Tây Du Ký - Chương 59: Thương thầy Tam Tạng, gặp Hỏa Diệm sơn Lầm quạt Ba tiêu, cười Tôn Hành Giả

Tam Tạng bị nghẽn tại núi Hỏa Diệm

Hành Giả lần đầu lấy quạt ba tiêu

Tam Tạng tuân theo Bồ Tát dạy bảo, thu dụng Hành Giả, cùng Bát Giới, Sa Tăng một lòng một dạ đi sang Tây Thiên. Nói chẳng xiết thời giờ mau chóng, ngày tháng như thoi, trải qua trời hạ nực nồng, đã tới cảnh thu sương gió. Chỉ thấy những:

Gió tây dứt hẳn làn mây mỏng, núi thẳm rừng sương tiếng hạc kêu. Quang cảnh rất thê lương, núi cao nước chảy đường trường. Hồng xa về ải Bắc, chim đen đến đồi Nam, khách đi buồn cô quạnh, áo và rét căm căm.

Cả bốn thầy trò cùng nhau tiến lên, dần dần nóng bốc ngốt người. Tam Tạng dừng ngựa nói:

- Hiện nay trời mùa thu, tại sao lại thấy nóng nực?

Bát Giới nói:

- Thế ra thầy không biết, lối sang Tây Thiên có một nước Tu Hấp Lý, là nơi mặt trời lặn, tục gọi là “chỗ trời hết”. Cứ đến giờ thân giờ dậu, quốc vương sai người lên thành đánh trống, rúc tù và, tiếng lẫn với tiếng nước bể sôi. Mặt trời là thái dương chân hỏa, lặn xuống ở vùng bể tây, như lửa dìm xuống nước, sôi lên sục lên, nếu không có tiếng trống, tiếng tù và đánh lẫn vào, trẻ con trong thành sẽ bị nảy người lên mà chết. Chỗ này khí nóng hun người, có lẽ đã đến nơi mặt trời lặn.

Đại thánh nghe lời, không nhịn được cười nói:

- Chú Ngốc đừng tán nhảm! Nếu bàn tới nước Tu Hấp Lý hãy còn xa lắm. Cứ như sư phụ sớm ba chiều hai, trùng trình thế này, phải từ nhỏ đến già, già lại trẻ, ba lần già trẻ, vẫn chưa tới nơi được.

Bát Giới nói:

- Thưa anh, cứ như anh nói, không phải là chỗ mặt trời lặn, sao lại có cái nóng nung đốt thế này?

Sa Tăng nói:

- Có lẽ tiết trời không thuận, mùa thu thi hành lệnh mùa hạ cho nên thế!

Đương khi ba người tranh luận với nhau đã thấy ở mé đường có một tòa trang viên, ngói đỏ lợp mái nhà, gạch hồng xây tường vách, cánh cửa quang dầu, ván giường sơn đỏ, mọi thứ đều đỏ lòe cả.

Tam Tạng xuống ngựa nói:

- Ngộ Không, con hãy đến nhà người ta hỏi xem vì lẽ gì mà ở đây nóng nực như vậy?

Đại thánh cất gậy như ý đi, chỉnh tề áo xiêm, làm ra vẻ nhà nho, rời khỏi đường cái, đến tận trước cửa xem xét. Chợt thấy một ông già ở trong cửa đi ra. Trông ông ta:

Mặc một cái áo vải cát bá, chẳng vàng chẳng đỏ, đội một cái mũ the tơ nõn, không xanh không thâm. Tay chống một cái gậy trúc liền gióng chẳng queo chẳng ngay, chân dận đôi giày ống bằng da không mới không cũ. Mặt đỏ tựa đồng, râu trắng như bạc. Mày rậm lòa xòa trờm mắt biếc, miệng tươi chúm chím hở răng vàng.

Ông già chợt ngẩng đầu, trông thấy Hành Giả, giật nẩy mình lên, chống cây gậy trúc quát nói:

- Nhà ngươi là ma quái ở nơi nào đến cửa nhà ta làm gì?

Hành Giả đáp lễ nói:

- Thưa lão thí chủ đừng sợ, tôi không phải ma quái gì đâu. Bần tăng là người nhà Đại Đường bên Đông Thổ khâm sai sang Tây Thiên lấy kinh. Có bốn thầy trò, đến bảo phương đây thấy khí trời nóng nực, một là không biết duyên cớ, hai là không biết đây là đâu nên đến bái kiến, xin chỉ giáo cho một vài lời.

Ông già mới yên tâm, cười nói:

- Sư trưởng thứ lỗi cho, lão hán hoa mắt, không rõ tôn nhan.

Hành Giả nói:

- Không dám.

Ông già lại hỏi:

- Sư phụ nhà ta ở con đường nào?

Hành Giả nói:

- Người đứng ngay ở trên đường cái về phía nam đấy!

Ông già nói:

- Xin mời lại đây! Xin mời lại đây!

