đồng ý. Khi rõ ràng họ được mời tham gia một hoạt động thiện nguyện chứ không phải một giao dịch trên thị trường thì họ cũng thể hiện thái độ thiện nguyện [171].

Ngày càng nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý xã hội đã đưa ra cách giải thích cho hiệu ứng thương mại hóa. Những nghiên cứu này nhấn mạnh sự khác biệt giữa động cơ bên trong (như niềm tin đạo đức hoặc lòng yêu thích công việc) và động cơ bên ngoài (tiền hoặc các phần thưởng hữu hình khác). Khi con người tham gia vào một công việc mà họ cho là đáng làm thì việc trả tiền có thể làm giảm động lực làm việc của họ vì trả tiền sẽ làm xói mòn hoặc “lấn át” lòng yêu thích hoặc niềm tin mà họ dành cho công việc đó [172].

Theo lý thuyết kinh tế chính thống, mọi động cơ – bất kể đặc điểm hay nguồn gốc của chúng là gì – đều được phân tích trên nguyên lý sự ưa thích và được giả định chúng bổ sung lẫn nhau. Nhưng cách phân tích này đã bỏ qua tác động xói mòn của đồng tiền. Hiện tượng lấn át có ý nghĩa rất lớn lên lý thuyết kinh tế học. Nó đặt ra câu hỏi liệu có nên sử dụng cơ chế thị trường và lập luận thị trường trong nhiều lĩnh vực đời sống, trong đó có công cụ khuyến khích bằng tiền để tạo động lực trong giáo dục, y tế, nơi làm việc, hiệp hội tình nguyện, trách nhiệm công dân và các tình huống mà động cơ bên trong lẫn niềm tin đạo đức đóng vai trò quan trọng hay không. Bruno Frey (tác giả nghiên cứu về chọn địa điểm đặt bãi thải hạt nhân ở Thụy Sỹ) và nhà kinh tế học Reto Jegen đã tóm tắt như sau: “Người ta có thể cho rằng ‘hiệu ứng lấn át’ là một trong những điểm bất thường quan trọng nhất trong kinh tế học, vì nó đem lại kết quả trái ngược với những ‘định luật’ kinh tế cơ bản nhất nói rằng công cụ khuyến khích bằng tiền làm tăng cung. Nếu hiệu ứng lấn át xảy ra, việc sử dụng công cụ khuyến khích bằng tiền sẽ làm giảm chứ không phải tăng cung hàng hóa” [173].

BÁN MÁU

Có lẽ ví dụ nổi tiếng nhất minh họa cho việc thị trường lấn át các chuẩn mực phi thị trường là nghiên cứu kinh điển về hiến máu nhân đạo của nhà xã hội học người Anh Richard Titmuss. Trong cuốn sách xuất bản năm 1970 có tên Mối quan hệ cho nhận (The Gift Relationship), Titmuss đã so sánh hệ thống thu gom máu của Anh, nơi toàn bộ máu dùng để truyền là do người tình nguyện hiến tặng, với hệ thống của Mỹ, nơi một phần máu dùng để truyền là do người tình nguyện hiến tặng, phần khác là do có những người bán máu để kiếm tiền. Titmuss đưa ra lập luận ủng hộ hệ thống của Anh và phản đói việc coi máu là hàng hóa để mua bán trên thị trường.

Titmuss đưa ra một loạt dữ liệu chứng minh rằng xét về mặt kinh tế và thực tiễn, hệ thống thu gom máu của Anh tốt hơn hệ thống của Mỹ. Mặc dù thị trường được coi là hiệu quả, nhưng hệ thống của Mỹ thường dẫn đến hậu quả là thiếu máu thường xuyên, lãng phí máu, chi phí cao và rủi ro máu bị nhiễm độc cao [174]. Đồng thời Titmuss cũng đưa ra lập luận đạo đức phản đối việc mua bán máu.

