Những quy luật của bản chất con người - Chương 02

2

Chuyển hóa tình yêu bản thân thành sự cảm thông

Quy luật của sự ái kỷ

Tất cả chúng ta đều tự nhiên sở hữu công cụ nổi bật nhất để kết nối với mọi người và giành được quyền lực xã hội - sự cảm thông. Khi được vun bồi và sử dụng đúng, nó có thể cho phép chúng ta nhìn vào tâm trạng và tâm trí của những người khác, mang tới cho chúng ta khả năng tiên đoán những hành động của họ và giảm nhẹ sự chống đối của họ. Tất cả chúng ta đều tự yêu mình, một số tự yêu mình nhiều hơn so với kẻ khác trong dãy này. Sứ mệnh của chúng ta trong cuộc đời là học cách sống với tình yêu bản thân này và học cách hướng cảm giác này ra bên ngoài, tới những người khác, thay vì hướng vào bên trong. Đồng thời, chúng ta phải nhận ra những kẻ ái kỷ tai hại trong số chúng ta trước khi vướng vào những vở kịch của họ và bị đầu độc bởi sự đố kỵ của họ.

Phổ ái kỷ

Từ lúc chào đời, loài người chúng ta đã cảm thấy một nhu cầu không bao giờ kết thúc: được chú ý. Chúng ta hoàn toàn là những động vật xã hội. Sự sống còn và hạnh phúc của chúng ta phụ thuộc vào những mối ràng buộc mà chúng ta hình thành với kẻ khác. Nếu không được mọi người chú ý, chúng ta không thể kết giao với họ ở bất kỳ cấp độ nào. Một số trong đó đơn thuần là vấn đề thể lý - được mọi người chú ý chúng ta mới cảm thấy mình đang sống. Như những ai từng sống lẻ loi qua thời gian dài có thể chứng thực, nếu không có sự tiếp xúc ánh mắt người, ta bắt đầu hồ nghi về sự tồn tại của mình và rơi vào trạng thái trầm cảm nghiêm trọng. Nhưng nhu cầu này cũng có tính chất tâm lý: Thông qua mức độ chú ý của người khác, chúng ta cảm thấy được công nhận và đánh giá cao vì chính mình. Cảm giác tự tôn của chúng ta phụ thuộc vào điều này. Vì vấn đề này rất quan trọng đối với con người, mọi người sẽ làm hầu như bất kỳ điều gì để thu hút sự chú ý, bao gồm phạm tội hình sự hoặc cố tự sát. Hãy nhìn vào phía sau của bất kỳ hành động nào, bạn sẽ nhận ra nhu cầu này như một thôi thúc hàng đầu.

Tuy nhiên, khi cố thỏa mãn niềm khao khát đối với sự chú ý, chúng ta đối mặt với một vấn đề không thể tránh khỏi: Có quá nhiều đối tượng để chúng ta lôi kéo sự chú ý. Trong gia đình, chúng ta phải cạnh tranh với các anh chị em ruột; ở nhà trường, với các bạn học; trong công việc, với các đồng nghiệp. Những giây phút mà khi ấy chúng ta cảm thấy được công nhận và đánh giá cao trôi qua rất nhanh. Mọi người có thể cực kỳ thờ ơ với số phận của chúng ta, vì họ phải giải quyết những vấn đề riêng của mình. Thậm chí có một số người thẳng thừng tỏ ra thù địch và không tôn trọng chúng ta. Làm cách nào để đối phó với những khoảnh khắc đó, khi chúng ta cảm thấy cô đơn về mặt tâm lý, hay thậm chí bị ruồng bỏ? Chúng ta có thể nỗ lực gấp đôi để nhận được sự chú ý và quan tâm, nhưng điều này có thể vắt kiệt năng lượng của chúng ta; và thông thường nó có thể có tác dụng ngược lại - mọi người đã cố gắng quá mức đến độ dường như tuyệt vọng và đã đẩy lùi sự chú ý mà họ mong muốn. Đơn giản, chúng ta không thể dựa vào những kẻ khác để tạo cho mình giá trị bất biến, thế nhưng chúng ta khao khát nó.

Khi đối mặt với tình thế lưỡng nan này từ thuở đầu đời, hầu hết chúng ta đều đi tới một giải pháp khá hữu hiệu: Tạo ra một bản ngã, một hình ảnh của chính mình vốn an ủi chúng ta và khiến cho chúng ta cảm thấy có giá trị từ bên trong. Bản ngã này bao gồm những sở thích, quan niệm, cách chúng ta nhìn vào thế giới, những thứ chúng ta đánh giá cao. Khi xây dựng nhận thức về bản thân này, chúng ta có xu hướng nhấn mạnh những phẩm chất tích cực của mình và nói giảm những thiếu sót của mình. Chúng ta không thể đi quá xa theo cách này, vì nếu tự nhận thức về bản thân của chúng ta cách quá xa hiện thực, những người khác sẽ nói cho chúng ta biết sự thiếu nhất quán này, và chúng ta sẽ tự nghi ngờ bản thân. Nhưng nếu nó được thực hiện một cách đúng đắn, cuối cùng chúng ta có một bản ngã mà chúng ta có thể yêu quý và đánh giá cao. Năng lượng của chúng ta hướng vào bên trong. Chúng ta trở thành trung tâm sự chú ý của chính mình. Khi trải qua những khoảnh khắc không thể tránh khỏi này, khi ở một mình hay cảm thấy không được đánh giá cao, chúng ta có thể rút lui vào bản ngã này và tự vỗ về mình. Nếu có những khoảnh khắc hoài nghi và chán nản thì tình yêu bản thân sẽ nâng chúng ta lên, khiến chúng ta cảm thấy xứng đáng và thậm chí vượt trội hơn người khác. Sự tự nhận thức về bản thân này hoạt động như một cái máy điều nhiệt, giúp chúng ta điều chỉnh lại những hồ nghi và bất an của mình. Chúng ta không còn hoàn toàn phụ thuộc vào sự chú ý và công nhận của những người khác. Chúng ta có lòng tự trọng.

Có thể ý tưởng này nghe có vẻ lạ lùng. Chúng ta thường coi sự tự nhận thức này hoàn toàn là lẽ đương nhiên, giống như không khí chúng ta hít thở. Nó hoạt động trên một cơ sở hầu như vô thức. Chúng ta không cảm thấy hay nhận ra cái máy điều nhiệt này khi nó hoạt động. Cách tốt nhất để hình dung động năng này, theo nghĩa đen, là nhìn vào những người thiếu một ý thức cố kết về bản thân - những người mà chúng ta sẽ gọi là những người ái kỷ sâu.

Trong quá trình xây dựng một bản ngã mà chúng ta có thể duy trì và yêu mến, thời khắc then chốt trong sự phát triển của nó xảy ra khi ta từ hai đến năm tuổi. Khi dần dần tách khỏi mẹ mình, chúng ta đối mặt với một thế giới trong đó mình không thể có được sự hài lòng ngay lập tức. Chúng ta cũng bắt đầu ý thức được rằng mình đơn độc và phải phụ thuộc vào cha mẹ để sống còn. Giải đáp của chúng ta là đồng nhất với những phẩm chất tốt đẹp nhất của cha mẹ mình - sức mạnh của họ, khả năng vỗ về của họ - và hợp nhất những phẩm chất này với bản thân chúng ta. Nếu cha mẹ khuyến khích những nỗ lực đầu tiên để trở nên độc lập của chúng ta, nếu họ đánh giá cao nhu cầu lớn lao của chúng ta và nhận ra những phẩm chất riêng biệt của chúng ta, tự nhận thức về bản thân của chúng ta bám rễ, và chúng ta có thể dần dần bồi đắp trên đó. Những người ái kỷ sâu có một vết rạn nứt trầm trọng trong giai đoạn phát triển ban đầu này, và vì thế họ không bao giờ hoàn toàn xây dựng được một cảm giác thực tế và nhất quán về một bản ngã.

Bản thân mẹ (hoặc cha) của họ cũng có thể là những người ái kỷ sâu, họ quá quan tâm tới bản thân nên không lưu ý tới đứa con và khuyến khích những nỗ lực ban đầu để trở nên độc lập của nó. Hoặc cũng có thể các bậc cha mẹ đó là những người đặt hết chú ý vào đứa con - quan tâm thái quá tới cuộc sống của nó, bóp nghẹt nó với sự chú ý, cách ly nó với những người khác, và xem sự tiến bộ của nó như một phương tiện để khẳng định lòng tự tôn của chính họ. Họ không chừa chỗ trống nào để đứa trẻ có thể xây dựng một bản ngã. Trong hoàn cảnh xuất thân của hầu hết những người ái kỷ sâu, chúng ta tìm thấy sự ruồng bỏ hoặc sự quan tâm thái quá và không đúng cách. Kết quả là họ không có bản ngã nào để rút lui vào đó, không có nền tảng nào cho lòng tự trọng, và hoàn toàn phụ thuộc vào sự chú ý mà họ có thể nhận được từ những người khác để giúp họ cảm thấy mình đang sống và có giá trị.

