Tây Du Ký - Chương 28: Núi Hoa quả, quần hầu gặp chúa Rừng Hắc tòng, Tam Tạng bị yêu
Núi Hoa Quả lũ yêu hợp nghĩa
Rừng Hắc Tùng Tam Tạng gặp ma
Đại thánh tuy bị Đường Tăng đuổi đi, nhưng vẫn nhớ nhung thở than không dứt. Vừa trông thấy Đông Dương đại hải, đại thánh nói:
- Ta không qua lại lối này đã năm trăm năm rồi!
Chỉ thấy nước bể:
Yên ba lồng lộng tiếp sông trời, sóng lớn ầm ầm thông mạch đất. Nước triều hùng dũng, khác nào sấm chớp dậy ba xuân. Rồng lượn quanh co, như thể cuồng phong lúa chín hạ. Tiên đồng kỳ hạc, đi về nhất định phải cau mày. Sao phúc cưỡi rồng, tráo trở quả nhiên nhiều nghĩ ngợi. Gần bờ không xóm trại, lợi nước ít thuyền câu. Tuyết nghìn năm sóng cuốn, thu sáu tháng gió mau. Tới lui thấy chim nội, trôi nổi kệ vịt bầu. Trước mắt không câu cá, bên tai nghe tiếng âu. Đáy bể cá ngoi thích, bên trời nhạn bay sầu.
Hành Giả băng mình một cái, đã nhảy qua Đông Dương đại hải, đến Hoa Quả sơn, căng mắt lên nhìn. Ở trên núi, hoa cỏ sạch không, khói mây tận tuyệt, núi hang đổ nát, cây cối héo khô. Vì đâu nên nỗi, chỉ tại y đại náo thiên cung bị bắt lên thượng giới, núi này bị Hiển Thánh Nhị Lang thần, xuất lĩnh bảy anh em Mai sơn, phóng hỏa đốt phá. Đại thánh nhìn thấy bội phần thê thảm có một thiên cổ phong tả cảnh núi tan nát làm chứng, cổ phong rằng:
Ngoảnh lại non tiên giọt lệ rơi,
Nhìn xem phong cảnh dạ bồi hồi
Đương thời thường nói non không lở
Nay mới hay rằng đất cũng vơi.
Đáng giận Nhị Lang sao nỡ bắt
Càng căm Tiểu Thánh khéo lừa đời.
Đào mồ những kẻ làm hung ác,
Cuốc mả nhà bay giống hại người!
Đầy trời sương tuyết đều tan tác,
Khắp đất mây mưa thấy rạc rời.
Đông Lĩnh không nghe hùm thét sớm.
Tây sơn vắng tiếng vượn kêu mai.
Bắc Khê nào thấy hình lang sói,
Nam Cốc đâu còn vết cáo nai.
Đốt hết đá xanh thành đất thó,
Nhậu tan sa biếc hóa bùn lầy.
Cửa động thông cao hết đổ xiêu
Đỉnh non trắc tốt đều xơ xác.
Thung, sam, hòe, bách, lật, đàn khô,
Đào, hạnh lý, lê, mai, táo rạc.
Giá dâu không có, tằm khó nuôi,
Liễu trúc lơ thơ, chim ngơ ngác.
Đá hoa đầu núi thành bụi nhơ,
Suối cạn lòng khe đầy cỏ rác.
Sườn núi cát gió lan huệ chết,
Bên đường đất đỏ sắn bìm leo.
Ngày trước chim bay đã có chốn,
Bây giờ thú chạy hết đường trèo.
Báo hiểm rắn độc tìm nơi kín,
Hạc sợ trăn về để vắng teo.
Chỉ vì ngày xưa làm chuyện ác,
Bây giờ mới phải chịu gieo neo
Đại thánh đương khi thương xót, chợt nghe thấy có tiếng động ở trong đống cỏ thơm bên sườn núi, gai góc dưới lũng sâu bảy tám con khỉ nhỏ nhảy ra, chạy ồ cả lên, vây chung quanh đại thánh, kêu rầm lên:
- Đại thánh gia gia! Hôm nay đã về!
Đại thánh nói:
- Tại sao chúng bay không nô đùa nhảy nhót, náu mình giấu mặt làm vậy? Ta đến đây đã lâu, không thấy bóng dáng chúng bay đâu cả là có làm sao?