Hành Giả vui mừng, giơ tay ra vẫy. Tam Tạng cùng với Bát Giới, Sa Tăng dắt ngựa bạch, quảy hành lý đến trước làm lễ chào ông già. Ông già thấy Tam Tạng vẻ người đẹp đẽ, Bát Giới, Sa Tăng tướng mạo kỳ lạ, nửa mừng nửa lo, mời cả vào trong nhà, gọi trẻ em bưng trà, một mặt bảo làm cơm.

Tam Tạng nghe tiếng, đứng dậy cảm ơn nói:

- Dám xin hỏi cụ, quý xứ đã sang thu, sao còn nóng nực?

Ông già nói:

- Tệ xứ đây gọi là Hỏa Diệm sơn. Không chia ra xuân thu gì hết, bốn mùa đều nóng.

Tam Tạng nói:

- Hỏa Diệm sơn ở về đằng nào, có ngăn trở lối sang Tây không?

Ông già nói:

- Đi sang Tây phương không được, núi ấy cách đây có sáu mươi dặm đường, sang Tây phương tất phải do đường ấy, lửa cháy dài tới tám trăm dặm, bốn chung quanh một cây cỏ cũng không mọc được. Đi qua núi ấy, dù mình đồng da sắt chăng nữa, cũng phải chảy ra nước.

Tam Tạng nghe nói, sợ tái người đi, không dám hỏi nữa.

Chợt thấy ở ngoài cửa có một người con trai trẻ tuổi, đun một cái xe đỏ, đỗ ở bên cửa, miệng rao:

- Ai mua kẹo!

Hành Giả nhổ một sợi lông, biến ra đồng tiền, hỏi người kia mua kẹo. Người kia cầm lấy tiền, chẳng quản tốt xấu, mò cái áo phủ xe ra, khí nóng nghi ngút, lấy ra một cái kẹo đưa cho Hành Giả. Hành Giả để vào bàn tay thấy nóng bỏng tựa hòn than lửa, đỏ hồng như đinh sắt trong lò, phải đảo sang tay trái, tay trái lại đảo sang tay phải, kêu la:

- Nóng! Nóng! Nóng! Ăn không được! Ăn không được!

Người con trai cười nói

- Sợ nóng thì chớ có đến đây, chúng tôi đây là xứ nóng.

Hành Giả nói:

- Cậu con trai này, thực không hiểu lẽ. Người ta thường có câu “Không hàn không nhiệt, ngũ cốc không kết”, ở đây nóng dữ như thế, bánh kẹo của anh từ đâu mà ra?

Người kia nói:

- Muốn có bánh kẹo ngọt phải kinh cẩn cầu Thiết Phiến tiên.

Hành Giả nói:

- Thiết Phiến tiên là thế nào?

Người kia nói:

- Thiết Phiến tiên có cái quạt ba tiêu, nêu cầu được, quạt một nhát là tắt lửa, hai nhát là nổi gió, ba nhát là đổ mưa. Nhờ thế chúng tôi đây mới cấy giống, kịp thời thu hoạch được, cho nên mới có ngũ cốc nuôi sống, nếu không thì thực một cây cỏ cũng không mọc được.

Hành Giả nghe đoạn, vội quay mình đi vào bên trong, cầm kẹo đưa cho Tam Tạng và nói:

- Sư phụ cứ yên tâm, không phải lo việc đâu đâu, ăn kẹo xong, con sẽ nói cho thầy hay.

Tam Tạng cầm kẹo ở tay, quay vào ông chủ nhà nói:

- Mời cụ xơi kẹo!

Ông già nói:

- Nhà tôi chưa có chút trà cơm gì thết đãi ngài, đâu dám ăn kẹo của ngài.

Hành Giả cười nói:

- Kính thưa cụ, trà cơm không cần phải cho, chỉ hỏi cụ đức Thiết Phiến tiên ở tại nơi nào?

Ông già nói:

- Ngài hỏi làm gì?

Hành Giả nói:

- Vừa rồi người bán kẹo nói vị tiên ấy có cái quạt “ba tiêu”! Nếu cầu được, quạt một nhát tắt lửa, hai nhát nổi gió, ba nhát đổ mưa, các cụ đây cày cấy thu hoạch mới có được ngũ cốc nuôi sống. Tôi muốn đến hỏi mượn về đây, quạt tắt Hỏa Diệm sơn đi, để cho địa phương ta đây được theo thời tiết cấy gặt, đời sống được yên ổn.

Ông già nói:

- Chuyện đó có thực, nhưng ngài không có lễ vật, vị thánh hiền ấy sẽ không đến cho đâu.

Tam Tạng nói:

- Ông ta muốn những lễ vật gì?

Ông già nói:

- Những người chúng tôi ở đây, cứ mười năm đến cầu một lần. Bốn con lọn, bốn dê, trong ngoài hoa hồng, hương thơm, quả sớm, gà vịt, rượu tâm, tấm gội lòng thành, đến núi tiên ấy cầu đảo, mời người ra động, đến đây làm phép.

Hành Giả nói:

- Núi ấy ở về phương nào, nơi đó gọi là gì, xa độ bao nhiêu dặm, để tôi đi hỏi lấy quạt mang về?

Ông già nói:

- Núi ấy ở về phương tây nam, tên gọi núi Thúy Vân, trong núi có một tiên động. Những người thiện tín ở đây đi lễ núi tiên, cả đi lẫn về mất một tháng, tính ra có tới một nghìn bốn trăm năm, sáu mươi dặm.