Trong thời thơ ấu, nếu những kẻ ái kỷ đó là người hướng ngoại, họ có thể hoạt động khá ổn, thậm chí phát triển tốt. Họ trở nên bậc thầy về khả năng thu hút sự quan tâm và độc chiếm sự chú ý. Họ có thể tỏ ra hoạt bát và hưng phấn. Ở một đứa trẻ, dường như những phẩm chất như thế có thể là một dấu hiệu của thành công xã hội trong tương lai. Nhưng bên dưới bề mặt đó, họ trở nên nghiện ngập một cách nguy hiểm đối với những sự chú ý của người khác mà họ khơi gợi để giúp họ cảm thấy trọn vẹn và có giá trị. Nếu họ là người hướng nội, họ sẽ rút lui vào một cuộc sống tưởng tượng, hình dung ra một bản ngã hoàn toàn vượt trội so với những người khác. Do họ sẽ không có được sự xác nhận từ những người khác đối với tự nhận thức về bản thân này vì nó quá phi hiện thực, nên họ cũng sẽ có những khoảnh khắc hoài nghi cực độ và thậm chí chán ghét bản thân. Họ là một vị thần hoặc một con sâu cái kiến. Thiếu một cốt lõi cố kết, họ có thể tự tưởng tượng mình là bất kỳ người nào, và do đó những tưởng tượng của họ sẽ tiếp tục chuyển biến trong lúc họ thử các tính cách mới.

Nhìn chung, cơn ác mộng đối với những kẻ ái kỷ sâu xuất hiện ở lứa tuổi 20 và 30 của họ. Họ đã thất bại trong việc phát triển cái máy điều nhiệt bên trong, một cảm giác cố kết của bản ngã để yêu thương và tin tưởng. Những người hướng ngoại phải thường xuyên thu hút sự chú ý để cảm thấy đang sống và được đánh giá cao. Họ đóng kịch nhiều hơn, thích phô trương hơn và phi thực tế hơn. Điều này có thể trở nên mệt mỏi và thậm chí thảm hại. Họ phải thay đổi bạn bè và ngoại cảnh để có thể có một lượng khán giả mới. Những người hướng nội rơi sâu hơn vào một bản ngã tưởng tượng. Vụng về trong giao tiếp xã hội nhưng lại tỏ ra kẻ cả, họ có xu hướng trở nên xa lạ với mọi người, gia tăng sự lẻ loi nguy hiểm của họ. Trong cả hai trường hợp, ma túy hay rượu mạnh hay bất cứ hình thức nghiện nào có thể trở thành một chỗ nương tựa cần thiết để an ủi họ trong những khoảnh khắc không thể tránh khỏi của sự nghi ngờ và trầm cảm.

Bạn có thể nhận ra những người ái kỷ sâu nhờ các khuôn mẫu sau: Nếu bị sỉ nhục hoặc thách thức, họ không có sự phòng vệ nào, không có gì bên trong để an ủi họ hay khẳng định giá trị của họ. Nhìn chung họ phản ứng với sự phẫn nộ cao độ, khao khát trả thù, tràn ngập cảm xúc về sự công bằng. Đây là cách duy nhất họ biết để đấu tranh với những bất an của họ. Trong những trận đấu đó, họ sẽ tự xem mình là nạn nhân bị tổn thương, làm cho những người khác bối rối và thậm chí còn thu hút được sự cảm thông. Họ dễ nổi cáu và nhạy cảm quá mức. Hầu như mọi thứ đều được đánh giá theo quan điểm cá nhân. Họ có thể trở nên hoàn toàn hoang tưởng và có kẻ thù khắp bốn phía để chỉ trích. Bạn có thể nhìn thấy một vẻ sốt ruột hay ánh mắt xa xăm trên mặt họ bất cứ khi nào bạn nói về một điều không liên quan trực tiếp đến họ theo cách nào đó. Họ lập tức xoay cuộc đối thoại trở về bản thân mình, với một câu chuyện hoặc giai thoại nào đó để lảng tránh sự bất an phía sau nó. Họ có thể dễ nổi cơn đố kỵ dữ dội nếu nhìn thấy kẻ khác nhận được sự chú ý mà họ cảm thấy mình xứng đáng được hưởng. Họ thường biểu lộ sự tự tin cực độ. Điều này luôn giúp thu hút sự chú ý, và nó hầu như che kín sự trống rỗng nội tâm của họ và ý thức rời rạc về bản ngã của họ. Nhưng cần cảnh giác xem sự tự tin này đã bao giờ thật sự được kiểm chứng chưa.

Với những người khác trong cuộc sống của họ, những kẻ ái kỷ sâu có một mối quan hệ khác thường mà chúng ta khó lòng hiểu được. Họ có xu hướng xem những người khác như những phần mở rộng của bản thân họ, được biết với tên gọi bản ngã khách thể (self-object). Mọi người tồn tại như những công cụ cho sự chú ý và sự công nhận. Mong muốn của họ là điều khiển những người này như điều khiển cánh tay hay chân của chính họ. Trong một mối quan hệ, họ sẽ dần dần làm cho đối tác cắt đứt quan hệ với bạn bè - nhất thiết không thể có sự cạnh tranh để giành sự chú ý.

Một số kẻ ái kỷ sâu có tài (xem phần Những ví dụ về một số dạng người ái kỷ) cố xoay xở để tìm sự cứu rỗi thông qua hoạt động của họ, định kênh các kẻ thù và tìm kiếm sự chú ý mà họ khao khát thông qua những thành tựu của họ, dù họ có xu hướng vẫn tỏ ra hoàn toàn thất thường và hay thay đổi. Tuy nhiên, với hầu hết những kẻ ái kỷ sâu, họ có xu hướng liên tục lo lắng về những gì người khác suy nghĩ về mình. Điều này khiến họ khó thật sự tập trung chú ý ra bên ngoài trong một thời gian dài, và đối phó với sự sốt ruột và bồn chồn xuất hiện cùng với công việc. Những dạng này có xu hướng thay đổi việc làm và nghề nghiệp rất thường xuyên. Điều này trở thành giọt nước làm tràn cái cốc thất bại của họ - không thể thu hút sự công nhận đích thực thông qua những thành tựu của mình, họ mãi mãi bị ném về phía sau do nhu cầu đối với việc gây chú ý một cách giả tạo.

Những kẻ ái kỷ sâu có thể gây ra nhiều bực bội và khó chịu cho những ai tiếp xúc với họ. Họ cũng có thể trở nên hoàn toàn có hại nếu chúng ta tới quá gần họ. Họ khiến chúng ta vướng vào những vở kịch không bao giờ dứt của họ và làm cho chúng ta cảm thấy có lỗi nếu không tiếp tục chú ý tới họ. Những mối quan hệ với họ không làm ai vừa ý và nếu đối tác hay chồng hoặc vợ của bạn thuộc dạng này thì đời bạn kể như tàn. Rốt cuộc, mọi thứ phải xoay quanh họ. Giải pháp tốt nhất trong những trường hợp như thế là tránh xa họ một khi đã xác định họ là dạng ái kỷ sâu.

Tuy nhiên, có một dạng trong số này, nguy hiểm và có hại hơn, vì họ có thể đạt tới những cấp độ quyền lực - đó là dạng lãnh đạo ái kỷ. (Dạng này đã tồn tại suốt một thời gian dài. Trong Kinh Thánh, Absalom(34) có lẽ là ví dụ đầu tiên được ghi chép lại, nhưng chúng ta cũng tìm thấy những lời nhắc thường xuyên trong văn chương cổ đại về một số khác - vài người trong số đó là Alcibiades(35), Cicero(36), và Hoàng đế Nero(37)). Hầu hết các dạng độc tài và các CEO chuyên chế đều rơi vào phạm trù này. Nhìn chung họ có nhiều tham vọng hơn dạng ái kỷ sâu bình thường và trong một thời gian có thể dồn năng lượng này cho công việc. Đầy lòng tự tin mang tính ái kỷ, họ thu hút sự chú ý và những người đi theo. Họ nói và làm những điều mà những người khác không dám nói hay làm, họ có vẻ đáng ngưỡng mộ và tin cậy. Họ có thể có một viễn tượng về một sản phẩm tiên tiến nào đó, và vì họ phát ra sự tự tin như thế, họ có thể tìm được những kẻ giúp họ hiện thực hóa viễn tượng của mình. Họ là những chuyên gia trong việc dùng người.

Nếu họ thành công, một động lực khủng khiếp được triển khai - thêm nhiều người bị lôi cuốn theo sự lãnh đạo của họ, vốn chỉ thổi phồng những xu hướng thiếu thực tế của họ. Nếu bất kỳ người nào dám thách thức họ, họ có xu hướng nổi cơn thịnh nộ mang tính ái kỷ rất kinh khủng. Họ cực kỳ nhạy cảm. Họ cũng thích liên tục khuấy động bi kịch như một phương tiện để chứng minh cho quyền lực của họ - họ là những kẻ duy nhất có thể giải quyết những rắc rối mà họ tạo ra. Điều này cũng mang tới cho họ nhiều cơ hội trở thành trung tâm chú ý hơn. Nơi làm việc không bao giờ ổn định dưới sự chỉ đạo của họ.