Đàn khỉ nghe nói, con nào con nấy rơi nước mắt thưa trình:
- Từ khi đại thánh bị bắt lên thượng giới, chúng con bị khổ với cái bọn đi săn, thực khó chịu nổi! Giữ thế nào được cung dài nỏ cứng, chó săn chim mách, câu giải lưới chăng của họ, cho nên đều lo mất mạng, không dám đi chơi đi nhởn, cứ phải ẩn kín trong động, xa lánh cửa nhà. Đói lên sườn núi ăn cây cỏ, khát đến bên khe uống nước trong. Vừa rồi nghe thấy tiếng đại thánh gia gia mới đến tiếp kiến, cúi xin giúp đỡ.
Đại thánh nghe nói như vậy, lại càng buồn thảm, liền hỏi:
- Chúng bay còn có bao nhiêu người ở núi này?
Lũ khỉ nói:
- Từ già đến trẻ, chỉ độ một nghìn.
Đại thánh nói:
- Ngày ta ở đây tất cả có bốn vạn bảy nghìn quần yêu, bây giờ đi đâu mất cả?
Đàn khỉ nói:
- Từ khi gia gia đi rồi, núi này bị Nhị Lang Bồ Tát châm lửa đốt, chết cháy mất già nửa. Chúng con nép ở đáy giếng, chui xuống lòng khe, giấu mình dưới cầu sắt, để giữ tính mạng. Từ khi lửa tắt khói tan, chúng con đưa nhau ra, lại không có hoa quả nuôi thân, không thể sống được, một nửa lại bỏ đi nơi khác mất. Còn một nửa chúng con chịu kham khổ ở lại trong núi. Hai năm nay, lại bị bọn đi săn bắt mất một nửa rồi.
Hành Giả nói:
- Nó bắt chúng con làm gì?
Đàn khỉ nói:
- Nói tới bọn đi săn, thực đáng ghét; chúng con đứa nào bị trúng tên đâm, bị thuốc độc đánh chết, chúng nó đem về lột da róc xương, kho tương nấu dấm, rán chả xào khô, làm thức ăn cơm; hoặc có tên sa lưới, bị bẫy nó bắt sống được, chúng đem dạy lộn vòng làm trò, lộn nhào trồng cây chuối, rồi mang ra chợ, đánh trống đánh phách, bắt làm đủ các thứ trò vè.
Đại thánh nghe nói lại càng tức giận hỏi:
- Có những ai cai quản ở trong động?
Đàn khỉ nói:
- Còn có hai nguyên soái Mã, Lưu và hai tướng quân Bôn, Ba cai quản.
Hành Giả nói:
- Đi báo ngay cho bọn chúng biết, nói ta đã về.
Bọn tiểu yêu chạy vào cửa trong trình báo:
- Đại thánh gia gia đã về!
Mã, Lưu, Bôn, Ba nghe báo, vội vàng ra cửa cúi đầu đón tiếp đại thánh vào trong động. Đại thánh ngồi giữa, quần yêu đến trước mặt làm lễ tâu trình:
- Đại thánh gia gia, gần đây được nghe nói, người đã thoát được tính mạng, bảo vệ Đường Tăng sang Tây Thiên cầu kinh, sao không đi sang Tây lại trở về núi cũ?
Đại thánh nói:
- Chúng con không biết. Đường Tam Tạng không biết kẻ hay người dở, dọc đường ta đã vì người bắt ma tróc quái, giở hết thủ đoạn bình sinh, biết bao phen đánh giết yêu ma, mà người còn bảo ta là hành hung tác quái, không cho ta làm đồ đệ, xua đuổi ta đi, có viết tờ thư đuổi làm bằng, không bao giờ tin dùng ta nữa.
Quần yêu vỗ tay cười ầm nói:
- Hay quá! Hay quá! Làm hòa thượng làm quái gì, cứ ở nhà, đem chúng con đi chơi đùa mấy năm đã!
Chúng bảo nhau:
- Sửa soạn ngay rượu dừa để đón mừng gia gia!
Đại Thanh nói:
- Hãy khoan uống rượu. Ta hỏi các ngươi, bọn đi săn bao lâu mới lên núi một lần?
Mã, Lưu nói:
- Tâu đại thánh, không có hạn định nào cả, nhà chúng ở gần đây, chẳng ngày nào là chúng không tới khua lục.
Đại thánh nói:
- Làm sao hôm nay không đến?