Lập luận đạo đức của Titmuss phản đối việc thương mại hóa máu đã minh họa cho hai lập luận phản đối thị trường mà chúng ta đã thảo luận trước đây – lập luận liên quan đến tính công bằng và về tham nhũng. Ông cho rằng thị trường máu chỉ khai thác người nghèo (lập luận liên quan đến tính công bằng). Ông quan sát thấy các ngân hàng máu hoạt động vì lợi nhuận của Mỹ chủ yếu lấy máu từ những người vô gia cư đang rất cần tiền. Việc thương mại hóa máu dẫn đến đa phần máu ở đây là “do những người nghèo, người có trình độ thấp, người thất nghiệp, người da đen và những người có thu nhập thấp khác cung cấp”. Ông viết: một “tầng lớp mới đang xuất hiện trong nhóm dân cư bị khai thác máu, đó là những người có khả năng bán nhiều máu”. Hiện tượng tái phân phối máu “từ người nghèo sang người giàu đang là một trong những ảnh hưởng lớn mà hệ thống ngân hàng máu của Mỹ gây ra” [175].

Nhưng Titmuss còn phản đối vì một lý do khác nữa: biến máu thành hàng hóa trên thị trường đã làm xói món nhận thức của người dân về nghĩa vụ hiến máu, làm mất dần tinh thần vị tha và làm suy giảm “mối quan hệ cho nhận” – một đặc điểm quan trọng trong đời sống xã hội (lập luận phản đối liên quan đến tham nhũng). Khi xem xét trường hợp nước Mỹ, ông phàn nàn về “tình trạng hiến máu giảm đi trong những năm gần đây” và cho rằng nguyên nhân là sự phát triển các ngân hàng máu thương mại. “Thương mại hóa và lợi nhuận từ kinh doanh máu đã làm mất đi tinh thần tự nguyện hiến máu”. Theo Titmuss, một khi con người bắt đầu coi máu là hàng hóa thường được đem ra mua bán thì họ dần không còn cảm giác hiến máu là một trách nhiệm đạo đức phải làm. Ở đây, ông muốn nhắc đến hiệu ứng lấn át mà mối quan hệ thị trường gây ra đối với các chuẩn mực phi thị trường cho dù ông không dùng chính xác cụm từ kia. Việc mua bán máu diễn ra phổ biến đã làm mất đi ý nghĩa đạo đức của việc hiến máu [176].

Titmuss lo ngại không chỉ về tinh thần tình nguyện hiến máu mà cả về hậu quả đạo đức nói chung. Ngoài ảnh hưởng tiêu cực lên chất và lượng máu được cung cấp, tinh thần cho tặng giảm sút sẽ góp phần tạo ra đời sống đạo đức và xã hội nghèo nàn. “Dường như tình trạng mất đi lòng vị tha trong khía cạnh này của đời sống con người sẽ đi cùng với sự thay đổi tương tự trong thái độ, động cơ và mối quan hệ trong khía cạnh khác” [177].

Hệ thống dựa vào thị trường không cản trở bất cứ ai muốn hiến máu, nhưng các giá trị thị trường chi phối hệ thống đã gây ra hiệu ứng xói mòn lên sự cho tặng. “Cách thức xã hội tổ chức, cấu trúc các thể chế xã hội, đặc biệt là hệ thống y tế và phúc lợi, có thể khuyến khích hoặc cản trở tình vị tha trong con người. Những hệ thống này có thể tạo ra hợp tác hoặc bất hòa, có thể cho phép ‘tinh thần cho tặng’ – sự hào phóng với người lạ – được lan tỏa bên trong và giữa các cộng đồng xã hội, các thế hệ với nhau”. Titmuss sợ rằng đến một lúc nào đó, xã hội theo định hướng thị trường sẽ lạnh nhạt với lòng vị tha đến mức có thể cho rằng chúng làm mọi người không còn tự do cho tặng nhau nữa. Titmuss kết luận, việc “thương mại hóa máu và mối quan hệ hiến máu tình nguyện khiến con người không còn thể hiện được lòng vị tha” và làm “xói mòn tinh thần cộng đồng” [178].