Đôi khi họ có thể trở thành những doanh nhân, những người thành lập một công ty nhờ uy tín và khả năng lôi kéo người theo của họ. Họ cùng có thể có những khả năng thiên bẩm tích cực. Nhưng đối với nhiều người thuộc dạng lãnh đạo này, cuối cùng sự bất ổn định nội tâm và những rối loạn của họ sẽ bộc lộ trong công ty hay nhóm mà họ lãnh đạo. Họ không thể tạo được một cấu trúc hay tổ chức cố kết. Mọi thứ phải chảy qua họ. Họ phải kiểm soát mọi thứ và mọi người, những bản ngã khách thể của họ. Họ sẽ tuyên bố điều này như một đức tính - đáng tin cậy và tự phát - khi thật ra họ thiếu khả năng tập trung và tạo được thứ gì đó bền vững. Họ có xu hướng thiêu rụi và phá hủy bất cứ thứ gì họ tạo ra.

Hãy tưởng tượng sự ái kỷ như một cách đo lường cấp độ của việc chỉ quan tâm tới chính mình, được biểu thị trên một thước đo từ cao tới thấp. Ở một độ sâu nhất định, chẳng hạn bên dưới điểm giữa của thước, người này thuộc phạm vi của sự ái kỷ sâu. Một khi xuống tới độ sâu này, họ rất khó tự nâng mình lên trở lại, vì họ thiếu công cụ “lòng tự trọng”. Kẻ ái kỷ sâu trở nên hoàn toàn chỉ quan tâm tới chính mình, hầu như luôn luôn ở bên dưới mức giữa. Nếu trong một thời khắc họ có thể xoay xở để giao tiếp với người khác, một nhận xét hay hành động nào đó sẽ khơi gợi những bất an của họ và họ sẽ rơi thẳng xuống. Nhưng đa số có xu hướng chìm sâu hơn vào chính họ theo thời gian. Những người khác là những công cụ. Thực tại chỉ là một phản ảnh của các nhu cầu của họ. Sự chú ý liên tục là cách sống còn duy nhất của họ.

Bên trên mức giữa này sẽ được gọi là sự ái kỷ thiết thực (functional narcisism), vị trí của hầu hết chúng ta. Chúng ta cũng quan tâm tới chính mình, nhưng điều ngăn cản chúng ta rơi sâu vào bản thân là một ý thức cố kết về bản ngã mà chúng ta có thể dựa vào và yêu mến. (Thật mỉa mai khi từ ái kỷ (narciscism) mang ý nghĩa là tình yêu bản thân (self-love), khi thật ra trong trường hợp này những kẻ ái kỷ không có bản ngã cố kết nào để yêu mến, và đó chính là nguồn gốc của vấn đề của họ). Bản ngã này tạo ra một sự co giãn bên trong. Chúng ta có thể có những thời khắc ái kỷ sâu hơn, dao động xuống dưới mức giữa, nhất là khi phiền muộn hay bị thách thức trong cuộc sống, nhưng chắc chắn chúng ta sẽ tự nâng cao mình lên. Không cảm thấy liên tục bất an hay tổn thương, không luôn cần thiết phải lôi kéo sự chú ý, những kẻ ái kỷ thiết thực có thể hướng sự chú ý của mình ra bên ngoài, vào công việc và việc xây dựng các mối quan hệ với mọi người.

Nhiệm vụ của chúng ta, với tư cách những người nghiên cứu bản chất con người, có ba phần. Đầu tiên, chúng ta phải hoàn toàn hiểu rõ hiện tượng ái kỷ sâu. Dù những người dạng này là thiểu số, một số trong đó có thể tiêm nhiễm một mức độ tổn hại lớn lao trong thế giới. Chúng ta phải có khả năng phân biệt được dạng có hại vốn khuấy động bi kịch và cố biến chúng ta thành những đối tượng mà họ có thể sử dụng cho các mục đích của họ. Họ có thể lôi kéo chúng ta với năng lượng khác thường của họ, nhưng nếu chúng ta vướng vào lưới của họ, việc thoát ra khỏi nó có thể là một cơn ác mộng. Họ là những bậc thầy trong việc xoay chuyển tình thế và làm cho người khác cảm thấy có lỗi. Những lãnh đạo ái kỷ là dạng nguy hiểm hơn hết, và chúng ta phải chống lại sức hút của họ, nhìn xuyên qua mặt ngoài của óc sáng tạo rõ ràng của họ. Biết cách đối phó với những kẻ ái kỷ sâu trong cuộc sống là một nghệ thuật quan trọng đối với tất cả chúng ta.

Thứ hai, chúng ta phải trung thực về bản chất của chính mình và không phủ nhận nó. Tất cả chúng ta đều là những kẻ ái kỷ. Trong một cuộc đối thoại, tất cả chúng ta đều háo hức được nói, để kể câu chuyện của mình, để đưa ra ý kiến của mình. Chúng ta thích những người chia sẻ các ý tưởng của mình - họ phản ánh lại cho chúng ta biết thị hiếu tốt đẹp của chúng ta. Nếu thích tự khẳng định, chúng ta xem sự tự khẳng định là một phẩm chất tích cực vì nó là của chúng ta, trong khi những người khác, e dè hơn, sẽ đánh giá nó là đáng ghét và đánh giá cao các phẩm chất có tính chất nội quan. Tất cả chúng ta thích sự tâng bốc vì tình yêu bản thân của chúng ta. Những kẻ lên mặt dạy đời vốn cố tự cách ly mình và lên án những người ái kỷ trên thế giới ngày nay thường là những kẻ ái kỷ lớn nhất trong tất cả họ - họ yêu thích âm thanh giọng nói của họ trong lúc họ chỉ trích và rao giảng. Tất cả chúng ta đều nằm trên phổ chỉ quan tâm tới chính mình. Tạo ra một bản ngã mà chúng ta có thể yêu mến là một bước phát triển lành mạnh, và sẽ không có vết nhơ nào dính vào nó. Nếu không có lòng tự trọng từ bên trong, chúng ta sẽ rơi vào sự ái kỷ sâu. Nhưng để di chuyển ra bên ngoài, tới sự ái kỷ thiết thực, vốn là mục tiêu của chúng ta, trước hết chúng ta phải trung thực với bản ngã của mình. Việc cố phủ nhận bản chất chỉ quan tâm tới chính mình, cố vờ như theo cách nào đó chúng ta vị tha hơn những người khác, khiến cho chúng ta không thể chuyển biến bản thân.

Thứ ba và quan trọng nhất, chúng ta phải bắt đầu tiến hành việc chuyển biến thành người ái kỷ lành mạnh (healthy narcisist). Những người ái kỷ lành mạnh có một ý thức mạnh mẽ hơn, thậm chí linh hoạt hơn về bản ngã. Họ có xu hướng ở vị trí gần đầu trên của thước đo hơn. Họ hồi phục nhanh từ bất kỳ tốn thương hay sự lăng nhục nào. Họ không cần quá nhiều công nhận từ những người khác. Ở một thời điểm trong đời, họ nhận ra rằng họ có những hạn chế và thiếu sót. Họ có thể cười giễu những thiếu sót này và không thấy bị xúc phạm bởi sự coi thường. Theo nhiều cách, bằng cách ôm chặt hình ảnh toàn diện của bản thân, tình yêu bản thân của họ thật hơn và trọn vẹn hơn. Từ vị trí bên trong mạnh mẽ hơn này, họ có thể hướng sự chú ý ra bên ngoài thường xuyên hơn và dễ dàng hơn. Sự chú ý này đi theo một hoặc hai hướng, và đôi khi cả hai. Đầu tiên, họ có thể hướng sự tập trung và tình yêu của mình vào công việc, trở thành những nghệ sĩ, nhà sáng tạo và nhà phát minh lớn. Vì sự tập trung vào công việc của họ căng thẳng hơn, họ có xu hướng thành công trong những cuộc mạo hiểm, vốn mang tới cho họ sự chú ý và công nhận cần thiết. Họ có thể có những khoảnh khắc hoài nghi và bất an, và những nghệ sĩ có thể khét tiếng là dễ nổi cáu, nhưng công việc thường xuyên giúp họ tránh khỏi sự quan tâm quá nhiều vào chính mình.

Hướng còn lại mà những người ái kỷ lành mạnh chọn là hướng tới mọi người, phát triển những khả năng cảm thông. Hãy hình dung sự cảm thông là khu vực nằm ở trên cùng và phía bên ngoài của cái thước đo - sự quan tâm hoàn toàn vào những người khác. Do bản chất của chính mình, loài người có những khả năng tuyệt vời để thấu hiểu mọi người từ trong ra ngoài. Trong những năm đầu đời, chúng ta cảm thấy hoàn toàn gắn bó với mẹ mình, và có thể cảm nhận được mọi tâm trạng, hiểu được mọi cảm xúc của bà bằng cách chuyện trò bập bẹ. Không như bất kỳ loài động vật hay linh trưởng nào khác, chúng ta cũng có khả năng mở rộng sự cảm thông này từ người mẹ tới những người chăm sóc khác và những người ở gần chúng ta.