Mã, Lưu nói:
- Chúng cũng sắp đến đấy!
Đại thánh dặn bảo:
- Chúng con đem hết những đá vụn ở trên núi đã cháy chín xếp thành từng đống, chồng độ hai ba mươi viên làm một đống, hoặc năm sáu mươi viên làm một đống, xếp đống lại, ta có việc dùng đến.
Bọn khỉ nhỏ như ong vỡ tổ, con nào con ấy chạy rối lên vác đá xếp thành nhiều đống.
Đại thánh nhìn qua nói:
- Chúng con, hãy vào trong động ẩn náu, để lão Tôn làm phép.
Đại thánh lên trên đỉnh núi nhìn xuống, thấy ở mé nam dưới núi, tiếng chiêng trống, thùng thùng, phèng phèng thấp thoáng có chừng hơn một nghìn người ngựa, miệng đuổi chó săn, vai vác gươm giáo. Hành Giả nhìn xét kỹ lưỡng bọn người hung hăng đi tới. Rõ ràng bọn nam tử giỏi giang, thật là kiêu dũng. Chỉ thấy:
Da cáo đội che trán,
Dải tơ thắt ngang hông.
Đẫy đựng tên nanh sói,
Nách cắp cung nạm vàng.
Người như hùm sục núi.
Ngựa tựa rồng qua rừng.
Dẫn một dây những chó,
Khua một lũ chim ưng.
Túi gai đựng hỏa pháo,
Đai vải giắt dây thừng.
Que nhựa nhiều kẻ gánh,
Bẫy thỏ lắm người bưng,
Quỉ sứ sa lưới vét,
Diêm Vương vướng dây chằng,
Một loạt hò reo váng.
Chạy rối rít tưng bừng.
Đại thánh thấy nhóm người bổ vây núi mình, trong lòng cả giận. Tay thì cầm quyết, trong mồm lẩm bẩm mấy câu, quay về phương tốn hớp một hơi, thổi mạnh ra, hóa ra một trận gió lốc. Gió to quá chỉ thấy:
Bụi bay khắp đất, cây đổ đầy rừng. Sóng bể như núi dựng, nước dâng cao muôn từng. Kiền khôn đen tựa mực, nhật nguyệt tối như bưng. Trận gió hổ gào thông đổ lộng, cơn giông rồng hát trúc bay tung. Muôn lỗ rì rào trời ợ khí, cát bay đá chạy hại người dưng.
Đại thánh thổi một trận gió to, những đống đá vụn mượn gió bay tung bay tóe, đáng thương cho hơn một nghìn người ngựa, người nào người nấy:
Đá đánh ô đầu ra cám, cát bay hải mã hóa tro. Đỉnh non sâm quế đổ xiêu vẹo, máu đỏ châu sa mặt đất hòa. Phụ tử khó về làng cũ, tân lang khôn tới quê nhà. Thây như khinh phấn nằm sườn núi. Nhà cũ Hồng Nương luống đợi chờ[38].
Thơ rằng:
Chết người mất ngựa khó về nhà,
Quỷ nội cô hồn vỡ tổ ra.
Đáng sợ oai phong người tướng mạnh,
Hiền ngu bắt kể thảy ra ma.
Đại thánh ở trên mây bước xuống, vỗ tay cười to nói:
- Hay quá! Hay quá! Từ khi quy thuận Đường Tăng, làm vị hòa thượng, thường thường người vẫn khuyên răn “nghìn ngày làm thiện, thiện vẫn chưa đủ, một ngày làm ác, ác đã có thừa. Câu ấy thực có! Ta đi theo người, đánh chết mấy con tinh, người đã quở ta hành hung, ngày nay về nhà một lúc kết quả bao nhiêu là tính mạng bọn đi săn!
Liền gọi:
- Bọn nhỏ đâu ra đây!
Trận gió lốc qua rồi, đàn khỉ nghe thấy đại thánh kêu gọi, vội chạv ùa cả ra.
Đại thánh nói:
- Chúng con hãy đến bên phía nam núi, lột hết quần áo bọn đi săn mang về nhà, giặt sạch vết máu, mặc cho đỡ rét, rồi đem những thây người chết quẳng cả xuống dưới đầm sâu muôn trượng; khiêng hết ngựa chết về, lột da ra đóng giày đi, thịt thì đem muối để ăn dần, thu lấy cung nỏ gươm giáo để chúng con tập võ, thu những lá cờ nhiều sắc đem về cho ta dùng.