Hành Giả cười nói:

- Chẳng hề chi, tôi đi lại về ngay.

Ông già kia nói:

- Hãy khoan, cơm nước đâu đấy, làm một ít lương khô, cần có hai người làm bạn. Dọc đường không có nhà ở, lại có nhiều hổ lang, không phải một ngày tới nơi được, chớ coi làm trò đùa!

Hành Giả nói:

- Không cần! Không cần! Tôi đi đây!

Nói dứt lời, không thấy đâu nữa.

Ông già hoảng sợ nói:

- Cha mẹ ơi! Thế ra là vị người thần đi mây về gió!

Hãy gác chuyện người trong nhà tiếp đãi Đường Tăng, chỉ nói chuyện Hành Giả trong chốc lát đã đến núi Thúy Vân, dừng mây lành lại, đương đi tìm cửa động, bỗng nghe có tiếng chan chát như tiếng tiều phu đốn củi ở trong rừng. Hành Giả rảo bước tiến đến, nghe thấy người ấy ngâm:

Mây lửng nhận ra rừng rú cũ,

Cỏ hoang kẽm núi lối đường đâu?

Non tây trông thấy mưa hồi sớm,

Khe bắc khi về đã ngập sâu.

Hành Giả đến gần chào hỏi nói:

- Thưa ông tiều, chúng tôi có lời chào.

Tiều phu buông búa xuống đáp lễ nói:

- Trưởng lão đi đâu?

Hành Giả nói:

- Dám hỏi ông tiều, đây có phải núi Thúy Vân không?

Tiều phu nói:

- Chính phải.

Hành Giả nói:

- Cửa động Ba Tiêu Thiết Phiến tiên ở nơi nào?

Tiều phu cười nói:

- Động Ba Tiêu thì có, nhưng không có Thiết Phiến tiên, chỉ có Thiết Phiến công chúa, lại có tên là bà La Sát.

Hành Giả nói:

- Người ta nói vị ấy có cái quạt ba tiêu, quạt tắt được Hỏa Diệm sơn, có phải không?

Tiều phu nói:

- Chính phải! Chính phải! Vị thánh hiền kia có cái bảo bối ấy, quạt tắt được lửa, giúp đỡ nhân dân nơi ấy, cho nên mới tôn là Thiết Phiến tiên. Nhân dân chúng tôi đây không cần dùng người ấy, chỉ biết y tên gọi bà La Sát, là vợ Đại Lực Ngưu ma vương.

Hành Giả nghe nói lo sợ tái người, trong bụng nghĩ thầm:

- Lại gặp oan gia rồi! Cái hồi thu phục Hồng Hài Nhi thấy bảo chính Hồng Hài Nhi là do mụ này đẻ ra. Trước kia gặp em hắn ở núi Giải Dương, động Phá Nhi, y còn không chịu cho nước, vẫn có ý trả thù, nay gặp cha mẹ y, làm thế nào mà mượn được quạt đây?

Tiều phu thấy Hành Giả âm thầm lo lắng, thở dài nghĩ ngợi, liền cười nói:

- Người đã xuất gia, còn có gì phải lo nghĩ! Con đường nhỏ này đi về bên đông, ước chừng năm sáu dặm, sẽ đến động Ba Tiêu, không nên lo nghĩ.

Hành Giả nói:

- Chẳng nói giấu gì tiều ông, tôi là đại đồ đệ của Đường Tăng người nước Đại Đường bên Đông Thổ, sang Tây Thiên cầu kinh. Năm trước cũng có lôi thôi một chút với con giai bà La Sát là Hồng Hài Nhi ở động Hỏa Vân, chỉ sợ bà La Sát mang thù không cho, nên mới sinh ra lo nghĩ.

Tiều phu nói:

- Đại trượng phu xem mặt xét sắc, chỉ nói đến việc mượn quạt, còn chuyện cũ vứt đi không nhận, tất nhiên mượn được.

Hành Giả nghe lời, khép nép lễ phép nói:

- Đa tạ tiều ông dạy bảo, tôi đi đây.

Hành Giả từ biệt người tiều phu, đi đến cửa động Ba Tiêu, chỉ thấy cánh cửa đóng chặt, ngoài động phong cảnh xinh tươi.

Hành Giả tiến lên gọi:

- Ngưu đại huynh, mở cửa, mở cửa!

Một tiếng kẹt, cánh cửa mở ra, một người con gái lông lá, tay xách một cái lẵng hoa, vai vác một cái bồ cào từ trong cửa đi ra. Thực là: thân hình lam lũ không trang sức, mặt mũi tinh thần có đạo tâm.

Hành Giả tiến lên chắp tay đón hỏi:

- Cô em, phiền cô chuyển báo cho một lời. Tôi vốn là hòa thượng đi lấy kinh, dọc đường sang Tây không đi qua Hỏa Diệm sơn được, đến đây cầu mượn quạt ba tiêu dùng một chút.

Người con gái kia nói:

- Người là hòa thượng ở chùa nào, tên gọi là gì, tôi mới thông báo cho người được?