Đây là hình thức thể lý của sự cảm thông mà chúng ta cảm thấy, thậm chí tới tận ngày nay, đối với các bạn thân, chồng hay vợ, hay các đối tác. Chúng ta cũng có một khả năng tự nhiên trong việc nắm bắt quan điểm của những người khác, đi guốc trong bụng họ. Nhưng trong lứa tuổi 20 và cao hơn, khi cảm thấy tự tin hơn về bản thân, chúng ta có thể bắt đầu hướng sự tập trung ra phía ngoài, vào mọi người, và tái khám phá những khả năng này. Những ai thực hành sự cảm thông này thường trở thành những quan sát viên xã hội vượt trội trong các bộ môn nghệ thuật và khoa học, những bác sĩ chuyên khoa, và những lãnh đạo cao cấp.

Nhu cầu phát triển sự cảm thông này đang lớn hơn bao giờ hết. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra một sự gia tăng dần trong các cấp độ chỉ quan tâm tới chính mình và ái kỷ ở giới trẻ từ cuối thập niên 1970, và với một đỉnh cao hơn từ năm 2000. Có thể quy phần lớn điều này cho công nghệ và Internet. Mọi người đơn giản sử dụng ít thời gian hơn trong các tương tác xã hội và nhiều thời gian hơn cho hoạt động xã hội trực tuyến, khiến việc phát triển sự cảm thông và rèn giữa các kỹ năng xã hội ngày càng khó khăn hơn. Như bất kỳ kỹ năng nào, sự cảm thông đến thông qua chất lượng của sự chú ý. Nếu sự chú ý của bạn liên tục bị gián đoạn bởi nhu cầu nhìn vào chiếc điện thoại thông minh, bạn không bao giờ thật sự có được một chỗ đứng trong những cảm xúc hay tầm nhìn của người khác. Bạn liên tục bị kéo lùi về chính mình, bạn chỉ tham gia các tương tác xã hội ở mặt nổi bên ngoài, không bao giờ thật sự nhập cuộc. Ngay cả khi trong một đám đông, thực chất bạn vẫn cô đơn. Mọi người cuối cùng chỉ phục vụ cho một chức năng - không phải để gắn kết với bạn mà để xoa dịu những bất an của bạn.

Bộ não của chúng ta hoạt động cho những tương tác xã hội; sự phức tạp của dạng tương tác này là một trong những yếu tố chủ yếu giúp phát triển trí tuệ của chúng ta với tư cách một loài. Ở một điểm nhất định, việc ít quan tâm tới những người khác có một ảnh hưởng tiêu cực đối với bản thân bộ não và làm teo cơ bắp xã hội của chúng ta. Để làm cho vấn đề thêm tệ hại, nền văn hóa của chúng ta có xu hướng nhấn mạnh giá trị tối cao của cá nhân và các quyền cá nhân, khuyến khích sự quan tâm tới chính mình nhiều hơn. Chúng ta nhận thấy ngày càng có nhiều người không thể tưởng tượng được rằng những người khác có quan điểm khác, rằng tất cả chúng ta không thật sự như nhau trong những gì chúng ta mong muốn hay suy nghĩ.

Bạn phải cố chống lại những sự phát triển theo kiểu này và tạo ra năng lượng cảm thông. Mỗi phía của phổ này có động lực riêng biệt của nó. Những người ái kỷ sâu có xu hướng nhấn chìm bạn sâu hơn, khi sự kết nối với thực tại của bạn giảm đi và bạn không thể thật sự phát triển công việc hay những mối quan hệ của mình. Sự cảm thông thực hiện điều ngược lại. Khi bạn ngày càng hướng sự chú ý của mình ra bên ngoài, bạn liên tục nhận được sự phản hồi tích cực. Mọi người muốn ở quanh bạn nhiều hơn. Bạn phát triển được cơ bắp cảm thông của mình; công việc của bạn tiến triển; không cần phải cố gắng, bạn nhận được sự chú ý mà toàn thể loài người mong muốn. Sự cảm thông tạo ra động lực tích cực, hướng lên trên của chính nó.

Sau đây là bốn thành tố trong tập hợp kỹ năng cảm thông.

Thái độ cảm thông: Hơn bất kỳ thứ gì khác, sự cảm thông là một trạng thái tâm hồn, một cách khác để quan hệ với người khác. Mối nguy lớn hơn mà bạn đối mặt là giả đoán chung của bạn rằng bạn thật sự hiểu mọi người và có thể nhanh chóng phán xét và phân loại họ. Thay vì vậy, bạn phải bắt đầu với giả đoán rằng bạn không biết gì hết và có những định kiến tự nhiên vốn sẽ khiến cho bạn phán xét sai mọi người. Những người quanh bạn phô bày một cái mặt nạ vốn phù hợp với những mục đích của họ. Bạn lầm cái mặt nạ với thực tế. Hãy từ bỏ xu hướng đưa ra những phán xét chớp nhoáng của mình. Mở rộng tâm trí bạn ra để thấy mọi người trong một ánh nhìn mới. Đừng giả sử rằng bạn giống như thế hoặc rằng họ chia sẻ những giá trị của bạn. Mỗi cá nhân bạn gặp giống như một vùng đất chưa được khám phá, với một đặc tính hóa học mang tính tâm lý đặc thù mà bạn sẽ cẩn thận thăm dò. Bạn sẽ vô cùng bất ngờ với những gì bạn phát hiện. Tinh thần cởi mở, linh hoạt này tương tự như năng lượng sáng tạo - một sự sẵn lòng xem xét nhiều khả năng và chọn lựa hơn. Thật sự, việc phát triển sự cảm thông cũng sẽ nâng cao các khả năng sáng tạo của bạn.

Nơi tốt nhất để bắt đầu chuyển hóa thái độ của bạn là trong vô số cuộc đối thoại hằng ngày. Hãy cố làm ngược lại việc thôi thúc muốn nói và đưa ra ý kiến hay mong muốn của bạn thay vì lắng nghe quan điểm của người khác. Bạn có một sự hiếu kỳ mạnh mẽ theo hướng này. Cố hết sức từ bỏ cuộc độc thoại nội tâm liên miên của bạn. Chú ý hoàn toàn vào người khác. Điều quan trọng ở đây là thái độ lắng nghe của bạn, để trong quá trình đối thoại bạn có thể đáp lại với người kia về những gì họ nói, hay những gì chưa được nói ra nhưng bạn cảm nhận được. Điều này sẽ có một hiệu quả rất thu hút.

Với thái độ này, bạn đang cho phép mọi người được chiều theo sở thích của họ ngang với mức bạn tự cho phép bản thân. Ví dụ, tất cả chúng ta đều có xu hướng làm điều sau: Khi phạm sai lầm, chúng ta gán nó cho những hoàn cảnh thúc đẩy chúng ta thực hiện nó. Nhưng khi kẻ khác phạm sai lầm, chúng ta có xu hướng xem nó là một thiếu sót về tính cách, một cái gì đó bắt nguồn từ nhân cách không hoàn hảo của họ. Hiện tượng này được biết với tên gọi định kiến quy kết (attribution bias). Bạn phải tích cực chống lại điều này. Với một thái độ cảm thông, trước hết bạn xem xét những hoàn cảnh vốn có thể khiến cho một cá nhân làm những gì họ đã làm, trao cho họ quyền ngờ vực như bạn tự trao cho mình.

Cuối cùng, áp dụng thái độ này tùy theo chất lượng của tình yêu bản thân của bạn. Nếu bạn cảm thấy vượt trội kinh khủng so với những người khác, hoặc bị giữ chặt bởi những bất an thì những khoảnh khắc cảm thông và quan tâm tới người khác của bạn sẽ rất nông cạn. Điều bạn cần là một sự chấp nhận hoàn toàn tính cách của bản thân, bao gồm cả những thiếu sót mà bạn nhìn thấy rõ ràng nhưng thậm chí còn đánh giá cao và yêu thích chúng. Bạn không hoàn hảo. Bạn không phải là một thiên thần. Bạn có cùng bản chất như những người khác. Với thái độ này, bạn có thể tự chế giễu mình và không mấy quan tâm tới việc bị coi thường. Từ vị trí của sức mạnh và sự linh hoạt nội tâm đích thực, bạn có thể dễ dàng hướng sự chú ý của mình ra bên ngoài.

Sự cảm thông tự nhiên theo bản năng: Sự cảm thông là một công cụ để điều chỉnh cảm xúc. Chúng ta khó mà hiểu hay đoán được ý nghĩ của người khác, nhưng có thể dễ dàng nhận ra những cảm giác và tâm trạng của họ. Tất cả chúng ta đều có xu hướng nắm bắt được những cảm xúc của người khác. Những ranh giới vật chất giữa chúng ta và những người khác dễ bị ngấm qua hơn mức chúng ta nhận ra. Mọi người liên tục tác động tới tâm trạng của chúng ta. Điều bạn sẽ làm ở đây là chuyển phản ứng sinh lý này thành kiến thức. Chú ý sâu tới tâm trạng của mọi người, thể hiện qua ngôn ngữ cơ thể và giọng nói của họ. Khi nói, sắc thái cảm xúc trong giọng nói của họ có thể đồng bộ hoặc không đồng bộ với điều họ đang nói. Sắc thái này có thể tỏ ra tự tin, bất an, phòng thủ, gây hấn, thất vọng hoặc phấn khởi. Sắc thái này tự biểu lộ chính nó trong giọng nói, điệu bộ và thái độ của họ. Trong mỗi cuộc gặp gỡ, bạn phải cố phát hiện ra sắc thái này trước khi chú ý tới ngay cả điều họ đang nói. Sắc thái này sẽ được bạn ghi nhận một cách bản năng, trong phản ứng tự nhiên của chính bạn đối với họ. Một giọng nói phòng thủ về phía họ có xu hướng tạo ra một cảm giác tương tự ở bạn.