Hành Giả bắt giặt sạch cờ, khâu dồn vào thành một lá cờ to sặc sỡ, viết mười bốn chữ “Trùng tu Hoa Quả sơn, phục chính Thủy Liêm động, Tề Thiên đại thánh”, giồng một cái cột to ở ngoài cửa động kéo cờ lên, ngày nào cũng gọi ma kêu thú, chứa thảo dồn lương, không nói đến hai chữ hòa thượng nữa. Hành Giả quen biết đã rộng, thủ đoạn lại cao, liền đi đến Lư Hải Long Vương, mượn một ít nước tiên Cam Lâm, đem về tẩy uế cho núi. Đàng trước giồng dâu, liễu, đàng sau giồng tùng, bách, đào, mận, táo, lê, không thiếu thức gì, tiêu dao tự tại, vui nghiệp an cư.
Lại nói Tam Tạng nghe lời gièm pha, ruồng đuổi Hành Giả, Bát Giới đi trước mở đường, Sa Tăng quay hành lý đi sang phía Tây. Đi qua Bạch Hổ Lĩnh rồi, chợt thấy một dải rừng thật là mây leo sắn quấn, trắc biếc thông xanh.
Tam Tạng gọi:
- Đồ đệ, đường núi gồ ghề, lối đi khấp khểnh, vả lại rừng thông rậm rạp, cây cối rườm rà, rất nên cẩn thận, sợ có yêu tà, yêu thú.
Chú ngốc phấn khởi tinh thần, bảo Sa Tăng quảy hành lý, tự mình vác đinh ba đi dẫn đường, đưa Đường Tăng vào trong rừng thông.
Đương đi Đường Tăng dừng ngựa nói:
- Bát Giới, hôm nay thực ra ta thấy đói, tìm đâu được ít cơm chay mà ăn.
Bát Giới nói:
- Mời sư phụ xuống ngựa, ngồi nghỉ ở đây, lão Trư sẽ đi tìm.
Tam Tạng xuống ngựa, Sa Tăng hạ hành lý, lấy bát tộ ra dưa cho Bát Giới. Bát Giới nói:
- Tôi đi đây!
Sư phụ hỏi:
- Đi đàng nào?
- Đừng hỏi, tôi đi lần này, đục băng lấy lửa mang cơm đến, ép tuyết ra dầu lấy gạo về.
Bát Giới ra khỏi rừng, đi về đằng tây đã hơn mười dặm, chẳng gặp một nhà nào, thật là một nơi có hổ lang, không người ở.
Chàng ngốc đi đã nhọc mệt, bèn ngẫm nghĩ trong bụng:
- Khi Hành Giả còn ở, sư phụ muốn cái gì có cái nấy; bây giờ chuyển đến thân ta, thế mới thực làm bếp mới hay giá củi gạo, nuôi con mới biết lòng mẹ cha. Dọc đường tuy không có đâu mà xin, nhưng ta cũng phải để lâu một lát nữa sẽ về nói, chứ không thì người không tin... Thôi được! Thôi được! Hãy nằm trên đống cỏ này ngủ tí đã!
Chú ngốc nằm ghếch đầu lên đống cỏ mà ngủ. Lúc đầu cũng tưởng chợp mắt một lúc rồi dậy, hay đâu người đi đường mệt nhọc, vừa ngả lưng xuống là đã khò khò ngáy luôn.
Hãy để chuyện Bát Giới ở đấy đánh giấc, trở lại chuyện Đường Tăng ở trong rừng kia, nóng tai máy mắt, trong dạ không yên, vội gọi Sa Tăng hỏi:
- Ngộ Năng đi hóa trai từ sớm, bây giờ sao chưa vể?
Sa Tăng nói:
- Thưa sư phụ, người lại không hiểu à? Y thấy ở phương Tây có rất nhiều nhà dâng chay, dạ dày y lại to lớn, y còn nghĩ gì đến người nữa, chắc phải đánh cho đẫy dạ rồi mới về được.
Tam Tạng nói:
- Đúng thế đấy, thảng hoặc y hám ăn cơm ở đấy, làm thế nào mà tìm được? Trời đã chiều rồi, chỗ này không thể ngủ đêm, phải đi tìm chỗ nào mà ngủ trọ mới được.