Hành Giả nói:

- Tôi ở Đông Thổ tới đây, tên gọi Tôn Ngộ Không Hành Giả.

Người con gái kia liền quay vào trong động, quỳ trước mặt bà La Sát nói:

- Thưa đức bà, ngoài cửa động có một vị hòa thượng ở bên Đông Thổ đến, tên là Tôn Ngộ Không Hành Giả, cần gặp đức bà, xin mượn quạt ba tiêu, đem dùng ở Hỏa Diệm sơn.

La Sát nghe nói đến ba tiếng “Tôn Ngộ Không”, chẳng khác gì muối rắc vào đống dấm, lửa cháy đổ dầu thêm, giận hầm hầm đỏ mặt tía tai, tức hừng hực, bầm gan tím ruột, miệng thì chửi mắng:

- Con khỉ khốn kiếp, hôm nay đến đây rồi!

Liền gọi:

- Hầu gái đâu, lấy nhung trang, cầm binh khí ra đây!

Liền đó ăn vận gọn ghẽ, tay cầm hai thanh Thanh Phong bảo kiếm đi ra.

Hành Giả ở ngoài động tránh mặt, nhìn trộm xem y ăn vận thế nào thì thấy:

Trên đầu khăn hoa bịt, quanh mình áo gấm che. Ngang lưng thắt hai đai gân hổ, hé đai quần gấm lập lòe. Hài mỏ phượng cao ba tấc, xiêm râu rồng màu vàng hoe. Tay cầm bảo kiếm đương giận dữ, dung mạo nguyệt bà còn kém xa.

La Sát ra ngoài cửa thét to hỏi:

- Tôn Ngộ Không đâu?

Hành Giả tiến lên cúi mình làm lễ nói:

- Thưa bà chị dâu, lão Tôn đón tiếp ở đây.

La Sát quát to một tiếng nói:

- Ai là chị dâu nhà ngươi! Người nào bảo nhà ngươi đón tiếp!

Hành Giả nói:

- Ông Ngưu ma vương nhà ta, trước kia đã từng kết nghĩa với lão Tôn, nay được nghe công chúa là ngôi chính thất của Ngưu ma vương, sao lại không gọi là chị dâu?

La Sát nói:

- Con khỉ khốn kiếp nhà ngươi! Đã là tình thân anh em, tại sao vùi dập con ta?

Hành Giả giả vờ hỏi:

- Lệnh lang là ai?

La Sát nói:

- Con ta là Thánh Anh đại vương Hồng Hài Nhi ở núi Hiệu, khe Thông Héo, động Hỏa Vân, bị nhà ngươi hãm hại, chúng ta đây chưa tìm được nhà ngươi mà trả thù, giờ đây ngươi đến nộp mình, liệu ta có tha không?

Hành Giả đầy vẻ vui mừng cười nói:

- Thế ra bà chị không xét lẽ phải, trách oan lão Tôn thôi. Vì chưng cậu cả nhà ta bắt mất sư phụ tôi, định đem nấu nướng, may nhờ có Quan Âm Bồ Tát thu dụng y, cứu sư phụ tôi ra. Hiện nay y làm Thiện Tài đồng tử ở nơi Bồ Tát, theo được chính quả tốt của Bồ Tát, chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch, thọ tầy trời đất, sống ngang mặt trời mặt trăng. Bà chị còn không tạ ơn bảo mạng của lão Tôn, còn trách lão Tôn là nghĩa lý gì?

La Sát nói.

- Con khỉ khốn kiếp sáo mép nhà mi! Con ta dù chẳng bị hại mạng, nhưng làm thế nào mà trở về với ta được? Đến bao giờ ta mới được gặp mặt?

Hành Giả cười nói:

- Bà chị muốn gặp lệnh lang có gì là khó? Chỉ cho tôi mượn cái quạt, quạt bớt lửa đi, quạt tắt lửa đi, đưa sư phụ tôi đi qua, tôi sẽ đến nơi Quan Âm Bồ Tát đưa y về để gặp bà chị và trả lại quạt cho bà chị luôn thể, có gì mà chẳng được. Lúc đó bà chị xem y có tổn thương chút nào không. Nếu có một tí tổn thương bà chị sẽ trách tôi, nếu mà đẹp tốt hơn trước, thì phải tạ ơn tôi

La Sát nói:

- Khỉ ranh, khua môi vừa chứ! Hãy giơ đâu ra đây, để ta chém mấy nhát gươm, nếu mà chịu được đau đớn, ta sẽ cho nhà ngươi mượn quạt, bằng không chịu nổi, nhà ngươi sẽ về với Diêm Vương.

Hành Giả khoanh tay đến trước mặt bà La Sát cười nói:

- Bà chị không cần phải nhiều lời, lão Tôn giờ đầu trọc ra đây, tùy ý bà chị chém bao nhiêu cũng được, đến hết sức thì thôi, nhưng phải cho mượn quạt để dùng.

La Sát không để cho nói, hai tay giơ kiếm lên, nhằm đầu Hành Giả chém lia lịa, tới mười mấy nhát liền. Hành Giả vẫn không hề gì. La Sát sợ hãi, quay đầu toan chạy.