Một yếu tố then chốt bạn đang cố nhận ra là ý định của mọi người. Hầu như luôn luôn có một cảm xúc ở phía sau bất kỳ ý định nào, và nằm ngoài những lời lẽ của họ; bạn đang điều chỉnh bản thân cho phù hợp với điều họ muốn, những mục tiêu của họ, vốn cũng sẽ được ghi nhận lại một cách tự nhiên trong bạn nếu bạn chú ý. Ví dụ, một ai đó bạn quen đột nhiên biểu lộ sự quan tâm khác thường tới cuộc sống của bạn, chú ý tới bạn theo một cách bạn chưa bao giờ biết trước đó. Đó là một nỗ lực thật sự để kết nối hay một sự gây xao lãng, một phương tiện lấy lòng bạn để họ có thể lợi dụng bạn cho các mục đích riêng của họ? Thay vì tập trung vào lời lẽ của họ, vốn biểu lộ sự quan tâm và phấn khích, hãy tập trung vào sắc thái cảm xúc chung mà bạn nhận ra. Họ lắng nghe bạn chăm chú tới mức nào? Họ có duy trì thường xuyên sự tiếp xúc ánh mắt hay không? Có cảm giác như thể dù họ đang lắng nghe bạn, họ vẫn đang chìm trong suy nghĩ về chính họ hay không? Nếu bạn là đối tượng của sự chú ý bất bình thường nhưng nó có vẻ không đáng tin cậy, chắc chắn họ đang định yêu cầu bạn điều gì đó, lợi dụng hay thao túng bạn theo cách nào đó.

Loại cảm thông này phụ thuộc nhiều vào tế bào thần kinh phản chiếu - những tế bào thần kinh sáng lên trong não khi chúng ta quan sát ai đó đang làm điều gì đó, ví dụ đang nhặt một vật, giống như thể chính chúng ta đang làm điều đó. Nó cho phép chúng ta tự đặt mình vào hoàn cảnh của người khác và cảm nhận giống như họ. Những nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nhìn chung những người đạt điểm cao trong các bài kiểm tra sự cảm thông rất giỏi bắt chước. Khi một người khác mỉm cười hay nhăn mặt đau đớn, họ có xu hướng bắt chước biểu hiện đó một cách vô thức, mang tới cho họ một cảm giác đối với điều người khác đang cảm thấy. Khi nhìn thấy một người mỉm cười và đang có tâm trạng tốt, nó có xu hướng tạo nên một tác động lây lan đối với chúng ta. Bạn có thể sử dụng một cách có ý thức khả năng này khi cố thâm nhập vào những cảm xúc của người khác, bằng cách bắt chước theo nghĩa đen biểu hiện trên mặt họ hay bằng cách nhớ tới những ký ức về các trải nghiệm tương tự vốn khuấy động những cảm xúc đó. Trước khi Alex Haley bắt đầu viết cuốn Roots (Cội rễ), ông dành ra một thời gian để sống trong bóng tối bên trong một con tàu, cố tái tạo cảm giác tù túng kinh hoàng mà những người nô lệ hẳn phải trải qua. Một nối kết bản năng với những cảm giác của họ cho phép ông thâm nhập vào thế giới của họ.

Cần nói thêm rằng, những người bắt chước một cách vô thức ở bất kỳ cấp độ nào sẽ phát ra từ họ một phản ứng cảm thông. Nó có thể thuộc về thể chất, và được biết với tên gọi hiệu ứng tắc kè (chameleon effect). Những người kết nối về mặt thể chất và cảm xúc trong một cuộc đối thoại sẽ có xu hướng bắt chước cử chỉ và điệu bộ của nhau, chẳng hạn cả hai đều gập chân lại. Ở một mức độ nhất định, bạn có thể thực hiện điều này một cách có ý thức để đem lại một sự nối kết bằng cách cố tình bắt chước một ai đó. Tương tự, việc gật đầu trong lúc họ nói và mỉm cười sẽ tăng cường sự kết nối. Thậm chí còn hơn thế, bạn có thể thâm nhập vào tinh thần của một cá nhân khác. Bạn hấp thu mạnh mẽ tâm trạng của họ và phản ánh nó lại cho họ. Bạn tạo ra một cảm giác hòa hợp. Con người thầm kín khao khát sự hòa hợp cảm xúc này trong cuộc sống hằng ngày, vì họ rất hiếm khi có nó. Nó có một tác động thôi miên và chống lại sự ái kỷ của mọi người khi bạn trở thành tấm gương của họ.

Khi thực hành dạng cảm thông này, nên nhớ rằng bạn phải duy trì một mức độ khoảng cách. Bạn không nên hoàn toàn bị vướng vào những cảm xúc của một người khác. Điều này sẽ khiến cho bạn khó phân tích được bạn đang thu thập điều gì và có thể dẫn tới một sự mất kiểm soát vốn không lành mạnh. Ngoài ra, việc thực hiện điều này một cách quá mạnh mẽ và rõ ràng có thể tạo ra một hiệu quả khó chịu. Việc gật đầu, mỉm cười và bắt chước ở những thời điểm chọn lọc cần tế nhị, sao cho không thể bị phát hiện.

Cảm thông bằng cách phân tích: Lý do bạn có thể hiểu một cách sâu sắc các bạn hay đối tác của mình là vì bạn có nhiều thông tin về những sở thích, giá trị và hoàn cảnh gia đình của họ. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm về việc nghĩ rằng chúng ta biết ai đó, nhưng sau một thời gian chúng ta phải điều chỉnh lại ấn tượng ban đầu khi có nhiều thông tin hơn. Vì vậy, trong khi sự cảm thông tự nhiên cực kỳ hữu hiệu, nó phải được bổ sung bởi sự cảm thông bằng cách phân tích. Dạng này tỏ ra đặc biệt có ích với những người mà với họ chúng ta cảm thấy có sự chống đối hoặc những người chúng ta gặp nhiều khó khăn để cảm thông với họ - vì họ rất khác biệt với chúng ta hay vì có gì đó ở họ đẩy chúng ta ra xa. Trong những trường hợp đó, theo lẽ tự nhiên chúng ta sẽ phán xét và phân loại họ. Ngoài kia có những người không đáng để cố gắng - những gã cực kỳ ngu xuẩn hay những kẻ mắc bệnh tâm thần thật sự. Nhưng với phần lớn mọi người vốn có vẻ khó mà thấu hiểu, chúng ta nên xem họ là một thách thức tuyệt vời và một cách để nâng cao những kỹ năng của mình. Như Abraham Lincoln nói: “Tôi không thích người đó. Tôi phải làm gì đó để biết rõ anh ta hơn”.

Sự cảm thông bằng cách phân tích phần lớn thông qua đối thoại và thu thập các thông tin vốn sẽ cho phép bạn thâm nhập vào tinh thần của những người khác. Một số thông tin có giá trị hơn số khác. Ví dụ, bạn muốn biết về giá trị của mọi người, vốn phần lớn được thiết lập trong những năm đầu đời của họ. Thông thường, mọi người phát triển những quan niệm về thứ mà họ xem là mạnh mẽ, nhạy cảm, rộng lượng hay yếu đuối dựa vào cha mẹ họ và mối quan hệ giữa họ với nhau. Một phụ nữ sẽ xem việc một người đàn ông khóc như một dấu hiệu của sự đa cảm và bị nó lôi cuốn, trong lúc một phụ nữ khác sẽ xem nó là yếu đuối và đáng ghét. Do không hiểu giá trị của mọi người ở cấp độ này, hoặc do tự đối chiếu với giá trị của chính mình, bạn sẽ hiểu sai những phản ứng của họ và tạo nên những xung đột không cần thiết.

Do vậy, mục tiêu của bạn là thu thập càng nhiều càng tốt thông tin về những năm đầu đời của những người mà bạn đang nghiên cứu và mối quan hệ giữa họ và cha mẹ cùng anh chị em ruột của họ. Hãy ghi nhớ rằng mối quan hệ hiện tại giữa họ và gia đình cũng sẽ giúp bạn nhìn thấy mức độ thích chống đối hoặc dễ phục tùng trong tính cách của họ. Sở thích đối với các đối tác của họ cũng nói lên rất nhiều điều.

Nếu mọi người có vẻ miễn cưỡng nói chuyện, hãy thử đặt ra những câu hỏi mở, hoặc bắt đầu với một thừa nhận chân thành về bản thân bạn để tạo niềm tin. Nói chung mọi người thích nói về chính mình và quá khứ của họ, và thông thường rất dễ làm cho họ trở nên cởi mở. Hãy tìm những điểm kích hoạt (xem chương 1) vốn chỉ ra những điểm cực kỳ nhạy cảm. Nếu họ đến từ một nền văn hóa khác, việc thấu hiểu nền văn hóa này từ kinh nghiệm của họ càng quan trọng hơn nhiều. Nói chung, mục tiêu của bạn là tìm ra thứ khiến họ trở nên độc đáo. Chính xác là bạn đang tìm kiếm điều khác biệt với bạn và với những người khác mà bạn biết.