Sa Tăng nói:
- Được! Sư phụ ạ, người hãy ngồi đây để tôi đi tìm y.
Tam Tạng nói:
- Đúng đấy, đúng đấy, có cơm hay không cũng được, cần nhất làm sao tìm được chỗ trọ.
Sa Tăng vác bảo trượng ra khỏi rừng thông đi tìm Bát Giới. Tam Tạng ngồi một mình ở trong rừng, rất là phiền não, cố gượng đứng dậy, xếp hành lý vào một nơi, buộc ngựa vào cây, để nón lá xuống, cầm gậy tích trượng, sửa lại áo thâm, thủng thỉnh đi trong rừng tối tạm giải buồn, xem khắp cỏ nội hoa rừng, nghe chẳng hết chim kêu về tổ. Rừng này vốn là nơi cỏ cao lối hẻm, lại vì sư trưởng tâm tình rối loạn, thành ra lạc lối. Định bụng một là đi để giải phiền, hai là để tìm Bát Giới, Sa Tăng không dè hai người thì đi thẳng về phía tây, mà sư trưởng lại đi quanh một hồi, rồi đi chệch về mé bên nam. Ra khỏi rừng thông, chợt ngửng đầu nhìn thấy ở bên kia có bóng hào quang lấp lánh, mây đẹp từng từng, nhìn kỹ ra là một tòa bảo tháp, trên ngọn tỏa ra ánh sáng, đó là ánh mặt trời lặn về tây, chiếu lên ngọn tháp, sư trưởng nói:
- Đệ tử không có duyên pháp! Từ khi rời Đông Thổ, đã phát nguyện gặp miếu thắp hương, thấy tháp quét tháp. Nơi phóng ánh sáng kia chẳng phải là một tòa hoàng kim bảo tháp ư? Sao lại chẳng đến tận nơi? Ở dưới tháp chắc có tu viện, trong viện phải có nhà phòng, ta thử đến đấy xem. Chỗ để hành lý và ngựa buộc, chắc không ai qua lại, hẳn cũng vô sự. Nơi đây nếu có phương tiện, đợi bọn đồ đệ về, cùng đến ngủ trọ.
Ôi! sư trưởng nhất thời bị tai vạ tới nơi rồi! Người thẳng đến ngay trước tháp. Chỉ thấy:
Dốc đá cao muôn trượng, núi to tiếp trời xanh. Rễ liền đất thẳm, ngọn chấm trời cao. Hai bên gỗ tạp mấy nghìn cây, sau trước song leo thừa trăm dặm. Ngọn cỏ hoa đưa luồn bóng gió, cổng mây nước chảy ánh vừng trăng. Khe sâu cây gỗ vát ngang, đỉnh trọi dây mây leo ngược. Dưới cầu đá, suối trong chảy cuồn cuộn, trên tòa đền, vách đá trắng phau phau. Xa trông chẳng khác chi Tam Đảo Thiên Đường, gần ngắm rõ giống hệt Bồng Lai Thắng Cảnh. Thông xanh trúc tía quẩn khe sâu, vượn trắng, quẹt đen xuyên đỉnh dốc. Ngoài cửa động, tẩu thú từng đàn, chạy đi chạy lại ngay giữa rừng, phi cầm hàng lũ bay tới bay lui. Hoa nội xum xuê nở, cỏ thơm mon mởn tươi. Chốn này rõ ràng là nơi độc ác. Sư trưởng vận đen bị vướng mắc vào.
Đường Tăng cất bước đi lên, vừa mới đến dưới cửa tháp, thấy ở bên trong có buông cánh mành mành trúc, liền rón rén bước vào cửa, vén mành, tiến vào bên trong, ngửng mặt lên, trông ngay thấy một con yêu quái nằm nghiêng đương ngủ trên một cái giường đá. Thoáng trông hình dáng nó:
Mặt xanh lè, răng trắng nhởn, mồm há hốc mở to. Hai món tóc mai quăn xoắn lại, đều là đỏ rực yên chi. Ba bốn khóm râu ria đỏ quạch, ngỡ là cây vải mới đâm chồi. Mũi khoằm khoằm như mỏ diều hâu, mắt trắng dã tựa tia sao chổi. Hai cái nắm tay đấm, y như bát tộ nhà sư. Một cặp chân giò chẳng khác khúc cây đốt sưởi. Áo bào vàng khoác lệch trên mình, còn hơn cả cà sa dệt gấm. Con dao vẫn thường dùng, trơn tru bóng lộn. Phiến đá để nằm ngủ, nhẵn nhụi trong veo. Đã từng có tiểu yêu bày trận kiến, lại từng làm lão quái ngồi phòng ong. Nó oai phong lẫm lẫm, mọi người sợ sệt phải gọi là cha. Đã từng trông trăng, có ba người hầu chuốc rượu, đã từng hóng gió, phải hai chú đứng dâng trà. Thực thần thông cao cả, chỉ trong chớp mắt, đi khắp phương trời. Rừng hoang chim chóc hót, bụi rậm rắn rồng quanh. Tiên tử cấy giồng cây bạch ngọc, đạo nhân đun nấu luyện đơn sa. Cửa động hỏm hom, dù chưa phải a tì địa ngục; yêu ma ngờ nghệch. Mới thực là đầu ngựa dạ xoa.