Hành Giả nói:

- Bà chị! Đi đâu thế? Cho tôi mượn quạt để đùng chứ!

La Sát nói:

- Bảo bối của ta không thể xem thường cho mượn được.

Hành Giả nói:

- Nếu không cho mượn thì hãy nếm một gậy của ông em đây!

Hành Giả một tay túm chặt lấy La Sát, một tay rờ lên tai lấy gậy sắt ra, vung lên một cái.

La Sát giựt tay ra, cầm gươm đón đánh.

Hành Giả giơ gậy đánh tiếp luôn. Hai người ở trước núi Thúy Vân, không còn thân tình, chỉ là cừu địch, một trường chiến đấu dữ dội đã xảy ra:

Quần thoa vốn đã tu nên quái, chỉ tại thù con giận Mỹ Hầu. Hành Giả tuy lòng đầy giận dữ, vì thầy nghẽn lối phải nhường nhau. Quạt ba tiêu cốt sao mượn được, không cậy kiêu hùng tính vẫn nhu. La Sát không hay giơ kiếm chém, hầu vương cố ý kể nguyên do. Gậy sắt bên này thực hung ác, kiếm sắt bên kia cũng nhiệm mầu. Đánh vào mặt, chém lên đầu. Tức tối tranh trì chẳng chịu nhau. Đánh dọc đưa ngang thi võ nghệ, đâm sau đón trước giở kỳ mưu. Phải khi chiến đấu đương mê mải, bóng ác non tây đã xế chiều. La Sát vội vàng cầm quạt thực, phẩy cho một cái quỷ thần sầu.

Bà La Sát cầm cự với Hành Giả đến chiều, thấy gậy sắt của Hành Giả nặng, các miếng võ rất kín đáo, liệu chừng không địch nổi, liền lấy quạt ba tiêu ra, vung lên một cái, một luồng gió âm tung ra, khiến Hành Giả không tài nào gượng lại được nữa, mất tăm mất tích. La Sát đắc thắng trở về.

Đại thánh lênh đênh xiêu dạt, lảng sang bên tả, không xuống tới đất, trụt sang bên hữu, không giữ được mình, chẳng khác gì gió lốc quay lá úa, dòng nước cuốn hoa tàn. Quằn quại một đêm, mai đến bạch nhật, mới rơi xuống trên ngọn núi, hai tay bíu chặt lấy tảng đá, định thần giờ lâu, nhìn xem kỹ lưỡng, bấy giờ mới nhận ra là núi Tiểu Tu Di.

Đại thánh thở dài một tiếng nói:

- Đàn bà thực độc ác, làm sao lại đem lão Tôn tống đến tận đây? Ta còn nhớ năm xưa đã từng đến chỗ này cầu Linh Cát Bồ Tát, hàng bắt con quái Hoàng Phong cứu sư phụ ta. Từ núi Hoàng Phong cứ thẳng về hướng nam đến đây, mất hơn ba nghìn dặm, nay từ hướng tây chuyển lại, tức là ở góc phương đông nam không biết là mấy vạn dặm? Ta hãy xuống nơi Linh Cát Bồ Tát hỏi thăm xem.

Đương lúc trù trừ, bỗng nghe thấy tiếng chuông kêu vang, vội xuống sườn núi, đến nơi thuyền viện. Một đạo nhân ở trước cửa nhận được hình dung Hành Giả, liền vào bên trong thông báo:

- Vị đại thánh mặt đáy lông lá năm trước đến mời Bồ Tát đi hàng quái Hoàng Phong, bây giờ lại đến đây.

Bồ Tát biết là Ngộ Không, liền vội bước xuống bảo tọa ra đón, thi lễ mời vào nói:

- Xin kính mừng! Đi lấy kinh đã về đó ư?

Ngộ Không trả lời:

- Thực chưa tới nơi! Còn lâu! Còn lâu!

Bồ Tát nói:

- Nếu chưa đi tới Lôi Âm, sao lại trở về chốn hoang sơn này?

Hành Giả nói:

- Năm trước đây từ khi nhờ thịnh tình Bồ Tát bắt hàng Hoàng Phong quái, đi dọc đường trải qua biết bao gian khổ, nay đến Hỏa Diệm sơn không đi qua được, hỏi thổ dân ở đấy, nói có vị Thiết Phiến tiên có quạt ba tiêu quạt tắt được lửa, lão Tôn đến nơi tìm hỏi. Nguyên vị tiên ấy là vợ Ngưu ma vương, là mẹ Hồng Hài Nhi. Nàng bảo tôi đem con nàng đồng tử cho Quan Am Bồ Tát, nên không hay được gặp, sinh thù ghét tôi, không cho mượn quạt, đánh nhau với tôi. Nàng thấy gậy sắt của tôi nặng khó bề chống đỡ, liền lấy quạt ra, quạt tôi một nhát bay tung bay lộn, đến mãi tận đây mới rơi xuống được, nên mới mạn phép đến thuyền viện hỏi thăm đường về. Từ đây đến Hỏa Diệm sơn không biết cho bao nhiêu dặm đường?