Kỹ năng cảm thông: Việc trở nên cảm thông bao gồm một quá trình, như bất kỳ điều gì khác. Để bảo đảm rằng bạn thật sự tiến bộ và nâng cao khả năng thấu hiểu mọi người ở một cấp độ sâu sắc hơn, bạn cần sự phản hồi. Điều này có thể đến dưới một hoặc cả hai hình thức: trực tiếp và gián tiếp. Ở hình thức trực tiếp, bạn hỏi mọi người về những ý nghĩ và cảm giác của họ để biết bạn có đoán đúng hay không. Việc này phải thận trọng và dựa vào một cấp độ tin tưởng, nhưng nó có thể là một thiết bị đo rất chính xác về kỹ năng của bạn. Ở hình thức gián tiếp, bạn cảm nhận một sự hòa hợp lớn hơn và các kỹ thuật nhất định đã có hiệu quả tới mức nào.

Để nâng cao kỹ năng này, hãy ghi nhớ một số điều: Càng tương tác trực tiếp với nhiều người, bạn sẽ càng thực hiện tốt hơn. Và những người bạn gặp càng đa dạng bao nhiêu, kỹ năng của bạn càng nâng cao bấy nhiêu. Cũng cần duy trì một ý thức về sự linh động. Những ý kiến của bạn về mọi người không bao giờ nên gắn với một phán xét. Trong một cuộc gặp gỡ, giữ cho sự chú ý của bạn linh động để nhìn xem mọi người thay đổi ra sao trong quá trình đối thoại và tầm ảnh hưởng của bạn đối với họ. Hãy sống với thời điểm đó. Cố gắng quan sát mọi người khi họ tương tác với những người khác ngoài bạn - thông thường mọi người rất khác nhau tùy theo cá nhân họ tiếp xúc. Cố tập trung, không phải vào các vấn đề mà vào sắc thái cảm xúc và tâm trạng mà mọi người khơi gợi ở bạn, vốn liên tục chuyển biến. Khi làm tốt việc này hơn, bạn sẽ khám phá được ngày càng nhiều gợi ý mà mọi người đưa ra về tâm lý của họ. Bạn sẽ nhìn thấy nhiều hơn. Tiếp tục kết hợp sự cảm thông tự nhiên với sự cảm thông bằng cách phân tích.

Việc nhìn thấy sự cải thiện ở cấp độ kỹ năng của bạn sẽ khiến cho bạn thêm phấn khởi và thôi thúc bạn đi sâu hơn. Nói chung, bạn sẽ nhìn thấy một con đường đi qua cuộc sống dễ dàng hơn, vì bạn tránh được những xung đột và hiểu lầm.

Nguyên tắc sâu sắc nhất của Bản chất con người là niềm khao khát được đánh giá cao.

- William James

Ba ví dụ về các dạng ái kỷ

1. Người ái kỷ có khả năng diễn kịch. Năm 1627, mẹ bề trên của các sơ Dòng Ursuline ở Loudun, Pháp, chào mừng một sơ mới vừa chuyển đến, Jeanne de Belciel (1602-1665). Jeanne là một người kỳ lạ, dù tầm vóc khá nhỏ bé, cô có một gương mặt xinh xắn như thiên thần nhưng lại có một tia hiểm ác trong đôi mắt. Ở cơ sở trước, cô đã tạo ra nhiều kẻ thù với những lời châm chọc không dứt. Nhưng trước sự ngạc nhiên của mẹ bề trên, khi chuyển tới cơ sở mới này, dường như Jeanne đã có một bước chuyển biến. Lúc này cô hành xử như một thiên thần hoàn hảo, cô đề nghị giúp mẹ bề trên trong mọi công việc hằng ngày của bà. Ngoài ra, khi được đưa cho vài cuốn sách về Thánh Teresa và thuyết ơn mầu nhiệm để đọc, Jeanne trở nên mê mải với chủ đề này. Cô dành ra nhiều giờ để thảo luận về các vấn đề tâm linh với mẹ bề trên. Trong vòng vài tháng, cô đã trở thành chuyên gia của nhà dòng về thần học mầu nhiệm. Mọi người có thể nhìn thấy cô suy niệm và cầu nguyện suốt nhiều giờ, nhiều hơn bất cứ nữ tu nào khác. Vào cuối năm đó, mẹ bề trên được chuyển tới một cơ sở khác. Có ấn tượng sâu sắc với cách hành xử của Jeanne và làm ngơ lời khuyên của những người khác vốn không đánh giá cô cao lắm, bà đề cử Jeanne thay thế vị trí của mình. Đột ngột, ở tuổi 25 rất trẻ, Jeanne nhận ra giờ đây cô là người đứng đầu các sơ Dòng Ursuline ở Loudun.

Nhiều tháng sau, các sơ ở Loudun bắt đầu nghe thấy một số câu chuyện rất lạ lùng từ Jeanne. Cô đã có một loạt giấc mơ, trong đó một giáo sĩ của giáo xứ địa phương, Urbain Grandier, đã tới thăm và tấn công tình dục cô. Những giấc mơ ngày càng gợi dục và hung bạo. Điều kỳ lạ là trước những giấc mơ đó, Jeanne đã mời Grandier tới đảm trách vị trí giám đốc của cơ sở, nhưng ông đã nhã nhặn khước từ. Ở Loudun, dân địa phương xem Grandier là một kẻ hào hoa chuyên quyến rũ các cô gái trẻ. Có phải chỉ đơn giản là Jeanne chiều theo những tưởng tượng của mình? Cô sùng đạo đến độ khó mà tin rằng cô dựng lên tất cả những chuyện này, và những giấc mơ có vẻ rất thật và sinh động khác thường. Chẳng bao lâu sau khi cô bắt đầu kể chúng với những người khác, nhiều sơ báo cáo là đã có những giấc mơ tương tự. Một hôm, giáo sĩ phụ trách giải tội của cơ sở, Canon Mignon, nghe một sơ thuật lại chi tiết một giấc mơ tương tự. Như nhiều người khác, từ lâu Mignon đã coi thường Grandier, và ông nhìn thấy trong những giấc mơ này cơ hội để kết liễu mạng sống của ông ta. Ông mời một số chuyên gia trừ tà ma tới để làm việc với các sơ, và chẳng bao lâu sau đó, hầu như tất cả các sơ đều báo cáo về những chuyến viếng thăm hằng đêm của Grandier. Với các chuyên gia trừ tà, mọi việc đã rõ ràng - những sơ này đang bị ám bởi lũ ma quỷ do Grandier điều khiển.

Để khai sáng cho dân cư địa phương, Mignon và các đồng minh của ông tổ chức công khai lễ trừ tà trước công chúng. Họ lũ lượt kéo từ những nơi xa xôi để chứng kiến một cảnh tượng thú vị nhất. Các sơ lăn tròn trên mặt đất, quằn quại thân hình, phơi bày đôi chân, hét lên những từ tục tĩu không dứt. Và trong số tất cả các sơ, dường như Jeanne là người bị quỷ ám nặng nhất. Cô quằn quại dữ dội, và giọng của lũ quỷ phát ngôn thông qua cô chói tai hơn nhiều khi chúng thốt lên những lời lẽ xấu xa. Đó là một trong những vụ bị quỷ ám nặng nhất mà họ từng trông thấy, và công chúng la hét ồn ào nhất khi chứng kiến lễ trừ tà cho Jeanne. Với các chuyên gia trừ tà, dường như đã rõ ràng rằng Grandier, dù chưa bao giờ đặt chân vào cơ sở này hay gặp mặt Jeanne, đã bằng cách nào đó phù phép và cám dỗ những sơ ngoan đạo của Loudun. Ông ta sớm bị bắt giữ và buộc tội là phù thủy.

Dựa vào chứng cứ, Grandier bị xử tử. Sau nhiều cuộc hành hạ, ông bị thiêu sống trên cọc ngày 18/8/1634, trước một đám người đông nghịt. Sau đó không lâu mọi chuyện chìm lặng xuống. Các sơ đột nhiên thoát khỏi chứng quỷ ám - tất cả, ngoại trừ Jeanne. Lũ quỷ không những không rời khỏi cô mà còn khống chế cô nhiều hơn. Nghe nói về vụ quỷ ám khét tiếng này, các tu sĩ Dòng Tên quyết định đảm trách vụ này và cử cha Jean-Joseph Surin tới trừ tà dứt điểm cho Jeanne. Surin nhận thấy cô là một đối tượng thú vị. Cô hoàn toàn thông thạo trong các vấn đề liên quan tới khoa nghiên cứu ma quỷ và rõ ràng đang thất vọng vì số phận của mình. Thế nhưng dường như cô không đủ mạnh mẽ trong việc chống lại lũ quỷ đang ám mình. Có lẽ cô đã chịu thua ảnh hưởng của chúng.