Sư trưởng nhìn thấy hình dáng nó, giật nảy người lên, thân thể nhũn ra, chân tay bủn nhủn, vội vàng quay mình trở ra. Vừa khi sư trưởng mới chuyển bước, hay đâu linh tính yêu ma thật mạnh, nó sực thức dậy, càng hai con mắt cú vàng lòe, gọi to:
- Bọn nhỏ đâu, bay xem người nào ở ngoài cửa?
Một tiểu yêu thò đầu ra ngoài nhìn, trông thấy một vị hòa thượng đầu trọc, vội vàng chạy vào báo:
- Thưa đại vương, ngoài cửa có vị hòa thượng, đầu tròn mắt lớn, hai tai chấm vai, thân thể nhũn nhặn béo múp, màu da mìn mịn trắng phây. Chính là vị hòa thượng tốt!
Yêu ma nghe nói, khanh khách cười nói:
- Thế mới gọi là “nhặng xanh đỗ mép rắn, của mang đến tự nhiên”. Bớ bọn nhỏ bay đâu! Chạy mau ra nắm lại, bắt hắn mang về đây! Ta sẽ có thưởng lớn!
Bọn tiểu yêu như đàn ong vỡ tổ ào ào chạy lên. Tam Tạng trông thấy, tuy rằng một lòng nhanh tựa bắn, hai cẳng chạy như bay chung quy vẫn tim run mật nảy, cẳng nhũn chân mềm. Vả lại đường núi gập gềnh, rừng sâu trời tối, làm thế nào mà bước đi được, liền bị bọn tiểu yêu bắt sống khiêng về. Thực là:
Rồng sa vùng cạn tôm trêu cợt,
Hổ lạc đồng bằng, chó dối lừa.
Đã đành việc lớn nhiều ngang trở,
So việc Đường Tăng cũng vẫn thua.
Bọn tiểu yêu khiêng Tam Tạng để ở ngoài bức mành trúc rồi vui sướng chạy vào báo:
- Thưa đại vương, đã bắt được hòa thượng khiêng về đây.
Yêu quái đưa mắt liếc nhìn, thấy Tam Tạng đầu thẳng thắn, mặt đường hoàng, quả nhiên là một vị hòa thượng tốt, liền tự nghĩ trong bụng:
- Hòa thượng tốt đẹp thế này, hẳn là nhân vật thượng lưu, không ví như bọn tẹp nhẹp được, nếu không làm ra vẻ oai phong, đời nào hắn chịu hàng phục.
Đột nhiên râu chổi xể vểnh ra, tóc rễ tre dựng ngược, mắt trợn xếch ra, cáo giả oai hùm, nó đùng đùng quát to dọa nạt:
- Lôi lão hòa thượng vào đây!
Lũ yêu quái răm rắp đồng thanh trả lời:
- Tuân mệnh!
Thế rồi bọn chúng chỉ đẩy mạnh Tam Tạng một cái, Tam Tạng đã xô đến dưới mái thấp tẹt, đâu còn dám ngẩng đầu. Tam Tạng chỉ còn chắp tay vái chào. Yêu quái nói:
- Nhà ngươi quê quán ở đâu? Từ nơi nào đến, định đi đâu? Nói ra cho mau!
Tam Tạng nói:
- Tôi là tăng nhân bên Đường Triều, vâng sắc mệnh đại vương hoàng đế, đi sang Tây Phương cầu hỏi kinh kệ, đường qua bảo sơn đây định đến tháp lễ thánh, không dè làm phạm tới oai nghiêm, xin người thứ tội, đợi khi sang Tây Thiên lấy được kinh về đến Đông Thổ, vĩnh viễn xin ghi chép cao danh.