Linh Cát cười nói:

- Người đàn bà ấy tên gọi là bà La Sát, lại gọi là Thiết Phiến công chúa. Cái quạt ba tiêu của nàng gốc ở sau núi Côn Lôn, từ khi hỗn độn mở mang tới nay, trời đất sản sinh ra thứ báu thiêng ấy, chính là thứ lá thiêng của sao Thái Âm, nên mới diệt được khí lửa. Giả sử quạt vào người, phải bay đi tám vạn bốn nghìn dặm gió âm mới tắt. Từ núi tôi ở đây đến Hỏa Diệm sơn chỉ có hơn năm vạn dặm. Ấy là đại thánh có tài giữ mây lại, mới dừng xuống được, nếu là người phàm thực không thể nào dừng được nữa.

Hành Giả nói:

- Lợi hại! Lợi hại! Sư phụ tôi làm thế nào mà đi qua được nơi đó?

Bồ Tát nói:

- Đại thánh cứ yên tâm. Ngài tới đây cũng là duyên pháp của Đường Tăng để cho đại thánh thành công.

Hành Giả nói:

- Thành công thế nào?

Linh Cát nói:

- Khi xưa tôi vâng lời dạy của Như Lai, ngài cho tôi một hạt định phong đan, một cây phi long trượng. Cây phi long trượng đã hàng được ma gió rồi. Còn định phong đan chưa hề dùng tới, bây giờ đem biếu đại thánh, hẳn là La Sát quạt người, người không động; người sẽ đòi lấy cái quạt, quạt tắt lửa thể chẳng thành công ư?

Hành Giả cúi đầu làm lễ, cảm tạ khôn xiết.

Bồ Tát lấy một cái túi gấm ở trong tay áo ra, nhặt hạt đan ngừng gió đưa cho Hành Giả để vào trong cổ áo, lấy kim chỉ khâu kỹ lại, đưa Hành Giả ra cửa nói:

- Không dám giữ lại chơi. Cứ đi về hướng tây bắc, đây là sơn trường của mụ La Sát.

Hành Giả từ biệt Linh Cát, cưỡi cân đẩu vân trở lại núi Thúy Vân, trong khoảnh khắc đã tới nơi, liền cầm gậy sắt đánh vào cửa động kêu gọi:

- Mở cửa! Mở cửa! lão Tôn đến mượn quạt về dùng đây!

Nữ đồng ra cửa hoảng sợ vội vàng chạy vào báo:

- Thưa đức bà, người mượn quạt lại tới nơi!

La Sát nghe lời, trong lòng sợ sệt nói:

- Con khỉ khốn kiếp thực là tài giỏi! Bảo bối của ta quạt vào người bay đi tám vạn bốn nghìn dặm mới dừng lại được, thế mà y vừa bị thổi đi đã trở về rồi! Lần này ta sẽ quạt luôn cho hai ba nhát, để cho không biết lối mà về nữa.

Liền vội vàng đứng dậy, nai nịt gọn gàng, cầm kiếm đi ra ngoài cửa nói:

- Tôn Hành Giả, nhà ngươi không sợ ta, lại đến tìm cái chết à?

Hành Giả cười nói:

- Bà chị chớ nên khắt khe, hãy cho tôi mượn quạt về dùng để cho Đường Tăng đi qua núi, sẽ đưa trả lại. Tôi là kẻ quân tử thành thực có thừa, không phải tiểu nhân mượn rồi không trả.

La Sát lại quát mắng:

- Con khỉ khốn kiếp không biết đạo lý, không hiểu chi cả. Cái thù cướp con ta còn chưa trả được, cái ý muốn mượn quạt mi đừng có hòng vừa lòng! Đừng có chạy, hãy nếm kiếm của bà đây!

Hành Giả công nhiên không sợ, cầm gậy sắt đưa ra đón đánh. Hai người qua qua lại lại, đánh nhau năm bảy hợp, mụ La Sát tay nhún khôn tranh, Tôn Hành Giả sức cường hàng đánh. Mụ thấy sự thể không xuôi, lấy ngay quạt ra, quạt vào Hành Giả một nhát, Hành Giả đứng im không động.

Hành Giả thu gậy sắt lại cười khanh khách nói:

- Lần này không như lần trước, cứ tha hồ mà quạt, nếu lão Tôn nhúc nhích một tí, sẽ không kể là hảo hán.

La Sát lại quạt luôn hai nhát, quả nhiên Hành Giả vẫn không động đậy. La Sát phát hoảng, vội thu bảo bối quay người chạy vào trong động đóng chặt cửa lại.

Hành Giả thấy mụ đóng cửa rồi, cũng lại giở thủ đoạn, tháo đường cổ áo lấy hạt định phong đan ngậm vào trong miệng nhao mình biến hóa, biến ra một con bọ mát tìm chỗ hở chui vào trong, nghe thấy La Sát kêu gọi:

- Khát lắm! Khát lắm! Mang nước trà lên mau!