Có một điều chắc chắn: Cô đã có một sự ưa thích khác thường đối với Surin và giữ ông trong nhà dòng suốt nhiều giờ cho những thảo luận về tâm linh. Cô bắt đầu sốt sắng cầu nguyện và suy niệm hơn. Cô từ bỏ tất cả mọi thứ xa hoa: Nằm ngủ trên sàn nhà cứng và yêu cầu phủ lên thức ăn của mình những lá ngải đắng xắt nhỏ có tính gây nôn mửa. Cô báo cáo với Surin sự tiến bộ của mình và thú nhận với ông rằng “cô đã tới gần Chúa Trời đến độ cô nhận được một nụ hôn từ môi miệng của ngài”.

Với sự giúp đỡ của Surin, lần lượt từng con quỷ rời khỏi cơ thể của cô. Và phép lạ đầu tiên đến với cô: Người ta có thể đọc thấy rất rõ cái tên Joseph trong lòng bàn tay trái của cô. Khi nó nhạt dần sau nhiều ngày, nó được thay thế bởi tên của Jesus, rồi Mary, và sau đó là những cái tên khác. Đó là một dấu thánh, một dấu hiệu của ân sủng thật sự từ Chúa Trời. Sau vụ này Jeanne ngã bệnh rất nặng và dường như sắp chết. Cô báo cáo rằng đã có một thiên thần trẻ xinh đẹp với mái tóc dài vàng óng bay phấp phới tới thăm mình. Sau đó chính Thánh Joseph tới với cô và sờ tay vào sườn cô, nơi cô cảm thấy đau đớn nhất, và xức cho cô một loại dầu thơm. Cô khỏe lại, và thứ dầu đó để lại một dấu vết trên áo lót của cô dưới hình thức năm giọt rõ ràng. Giờ lũ quỷ đã biến mất, với sự nhẹ nhõm vô tả của Surin. Câu chuyện kết thúc, nhưng Jeanne gây ngạc nhiên cho ông với một yêu cầu kỳ lạ: Cô muốn đi du lịch một vòng ở châu Âu, trình bày những phép lạ này với tất cả mọi người. Cô cảm thấy có bổn phận phải làm như thế. Điều này có vẻ tương phản lạ lùng với tính cách khiêm tốn của cô và hơi có vẻ phàm tục, nhưng Surin đồng ý đi với cô.

Ở Paris, những đám người đông nghịt đứng chật những con đường bên ngoài khách sạn của cô, mong có thể thoáng nhìn thấy cô. Cô gặp Hồng y Richelieu, người hoàn toàn xúc động và đã hôn lên cái áo lót có vết dầu thơm, giờ là một thánh tích. Cô cũng khoe dấu thánh của mình với Vua và Hoàng hậu nước Pháp. Cuộc du lịch tiếp tục. Cô gặp những nhà quý tộc và danh nhân lớn nhất thời đó. Ở một thành phố nhỏ, mỗi ngày có những đám đông tới bảy ngàn người đi vào nữ tu viện nơi cô đang ở. Nhu cầu nghe câu chuyện của cô lớn đến độ cô quyết định phát hành một cuốn sách mỏng trong đó cô mô tả chi tiết vụ bị quỷ ám, những ý nghĩ về tình dục của mình, và phép lạ đã xảy ra.

Khi Jeanne des Anges, như mọi người gọi bà lúc bấy giờ, qua đời năm 1665, đầu của bà được cắt rời khỏi thân hình, ướp và đặt trong một cái hộp mạ bạc với những cửa sổ pha lê. Nó được trưng bày bên cạnh cái áo lót được xức dầu tại nhà dòng Ursuline ở Loudun để mọi người tới tham quan, cho tới khi nó biến mất trong cuộc Cách mạng Pháp.

Diễn dịch: Trong những năm đầu đời, Jeanne de Belciel đã biểu lộ một khao khát vô độ đối với sự chú ý. Bà làm cha mẹ rất phiền lòng; cuối cùng họ tìm cách thoát khỏi bà bằng cách gửi bà tới một nữ tu viện ở Poitiers. Ở đó bà tiếp tục làm cho các sơ nổi điên lên với sự châm chọc và thái độ kẻ cả không thể tin nổi. Khi được chuyển tới Loudun, dường như bà quyết định thử một cách khác để có được sự công nhận mà bà cực kỳ cần tới. Khi nhận được những cuốn sách về tâm linh, bà quyết định sẽ vượt trội hơn tất cả những người khác về kiến thức và thái độ sùng đạo. Bà hoàn toàn chứng tỏ được cả hai và chiếm được thiện cảm của mẹ bề trên. Nhưng với tư cách đứng đầu một cơ sở của nhà dòng, bà cảm thấy chán ngán, và sự chú ý bà nhận được lúc này không tương xứng. Những giấc mơ của bà về Grandier là một sự pha trộn giữa bịa đặt và tự kỷ ám thị. Không lâu sau khi những chuyên gia trừ tà tới, bà được đưa cho một cuốn sách nghiên cứu về ma quỷ. Bà đọc ngấu nghiến, và khi biết những ngóc ngách của hiện tượng quỷ ám, bà bắt đầu tự khoác cho mình mọi đặc điểm kịch tính nhất, vốn sẽ được những chuyên gia trừ tà xem như những dấu hiệu chắc chắn của hiện tượng bị quỷ ám. Bà trở thành ngôi sao của cuộc biểu diễn trước công chúng. Trong lúc bị ám, bà thêu dệt thêm những hành vi suy đồi và dâm đãng hơn tất cả những sơ khác.

Vụ xử tử Grandier một cách kinh khủng tác động sâu sắc tới những sơ khác. Họ cảm thấy tội lỗi với vai trò của mình trong cái chết của một người vô tội. Chỉ có Jeanne cảm thấy việc đột ngột thiếu đi sự chú ý là không thể chịu đựng được và do đó bà cược thêm bằng cách từ chối buông tha lũ quỷ. Bà đã trở thành một bậc thầy về việc cảm nhận những sự yếu đuối và những khát khao thầm kín của những người xung quanh - trước tiên là mẹ bề trên, rồi tới những chuyên gia trừ tà, và lúc này là linh mục Surin. Ông mong muốn trở thành kẻ cứu rỗi cho bà đến độ sẽ bị lừa dối bởi phép lạ đơn giản nhất. Còn về phần dấu thánh, sau đó một số người đoán rằng bà đã khắc những cái tên này bằng acid, hoặc viết chúng bằng bột hồ vải. Có vẻ kỳ lạ khi chúng chỉ xuất hiện trên bàn tay trái của bà, nơi bà có thể dễ dàng tạo ra chúng. Người ta biết rằng trong trạng thái kích động cực độ, da sẽ trở nên đặc biệt nhạy cảm, và một cái móng tay có thể thực hiện trò lừa này. Là một người từng có những kinh nghiệm lâu ngày trong việc pha chế thảo dược, bà có thể dễ dàng sử dụng những giọt dầu thơm. Một khi mọi người tin vào dấu thánh, họ sẽ khó lòng ngờ vực về vụ xức dầu.

Ngay cả Surin cũng nhận thấy nhu cầu đối với chuyến du lịch thật đáng ngờ. Vào thời điểm này, bà không thể che đậy khao khát được chú ý của mình lâu hơn nữa. Nhiều năm sau đó, Jeanne viết một cuốn tự truyện trong đó bà thừa nhận một khía cạnh hoàn toàn có tính chất kịch sĩ của mình. Bà đã tiếp tục đóng kịch, dù bà xác nhận rằng phép lạ cuối cùng là chân thật. Nhiều sơ tiếp xúc với bà hằng ngày đã nhìn thấu bề ngoài giả dối này và mô tả bà như một nữ kịch sĩ tuyệt vời nghiện sự chú ý và danh vọng.

Một trong những nghịch lý lạ lùng về sự ái kỷ sâu là nó thường diễn ra mà những người khác không nhận thấy; cho tới khi hành vi trở nên cực đoan đến độ không thể làm ngơ. Lý do cho điều này rất đơn giản: Những người ái kỷ sâu có thể là những bậc thầy ngụy trang. Họ sớm nhận ra rằng nếu họ để lộ cái tôi thật sự của mình trước nhưng người khác - nhu cầu của họ đối với sự chú ý liên tục và cảm giác ưu việt hơn người khác - họ sẽ đẩy mọi người ra xa. Họ sử dụng việc thiếu hụt một bản ngã cố kết của mình như một lợi thế. Họ cố đóng nhiều vai trò. Họ có thể ngụy trang nhu cầu đối với sự chú ý thông qua nhiều công cụ diễn kịch khác nhau. Họ có thể hơn hẳn bất kỳ người nào trong việc tỏ ra đạo đức và vị tha. Họ không bao giờ chỉ đưa ra hay ủng hộ một nguyên nhân đúng - họ trình diễn nó. Có ai muốn ngờ vực sự biểu lộ của đạo đức này cơ chứ? Hoặc họ đi theo hướng ngược lại, bộc lộ vị thế của họ như một nạn nhân, một người đang đau khổ dưới tay của những người khác hay đang bị thiên hạ làm ngơ. Bạn rất dễ bị đánh lừa bởi một vở kịch ở thời điểm đó, chỉ để gánh chịu tổn hại sau đó khi họ chiếm hết tâm trí của bạn với nhu cầu của họ hay sử dụng bạn cho những mục đích của họ. Họ lợi dụng sự cảm thông của bạn.