Yêu tinh nghe nói khanh khách cười to nói:
- Ta đã bảo là nhân vật thượng bang, quả đúng là mi, ta đương muốn ăn thịt mi, mi lại tới ngay đây! Tốt lắm! Tốt lắm! Không thế chẳng khác gì bỏ lỡ dịp? Mi là thức ăn trong miệng ta, tự nhiên lại mò đến, dù có muốn xin tha cũng không được, muốn trốn cũng chẳng thoát!
Đoạn nó quát bảo tiểu yêu:
- Đem lão hòa thượng này trói lại!
Bọn tiểu yêu chạy ồ cả đến, lấy dây thừng trói chặt sư trưởng lại, cột vào cọc định hồn.
Lão yêu tay cầm dao miệng lại hỏi:
- Nhà sư kia, bọn mi tất cả có bao nhiêu người nếu không thì một mình mi đi sang làm sao được Tây Thiên?
Tam Tạng thấy nó cầm dao, lại phải nói thực:
- Thưa đại vương, tôi còn hai người đồ đệ, gọi là Bát Giới và Sa Tăng đều ra khỏi rừng thông đi xin cơm. Lại còn có một quảy hành lý, một con ngựa bạch, vẫn để cả trong rừng.
Lão yêu nói:
- Lại càng may! Hai tên đồ đệ với mi là ba và con ngựa là bốn, phải làm một bữa chén căng bụng!
Tiểu yêu nói:
- Để chúng tôi đi bắt về.
Lão yêu nói:
- Hãy đóng cửa lại, không cần đi đâu. Hai tên đó đi xin cơm, nhất định phải đi tìm sư phụ cùng ăn, tìm không thấy nhất định phải đến đây. Thường có câu “những thức mang bán đến tận nha mới tốt”, cứ để thong thả sẽ bắt!
Bọn tiểu yêu bèn đóng cửa trước lại.
Hãy tạm gác chuyện Tam Tạng gặp nạn, lại nói đến Sa Tăng ra khỏi rừng đi tìm Bát Giới, đã đi tới trên dưới mười dặm đường, chẳng thấy có xóm trại gì hết. Y bèn đứng trên một cái gò cao đương mải nhìn xét chợt thấy có tiếng người nói ở trong bụi cỏ vội cầm trượng vạch sâu vào trong bụi xem, té ra chú Ngốc đương nói mê ở trong đó. Sa Tăng liền cầm tai xách lên, gọi tỉnh lại và nói:
- Anh Ngốc giỏi nhỉ! Sư phụ bảo anh đi xin cơm chay, chứ cho anh đến đây ngủ à?
Chú Ngốc quờ quờ quạng quạng tỉnh dậy nói:
- Chú em, bây giờ là bao giờ rồi?
Sa Tăng nói:
- Đậy đi thôi! Sư phụ bảo có cơm hay không cũng được, bảo anh với tôi thế nào cũng phải tìm được chỗ trọ đêm nay.
Chú Ngốc mơ mơ màng màng cầm lấy bát tộ, vác gậy đinh ba, cùng Sa Tăng đi thẳng trở về, vào trong rừng tìm, không thấy sư phụ đâu cả. Sa Tăng oán trách Bát Giới nói:
- Chỉ vì cái đồ ngốc nhà anh đi xin cơm không về ngay! Hẳn là yêu tinh bắt mất sư phụ rồi.
Bát Giới cười nói:
- Chú em chớ có nói nhảm. Rừng đây là một nơi thanh nhã, làm gì ra yêu tinh. Có lẽ sư phụ ngồi buồn, đi ngắm cảnh đâu đó hẳn thôi. Chúng ta lần đi tìm người.
Hai người đầu lòng lại quảy hành lý, dắt ngựa, thu dọn nón lá tích trượng, ra khỏi rừng thông đi tìm sư phụ.
Lần này cũng là Đường Tăng chưa đến ngày chết. Hai người đi tìm kiếm một hồi không thấy, chợt nhìn thấy ở về phía chính nam có ánh sáng lấp lánh. Bát Giới nói:
- Chú em ạ! Có phúc lại gặp nơi có phúc. Rành là sư phụ đến nhà ấy rồi, chỗ có ánh sáng kia đích thị là một tòa bảo tháp, nhất định họ sửa soạn cơm chay. Chúng ta còn đợi gì mà không đến đấy làm bữa cơm chay chứ.