Cuốn sách của Titmuss gây ra rất nhiều tranh cãi. Trong số những người phản đối có Kenneth Arrow, một trong những nhà kinh tế học Mỹ lớn nhất vào thời đại của ông. Arrow không phải người ủng hộ thị trường tự do như Milton Friedman. Trong những nghiên cứu đầu tiên, ông đã phân tích khiếm khuyết của thị trường trong lĩnh vực y tế. Nhưng ông đặc biệt phản đối lập luận của Titmuss phê phán kinh tế học và tư duy thị trường [179]. Arrow đã sử dụng đến hai nguyên lý cơ bản của niềm tin vào thị trường, đó là hai giả định về bản chất của con người và đời sống đạo đức mà các nhà kinh tế học thường khẳng định nhưng rất ít khi chứng minh.

HAI NGUYÊN LÝ CỦA NIỀM TIN THỊ TRƯỜNG

Nguyên lý thứ nhất là thương mại hóa không làm thay đổi tính chất của sản phẩm. Theo giả định này, tiền không bao giờ làm xói mòn mọi thứ, và mối quan hệ thị trường không bao giờ lấn át các chuẩn mực thị trường. Nếu giả định thứ nhất là đúng thì khó mà ngăn cản được thị trường vươn tới mọi khía cạnh của đời sống. Nếu một hàng hóa trước kia chưa từng được mua bán giờ được đem ra thị trường thì nó cũng không gây ra tổn thất gì. Những người muốn mua bán hàng hóa có thể làm như vậy, qua đó gia tăng độ hài lòng của họ. Còn những người coi nó là vô giá thì vẫn được quyền không tham gia mua bán nó. Theo logic như vậy, cho phép mua bán hàng hóa trên thị trường sẽ làm cho một số người có lợi hơn mà không ảnh hưởng đến lợi ích của người khác – kể cả khi hàng hóa được đem ra mua bán là máu. Như Arrow giải thích: “Các nhà kinh tế học thường hiển nhiên cho rằng vì thị trường làm tăng lựa chọn của một cá nhân nên nó sẽ mang lại lợi ích lớn hơn. Vì vậy, khi tạo ra thị trường bán máu bên cạnh hệ thống hiến máu tình nguyện, chúng ta chỉ mở rộng thêm lựa chọn cho mọi người. Nếu một người cảm thấy hài lòng khi hiến máu – theo lập luận thông thường – thì anh ta vẫn có thể tiếp tục, và chẳng cái gì bị ảnh hưởng cả” [180].

Cách tư duy này phụ thuộc nhiều vào quan điểm cho rằng thiết lập thị trường máu không làm thay đổi giá trị, ý nghĩa của máu. Máu luôn là máu, và nó luôn phục vụ mục đích duy trì cuộc sống bất kể nó là được hiến tặng hay được mua. Tất nhiên, cái tốt đẹp ở đây không chỉ là máu mà còn là hành động hiến máu vì người khác. Titmuss gắn giá trị đạo đức độc lập với tính hào phóng vốn là động lực của việc cho tặng. Nhưng Arrow không tin thị trường có thể gây ảnh hưởng gì đến việc cho tặng: “Tại sao thị trường máu ra đời lại làm mất đi sự vị tha khi hiến máu?”[181]

Câu trả lời là thương mại hóa máu đã làm thay đổi ý nghĩa của việc hiến máu. Hãy xem: Trong một thế giới mà máu thường xuyên được đem ra mua bán thì việc đến văn phòng Chữ Thập đỏ địa phương để hiến một túi máu có còn là hành động thể hiện sự hào phóng không? Hay nó trở thành một hành vi bất công vì đã tước đi lợi ích của một người đang cần phải bán máu? Nếu bạn muốn đóng góp vào ngân hàng máu thì tự hiến máu tốt hơn hay góp 50 dollar để mua máu từ một người vô gia cư đang cần tiền sẽ tốt hơn? Có thể cho phép người theo chủ nghĩa vị tha bối rối trong tình huống này.