Nữ đồng hầu cận liền mang tới một ấm trà hương rót đầy một chén, bọt nước nổi lên. Hành Giả trông thấy vui mừng, xòe cánh một cái, bay tới đậu lên bọt nước. La Sát đương khi khát quá, đỡ chén chè, tợp hai hớp là hết. Hành Giả đã vào đến trong dạ dày La Sát, hiện nguyên hình, lên tiếng nói to:

- Bà chị, cho tôi mượn cái quạt về dùng!

La Sát tái người đi, gọi:

- Bọn trẻ nhỏ, cửa trước đã đóng chưa?

Đều nói:

- Đóng rồi!

Mụ lại nói:

- Cửa đã đóng rồi, làm sao Tôn Hành Giả lại kêu gọi ở trong nhà?

Nữ đồng nói:

- Kêu ở trong người bà đấy!

La Sát nói:

- Tôn Hành Giả, nhà ngươi hóa phép ở chỗ nào thế?

Hành Giả nói:

- Cả đời lão Tôn không biết dùng thuật, đều là thủ đoạn chân chính, thủ đoạn thật thà. Lão Tôn đã ở trong bụng bà chị, trông thấy hết ruột gan rồi. Tôi biết chị cũng đương khát, trước hãy đưa cho chị một bát chậu để chị giải khát đây!

Thế là Hành Giả co cẳng đạp xuống một cái. Bụng dưới La Sát đau đớn vô cùng, khiến La Sát không chịu được, ngồi ệch ra đất kêu đau.

Hành Giả nói:

- Bà chị chớ nên từ chối, tôi lại biếu bà chị cái bánh điểm tâm nữa cho đỡ đói!

Lại lấy đầu húc lên một cái. La Sát đau quặn lại, nằm vật ra đất quằn quại, đau đến nỗi mặt vàng môi nhợt, chỉ kêu:

- Thôi xin chú Tôn tha chết cho!

Hành Giả mới thu chân tay lại nói:

- Chị đã biết tay chú em chưa? Tôi nể tình Ngưu đại huynh, tha chết cho chị. Đem ngay quạt ra đây cho tôi dùng.

La Sát nói:

- Chú em ạ! Có quạt! Có quạt! Chú đi ra, tôi sẽ lấy cho.

Hành Giả nói:

- Lấy quạt cho tôi rồi tôi sẽ ra!

La Sát liền gọi nữ đồng lấy ra một cái quạt ba tiêu cầm ở bên cạnh.

Hành Giả nhô lên cổ họng trông thấy nói:

- Bà chị, tôi đã tha tánh mạng cho chị, tôi sẽ không đục sau lưng bà chị mà ra, lại ra đàng miệng, chị hãy há miệng ra ba lần.

La Sát há to miệng ra. Hành Giả lại biến ra con bọ mát, bay ra đậu trên cái quạt ba tiêu.

La Sát không biết, há miệng liền ba lần, gọi:

- Chú em ra đi thôi!

Hành Giả hóa nguyên thân, cầm lấy cái quạt nói:

- Tôi ở đây kia mà! Cảm ơn cho mượn! Cảm ơn cho mượn!

Liền cất bước đi về đàng trước. Bọn nhỏ vội vàng mở cho Hành Giả ra khỏi động.

Đại thánh cưỡi mây, về thẳng hướng đông. Trong chớp mắt đã ở trên mây bước xuống, đứng ở dưới đường gạch đỏ.

Bát Giới trông thấy vui vẻ nói:

- Sư phụ ơi, sư huynh đã về!

Tam Tạng liền cùng ông già trong trang và Sa Tăng ra cửa đón tiếp, cùng vào trong nhà, Hành Giả cầm quạt ba tiêu dựa ở bên cạnh nói:

- Thưa lão quan, có phải quạt này không?

Ông già nói:

- Đúng phải! Đúng phải!

Tam Tạng mừng nói:

- Công của hiền đồ không gì to bằng, cầu được bảo bối này, rất là lao khổ.

Hành Giả nói:

- Lao khổ không cần phải nói, Thiết Phiến tiên, thầy có biết là ai không? Mụ ta nguyên là vợ Ngưu ma vương, là mẹ Hồng Hài Nhi, tên gọi là bà La Sát, lại gọi là Thiết Phiến công chúa. Con tìm đến động mượn quạt, mụ giở chuyện hiềm thù nói với con, chém con mấy nhát gươm. Con cầm gậy sắt dọa lại, mụ liền cầm quạt, quạt con một cái, con lơ lơ lửng lửng, dạt mãi đến núi Tiểu Tu Di. May gặp Linh Cát Bồ Tát cho một hạt định phong đan, bảo cho đường về, con trở lại núi Thúy Vân lại gặp mụ La Sát, mụ lại dùng quạt, quạt con không động, vội trở vào trong động. Vừa khi mụ ta đòi uống nước trà, con chui xuống dưới bọt chè, theo vào trong bụng mụ, đụng chân đụng tay, mụ đau đớn không chịu được, không ngớt miệng gọi “chú em tha tính mạng cho”, tình nguyện lấy quạt cho con mượn, con mới tha cho mụ, cầm quạt mang về. Đợi khi nào đi qua Hỏa Diệm sơn sẽ trả lại cho mụ.