Sa Tăng nói:
- Anh ạ, chưa biết lành dữ thế nào, chúng ta hãy tới xem!
Hai người hùng hổ đi tới trước cửa. Chà! cửa đã đóng rồi, chỉ thấy có viên đá bạch ngọc để ngang trên cửa, ở trên có khắc sẵn chữ đại tự “Uyển Tử sơn, Ba Nguyệt động”.
Sa Tăng nói:
- Anh ạ, đây không phải tu viện gì đâu, đúng là một tòa động phủ của yêu tinh. Sư phụ mình ở trong đó rồi, không tìm được nữa đâu.
Bát Giới nói:
- Người anh em đừng sợ, hãy dắt ngựa, để tôi đi hỏi xem.
Nói đoạn, Chú Ngốc vác đinh ba đến trước cửa gọi to:
- Mở cửa! Mở cửa!
Tiểu yêu canh cửa ở phía trong động vừa mở cửa ra nhìn thấy hình dạng hai người, vội quay chạy vào cấp báo:
- Thưa đại vương, con buôn đã đến bán.
Lão yêu nói:
- Con buôn ở đâu!
Tiểu yêu nói:
- Ở ngoài cửa động, có một vị hòa thượng mồm dài tai to, cùng đi với một vị hòa thượng nửa mặt rám đen, đến gọi cửa.
Lão yêu rất mừng nói:
- Trư Bát Giới và Sa Tăng đến tìm đây rồi! Họ cũng khéo tìm nhỉ! Sao lại lần mò được đến đây? Mặt mũi họ hung tợn như vậy, chớ coi thường.
Liền gọi to:
- Lấy đai giáp đây!
Tiểu yêu mang đến, nó ăn mặc đai giáp gọn gàng, cầm dao mở cửa đi ra.
Bát Giới, Sa Tăng đương đợi ở ngoài cửa, thấy lão yêu hung hăng đi tới. Trông nó rành rành:
Da mặt xanh lè, râu tóc đỏ,
Mình đeo áo giáp sắc vàng hoe.
Ngang lưng thắt dải sà cừ khảm,
Đỡ ngực quàng dây lụa đỏ lòe...
Gió thổi đầu non nhàn đứng ngắm
Sóng cồn cửa bể, rỗi ngồi nghe.
Hai bàn tay xám trông gân guốc.
Một lưỡi truy hồn sắc sáng lòe.
Muốn biết họ tên con vật ấy,
Hoàng Bào hai tiếng lẫy lừng ghê.
Hoàng Bào Lão quái đi ra ngoài cửa liền quát hỏi:
- Mi là hòa thượng ở phương nào dám đến cửa ta quát tháo?
Bát Giới nói:
- Con ta không nhận ra ta được ư? Chính là cha mi đây. Ta là người nhà Đại Đường sai sang Tây Thiên! Sư phụ ta là ngự đệ Tam Tạng, nếu ở trong nhà mi, mi phải đưa ngay ra đây, ta đỡ phải bổ đinh ba xuống.
Yêu quái cười nói:
- Có, có, có Đường Tăng ở trong nhà ta. Ta cũng không rẻ rúng người đâu. Ta đã làm bánh bao nhân thịt người để hòa thượng xơi, các ngươi cũng vào ăn một bữa, tính thế nào?
Chú Ngốc ngỡ thực định vào. Sa Tăng níu lại nói:
- Anh, nó đánh lừa đấy, đời nào lại có chuyện ăn thịt người bao giờ!
Bát Giới mới tỉnh ngộ, liền giơ đinh ba, nhằm đầu yêu quái bổ xuống. Yêu quái né mình tránh ra, múa đao gang đón đánh. Hai người hiển thần thông, cưỡi mây nhảy lên trên không giao chiến. Sa Tăng cũng để hành lý và ngựa bạch ở dưới đất, cầm bảo trượng vọt lên trợ chiến. Lúc đó hai vị hòa thượng tợn, một đứa yêu quái hung, đánh nhau kịch liệt trên từng mây, vài ba mươi hợp, không phân thắng phụ.
Chưa biết làm thế nào cứu được Đường Tăng, xem tới hồi sau sẽ rõ.