Nguyên lý thứ hai của niềm tin thị trường thể hiện trong lập luận phê phán của Arrow là: hành vi đạo đức là một hàng hóa cần được thương mại hóa. Tư tưởng chính ở đây là: chúng ta không nên quá dựa dẫm vào lòng vị tha, hào phóng, đoàn kết hay trách nhiệm công dân, vì những phẩm chất đạo đức này đề là nguồn lực khan hiếm, sẽ cạn kiệt dần trong quá trình sử dụng. Thị trường – một thể chế dựa vào lợi ích cá nhân – cho phép chúng ta không phải dùng hết nguồn cung đạo đức giới hạn ấy. Ví dụ, nếu chúng ta chỉ dựa vào sự hào phóng của xã hội để duy trì nguồn cung máu thì sẽ làm bớt đi sự hào phóng dành cho các mục tiêu xã hội hay từ thiện khác. Nhưng nếu chúng ta dùng hệ thống giá để tạo nguồn cung máu thì lòng vị tha sẽ vẫn được duy trì, không bị mất đi khi chúng ta thực sự cần đến nó. Arrow viết: “Như nhiều nhà kinh tế học, tôi không muốn quá phụ thuộc vào đạo đức thay cho lợi ích cá nhân. Tôi nghĩ tốt nhất là chúng ta chỉ yêu cầu mọi người phải cư xử một cách có đạo đức trong trường hợp hệ thống giá bị sụp đổ... Chúng tôi không muốn sử dụng bừa bãi nguồn tài nguyên vị tha vốn rất khan hiếm” [182].

Dễ thấy nhận thức về đạo đức từ góc độ kinh tế như trên – nếu đúng – sẽ là nền tảng vững chắc cho việc mở rộng thị trường tới mọi khía cạnh của cuộc sống vốn bị chi phối bởi những giá trị phi thị trường. Nếu bản chất nguồn cung lòng vị tha, hào phóng và đạo đức công dân là cố định, giống như cung nhiên liệu hóa thạch vậy, thì chúng ta nên cố gắng bảo tồn nó. Chúng ta càng dùng đến nó nhiều thì sẽ còn càng ít. Với giả định như vậy, dùng thị trường nhiều hơn và ít trông chờ vào đạo đức hơn chính là một cách để bảo tồn nguồn lực khan hiếm.

KINH TẾ HÓA TÌNH YÊU

Phát biểu kinh điển về ý tưởng này nằm trong bài giảng tại lễ kỷ niệm 200 năm Đại học Columbia năm 1954 của Ngài Dennis H. Robertson, nhà kinh tế học thuộc Đại học Cambridge, từng là sinh viên của John Maynard Keynes. Tiêu đề bài giảng của Robertson là một câu hỏi: “Các nhà kinh tế học kinh tế hóa những gì?” Ông muốn chỉ ra rằng mặc dù các nhà kinh tế học tư duy dựa trên “bản năng xông xáo và hám lợi” của con người, nhưng họ vẫn quan tâm đến mục tiêu đạo đức [183].

Robertson bắt đầu bằng việc thừa nhận rằng kinh tế học thường được coi là phục vụ mong muốn kiếm lợi nên không quan tâm đến những động cơ cao quý nhất của con người. “Việc của các nhà thuyết pháp, cả thế tục lẫn tôn giáo” mới là khắc sâu vào tâm trí người khác những phẩm chất cao quý như lòng vị tha, nhân từ, hào phóng, đoàn kết và trách nhiệm công dân. “Nhiệm vụ khiêm tốn hơn và thường gây ác cảm của nhà kinh tế học là làm giảm bớt công việc của giới thuyết pháp hết mức có thể” [184].