Tam Tạng nghe lời, cảm tạ khôn xiết. Thấy trò đều từ biệt ông già.

Theo đường sang Tây, đi được độ trên dưới bốn mươi dặm, dần dần thấy nóng nực ngốt người. Sa Tăng cứ kêu gan bàn chân như nướng, Bát Giới lại la, đầu móng chân tựa thiêu ngựa cũng đi nhanh hơn mọi ngày, chỉ vì đất nóng không dừng bước, rất đỗi khó đi.

Hành Giả nói:

- Mời sư phụ hãy xuống ngựa, các chú em đừng đi nữa, để tôi quạt cho tắt lửa đã, đợi sau khi có mưa gió, đất nguội đi, ta sẽ vượt qua núi.

Hành Giả cầm quạt đến gần lửa, dáng sức quạt một nhát ở trên núi lửa ngùn ngụt bốc to, quạt nhát nữa cháy to gấp trăm, lại quạt nhát nữa, lửa bốc cao có tới nghìn trượng, dần dần bén cả vào người. Hành Giả vội quay về, hai chân lông bị cháy trụi, chạy thẳng về trước mặt Đường Tăng kêu:

- Trở lại ngay, trở lại ngay! Lửa tới nơi, lửa tới nơi!

Sư phụ nhảy lên ngựa, cùng Bát Giới, Sa Tăng trở lại đằng đông tới hơn hai mươi dặm, mới dừng chân lại hỏi:

- Ngộ Không, làm sao thế vậy?

Hành Giả vứt quạt xuống nói:

- Hỏng quách rồi! Ta bị con mụ lừa dối!

Tam Tạng nghe nói, sầu chúc đầu mày, buồn đau cuống dạ, không ngăn được nước mắt chứa chan, chỉ nói:

- Làm thế nào bây giờ?

Bát Giới nói:

- Thưa anh, anh vội vội vàng vàng gọi quay trở về là tại làm sao?

Hành Giả nói:

- Tôi lấy quạt ra quạt một nhát, lửa cháy bừng bừng, quạt nhát nữa, lửa càng cháy to, quạt nhát thứ ba, lửa bốc cao tới nghìn trượng, giả mà không chạy cho mau, lông lá trong người đã bị cháy trụi rồi.

Bát Giới cười nói:

- Anh thường nói sét đánh không thương, lửa đốt không tổn, làm sao lại sợ lửa?

Hành Giả nói:

- Đồ ngốc nhà chú, chẳng biết cái gì cả, những lúc đó phải dụng tâm đề phòng, cho nên không bị thương, giờ đây chỉ cần dùng quạt cho tắt lửa, không hề cầm quyết tránh lửa cũng không dùng cả phép hộ thân, nên mới cháy mất lông tơ ở hai bên chân.

Sa Tăng nói:

- Lửa cháy dữ như thế, không có lối thông sang bên Tây, làm thế nào bây giờ?

Bát Giới nói:

- Chọn lối nào không có lửa mà đi.

Tam Tạng nói:

- Lối nào không có lửa?

Bát Giới nói:

- Phương đông, phương nam, phương bắc đều không có lửa.

Lại hỏi:

- Phương nào có kinh?

Bát Giới nói:

- Phương Tây có kinh.

Tam Tạng nói:

- Ta chỉ muốn đến nơi nào có kinh thôi!

Sa Tăng nói:

- Nơi có kinh lại có lửa, nơi không có lửa lợi không có kinh, thực là khó bề lui tới.

Thầy trò đương khi bàn quanh tính quẩn, đã nghe thấy có tiếng người gọi:

- Đại thánh không nên phiền não, hãy lại xơi lưng cơm chay rồi sẽ tính.

Bốn người ngoảnh đầu nhìn, thấy một ông già, mình mặc áo cánh chim, đầu đội mũ yển nguyệt, tay chống gậy đầu rồng, chân dận giày đi săn, sau lưng địu một cái dành đan mắt cáo, trên miệng dành có một cái chậu đồng, trong chậu có đựng ít bánh chưng, bánh nướng, cháo kê, cơm tẻ, đứng dưới mé đường bên tây cúi mình nói:

- Chúng tôi là thổ địa ở Hỏa Diệm sơn, biết đại thánh bảo hộ vị thánh tăng, chưa đi qua được, đến hiến bữa cơm chay.

Hành Giả nói:

- Cơm nước là việc nhỏ: lửa này biết bao giờ dập tắt được để sư phụ ta đi qua?

Thổ địa nói:

- Muốn dập tắt lửa, phải cần mượn quạt ba tiêu của bà La Sát

Hành Giả đến mé đường nhặt cái quạt lên nói:

- Cái này không phải ư? Tại sao càng quạt càng bốc to.

Thổ địa xem xong, cười nói:

- Quạt này không phải quạt thực. Đại thánh bị họ lừa rồi.

Hành Giả nói:

- Làm thế nào mới được quạt thực?

Thổ địa lại khom lưng cúi mình tủm tỉm cười nói:

- Nếu mà muốn được ba tiêu thực. Thì phải đi cầu Đại Lực vương.

Chưa biết Đại Lực vương có tài cán gì, xem tới hồi sau sẽ rõ.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.