Nhà kinh tế học làm việc đó như thế nào? Bằng cách khuyến khích những chính sách dựa vào lợi ích cá nhân hơn là lòng vị tha hay nhận thức về đạo đức mỗi khi có thể, các nhà kinh tế học đã giúp xã hội tránh được lãng phí nguồn cung đạo đức khan hiếm. Robertson kết luận: “Nếu giới kinh tế học chúng ta làm việc tốt thì tôi tin rằng chúng ta có thể đóng góp đáng kể vào việc kinh tế hóa... nguồn lực khan hiếm của Tình yêu”, là “thứ quý giá nhất trên thế giới” [185].

Với những người không hiểu lắm về kinh tế học, cách nhìn nhận của Robertson về các giá trị đạo đức thật lạ lùng, thậm chí là cường điệu. Cách nhìn này bỏ qua khả năng chúng ta có thể yêu thương nhau nhiều hơn và nhân từ hơn khi trao nhận yêu thương. Lấy ví dụ một cặp đôi yêu nhau. Nếu suốt cuộc đời họ chỉ yêu cầu người kia yêu mình một chút với hy vọng sẽ để dành được tình yêu lâu dài thì liệu họ có hạnh phúc khi bên nhau không? Nếu họ đòi hỏi tình yêu từ người kia nhiều hơn thì tình yêu của họ phải sâu đậm hơn chứ? Liệu họ có ổn hơn không nếu đối xử với nhau một cách tính toán hơn để giữ gìn tình yêu cho những lúc họ thực sự cần nó?

Có thể đặt ra những câu hỏi tương tự về tình đoàn kết xã hội và trách nhiệm công dân. Liệu chúng ta có nên bảo tồn trách nhiệm công dân bằng cách đề nghị mọi người cứ đi mua sắm cho đến khi đất nước kêu gọi họ hy sinh cho lợi ích chung? Hay trách nhiệm công dân và tinh thần vì cộng đồng sẽ mất dần đi khi không được dùng đến? Rất nhiều nhà đạo đức học nhất trí với vế sau. Aristotle từng nói: đạo đức là cái mà chúng ta phải nuôi dưỡng bằng cách thực hành nó: “chúng ta sẽ trở nên công bằng nếu luôn làm điều công bằng, sẽ chừng mực nếu luôn làm việc chừng mực, sẽ can đảm nếu luôn hành động can đảm” [186].

Rousseau có quan điểm tương tự. Tổ quốc càng đòi hỏi nhiều từ công dân thì công dân càng cống hiến nhiều cho Tổ quốc. “Thành bang nào được cai trị tốt thì mọi người đều chạy đến ngay cuộc họp toàn dân”. Còn nơi nào có chính phủ tệ hại thì sẽ không ai tham gia việc công “vì không ai quan tâm chuyện gì đang diễn ra” và “việc nhà đã chiếm hết thời gian của họ”. Vai trò công dân nếu được thực hiện tích cực thì sẽ bồi đắp chứ không hề làm cạn kiệt trách nhiệm công dân. Ngay khi trách nhiệm xã hội không còn là việc chính của các công dân thì họ sẽ làm việc chung bằng tiền chứ không phải bằng chính con người họ, và ngày sụp đổ của nhà nước không còn xa” [187].

Robertson đưa ra kết quả quan sát của mình một cách vô tư, mang tính suy đoán. Nhưng quan niệm cho rằng tình yêu và sự hào phóng là những nguồn lực khan hiếm, sẽ cạn kiệt dần khi bị đem ra sử dụng vẫn tiếp tục chiếm ưu thế trong tư tưởng đạo đức của nhiều nhà kinh tế học cho dù họ không nói công khai điều đó. Nó không phải một nguyên lý chính thống được in trong sách giáo khoa như luật cung và luật cầu. Không ai chứng minh được nó bằng thực nghiệm. Nó giống như một câu cách ngôn, một câu tục ngữ mà nhiều nhà kinh tế học vẫn tin tưởng.

Gần nửa thế kỷ sau bài giảng của Robertson, nhà kinh tế học Lawrence Summers, lúc đó là hiệu trưởng Đại học Harvard được mời tới giảng trong buổi cầu kinh sáng ở Nhà thờ tưởng niệm Harvard. Ông đã chọn chủ đề: “Kinh tế học có thể đóng góp gì cho tư duy các vấn đề đạo đức”. Ông cho rằng kinh tế học “ít khi được đánh giá cao về ý nghĩa đạo đức cũng như thực tế” [188].

Summers quan sát thấy các nhà kinh tế học “rất nhấn mạnh vào tôn trọng các cá nhân cũng như các nhu cầu, sở thích, lựa chọn, phán xét của riêng họ”. Và ông đưa ra lập luận vị lợi chính thống rằng lợi ích chung là tổng lợi ích chủ quan của tất cả mọi người: “Cơ sở của hầu hết các phân tích kinh tế đều là: lợi ích chung là tổng lợi ích riêng mà mỗi cá nhân tự đánh giá cho bản thân mình chứ không phải là cái có thể đánh giá” tách biệt khỏi sở thích của mỗi cá nhân như quan điểm của thuyết đạo đức độc lập.

Ông minh họa cách tiếp cận này bằng cách đặt câu hỏi cho những sinh viên từng tham gia phong trào tẩy chay hàng hóa của các công ty bóc lột lao động: “Tất cả chúng ta đều phàn nàn về điều kiện lao động của rất nhiều người trên trái đất này và số tiền lương họ nhận được. Và chắc chắn có sức ép đạo đức phản đối quan điểm cho rằng chừng nào người lao động muốn đi làm thì đó là việc làm mà họ lựa chọn vì họ đã cố tìm ra lựa chọn tốt nhất rồi. Liệu việc thu hẹp lựa chọn của cá nhân có phải một hành động thể hiện sự tôn trọng, nhân đạo, thậm chí đáng quan tâm không?”

Với những người phê phán thị trường vì thị trường hoạt động dựa vào tính ích kỷ và tham lam, Summers phản hồi như sau: “Có quá nhiều người theo chủ nghĩa vị tha trong chúng ta. Những nhà kinh tế học như tôi coi chủ nghĩa vị tha là một hàng hóa quý giá, hiếm hoi, cần được bảo tồn. Sẽ càng tốt hơn nếu bảo tồn nó bằng cách thiết kế một hệ thống giúp thỏa mãn mong muốn của mọi người bằng tính ích kỷ cá nhân, còn lòng vị tha là để dành cho gia đình, bạn bè và vô số vấn đề xã hội đang tồn tại trên thế giới mà thị trường không giải quyết được”.

Đây là lời khẳng định lại ý kiến của Robertson. Lưu ý rằng cách nói của Summer còn thẳng thắn hơn Arrow: Việc sử dụng bừa bãi lòng vị tha trong đời sống xã hội và kinh tế không chỉ làm cạn kiệt nguồn cung vị tha cho các mục đích xã hội khác mà còn làm giảm phần vị tha mà chúng ta dành cho gia đình và bạn bè.

Cách nhìn nhận đạo đức dưới góc độ kinh tế đã khẳng định thêm niềm tin vào thị trường và đẩy tầm ảnh hưởng của thị trường vươn tới những nơi vốn không dành cho nó. Nhưng cách nói ẩn dụ này dễ gây hiểu lầm. Lòng vị tha, hào phóng, tính đoàn kết và tinh thần công dân không giống những hàng hóa bị cạn kiệt dần khi sử dụng. Chúng giống như cơ bắp, được hình thành và phát triển mạnh mẽ hơn khi được tập luyện. Một trong những nhược điểm của xã hội theo định hướng thị trường là nó làm cho các giá trị đạo đức bị mất dần đi. Để thay đổi đời sống chung, chúng ta cần rèn luyện đạo đức thường xuyên hơn nữa.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.