Giải pháp duy nhất của bạn là thấu qua trò lừa bịp. Hãy nhận ra dạng người này qua thực tế, rằng tiêu điểm luôn có vẻ tập trung vào họ. Hãy lưu ý họ luôn tỏ vẻ kẻ cả ra sao với cái được xem là lòng tốt, sự đau khổ hoặc nghèo túng. Hãy nhìn thấy vở kịch liên miên không dứt và phẩm chất kịch sĩ trong những cử chỉ của họ. Mọi thứ họ làm hay nói là để thu hút sự chú ý của công chúng. Đừng để bản thân bạn bị thiệt hại trong vở kịch của họ.

2. Đôi vợ chồng ái kỷ. Năm 1862, nhiều ngày trước khi chàng trai 34 tuổi Leo Tolstoy kết hôn với Sophia Behrs, lúc đó mới 18 tuổi, chàng đột nhiên quyết định rằng giữa họ không thể có bí mật nào hết. Như một phần của điều này, chàng mang nhật ký của mình tới cho nàng, và với sự ngạc nhiên của chàng, những gì nàng đọc khiến nàng bật khóc, đồng thời nổi giận. Trong những trang đó, chàng đã viết về những mối tình trước đó của mình, bao gồm mối tình say đắm đang tiếp diễn với một phụ nữ nông dân gần đó, người đã có với chàng một đứa con. Chàng cũng viết về những nhà thổ chàng thường lui tới, những lần mắc bệnh lậu, và những cuộc cờ bạc vô tận của mình. Nàng cảm thấy ghen tuông cực độ, đồng thời cũng ghê tởm. Vì sao lại ép nàng đọc những điều này? Nàng lên án chàng về việc thay đổi ý định và không thật sự yêu nàng. Bị sốc với phản ứng này, chàng cũng lên án nàng tương tự. Chàng muốn chia sẻ với nàng lối sống cũ của mình, để nàng hiểu chàng rất vui sướng từ bỏ chúng vì một cuộc sống mới, với nàng. Vì sao nàng trách móc nỗ lực chứng tỏ sự trung thực của chàng? Rõ ràng nàng không yêu chàng nhiều như chàng đã nghĩ. Vì sao nàng đau khổ đến thế với việc chào từ giã gia đình trước hôn lễ? Phải chăng nàng yêu họ hơn chàng? Họ tìm được cách hòa giải và hôn lễ diễn ra, nhưng một khuôn mẫu đã hình thành sẽ tiếp diễn trong suốt 48 năm.

Với Sophia, bất chấp những tranh cãi thường xuyên giữa họ, cuộc hôn nhân rốt cuộc cũng ổn định với một nhịp điệu tương đối êm đềm dễ chịu. Bà đã trở thành người phụ tá đáng tin cậy nhất của ông. Ngoài việc sinh tám người con trong 12 năm, trong đó có năm người sống sót, bà cẩn thận chép lại cho ông những cuốn sách của ông, bao gồm Chiến tranh và Hòa bình, và Anna Karenina, và điều hành nhiều thứ trong việc xuất bản những cuốn sách của ông. Mọi thứ dường như diễn ra khá ổn - ông là một người giàu có, từ những điền trang gia đình của cả hai mà ông đã thừa kế và doanh thu từ những cuốn sách. Ông có một gia đình yêu thương ông. Ông nổi tiếng. Nhưng đột nhiên, ở tuổi 50, ông cảm thấy rất khổ sở và xấu hổ vì những cuốn sách mình đã viết. Ông không còn biết mình là ai. Ông đang trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần trầm trọng, và nhận thấy Giáo hội Chính thống quá khắt khe và giáo điều không thể giúp ông. Cuộc đời ông phải thay đổi. Ông sẽ không viết cuốn tiểu thuyết nào nữa, và do đó ông sẽ sống như một nông dân bình thường. Ông sẽ cho hết tài sản và từ bỏ mọi bản quyền đối với những cuốn sách của mình. Và ông yêu cầu gia đình ông cùng tham gia với ông trong cuộc sống mới, hết lòng giúp đỡ những người khác và giúp các vấn đề tinh thần.

Cả gia đình ông thất vọng, với Sophia dẫn đầu, họ phản ứng một cách giận dữ. Ông đang yêu cầu họ từ bỏ lối sống, những tiện nghi của họ, và khoản thừa kế tương lai của các con. Sophia không cảm thấy có nhu cầu đối với bất kỳ thay đổi quyết liệt nào trong lối sống của họ, và bà không bằng lòng với những lời lên án của ông rằng bà hơi xấu xa và thực dụng khi phản đối ông. Họ cãi nhau mãi, và không bên nào nhượng bộ. Lúc này, khi nhìn vợ mình, tất cả những gì Tolstoy có thể thấy là một người đang lợi dụng ông vì danh tiếng và tài sản của ông. Đó là lý do rõ ràng vì sao bà kết hôn với ông. Và khi bà nhìn ông, tất cả những gì bà thấy là một kẻ đạo đức giả rõ ràng. Dù đã từ bỏ những quyền về tài sản, ông tiếp tục sống như một lãnh chúa và yêu cầu bà cung cấp tiền cho những thói quen của mình. Ông ăn mặc như một nông dân, nhưng nếu bị bệnh ông sẽ đi du lịch ở miền Nam trong một con tàu tư nhân sang trọng tới một biệt thự nơi ông có thể hồi phục sức khỏe. Và bất chấp lời thề mới về việc sống độc thân, ông tiếp tục làm cho bà mang thai.

Tolstoy khao khát một cuộc sống giản dị, nghiêng về tinh thần, và giờ bà là chướng ngại vật chủ yếu đối với điều này. Ông nhận thấy sự hiện diện của bà trong nhà có tính chất áp bức. Ông viết cho bà một lá thư trong đó ông kết thúc với câu, “Bà đổ lỗi những gì đã xảy ra cho mọi thứ ngoại trừ một điều, rằng bà là nguyên nhân không cố tình, không chủ ý của những đau khổ của tôi. Một cuộc tranh chấp cho tới chết đang diễn ra giữa chúng ta”. Từ sự chua xót ngày càng tăng trước những cung cách thực dụng của bà, ông viết cuốn tiểu thuyết ngắn Bản sonate Kreutzer, rõ ràng dựa trên cuộc hôn nhân của họ và vẽ lại bà với một hình tượng xấu nhất. Với Sophia, hậu quả của tất cả những việc này là bà cảm thấy mình đang đánh mất lý trí. Cuối cùng, năm 1894, bà trả đũa. Bắt chước một trong những nhân vật trong một truyện ngắn của Tolstoy, bà quyết định tự sát bằng cách đi bộ ngoài trời trong lúc tuyết rơi và tự bỏ mặc mình lạnh cóng cho tới chết. Một thành viên trong gia đình bắt kịp bà và lôi bà trở về nhà. Bà lặp lại nỗ lực này thêm hai lần nữa, nhưng vẫn không thành công.

Lúc này khuôn mẫu đã trở nên sắc bén và mãnh liệt hơn. Tolstoy thường chọc giận bà; bà thường làm một điều gì đó đáng sợ; Tolstoy thường cảm thấy hối hận vì sự lạnh nhạt của mình và cầu xin bà tha thứ. Ông nhượng bộ bà trong một số vấn đề, chẳng hạn cho phép gia đình giữ lại bản quyền đối với những tác phẩm thời kỳ đầu của ông. Sau đó một hành vi mới của bà sẽ khiến cho ông hối tiếc về việc này. Bà thường xuyên cố xúi giục các con chống lại ông. Bà phải đọc mọi thứ ông đã viết trong những cuốn nhật ký của ông, và nếu ông giấu chúng, bằng cách nào đó bà sẽ tìm ra chúng và lén lút đọc chúng. Bà theo dõi mỗi cử động của ông. Ông thường trách mắng bà dữ dội vì sự can thiệp vào việc riêng tư này, đôi khi ông ngã bệnh trong lúc đang mắng mỏ, khiến bà hối tiếc về những hành động của mình. Cái gì đã giữ họ lại với nhau? Mỗi bên đều khao khát sự chấp nhận và tình yêu của bên kia, nhưng dường như không thể mong đợi điều đó nữa.

Sau nhiều năm chịu đựng như thế, cuối tháng 10/1910, Tolstoy cuối cùng thấy đã quá đủ: Nửa đêm ông lẻn ra khỏi nhà và ra đi với một ông bạn bác sĩ, quyết định dứt khoát rời khỏi Sophia. Ông run rẩy trên suốt quãng đường, sợ bà vợ sẽ làm điều gì đó bất ngờ và bắt kịp ông, nhưng cuối cùng ông lên được xe lửa và thoát khỏi bà. Khi biết tin, Sophia cố tự sát lần nữa, bà nhảy xuống một ao nước gần đó nhưng được cứu mạng kịp thời. Bà viết cho Tolstoy một lá thư, van xin ông quay về. Phải, bà sẽ thay đổi cung cách của mình. Bà sẽ từ bỏ mọi thứ xa hoa. Bà sẽ sống thiên về tinh thần. Bà sẽ yêu ông vô điều kiện. Bà không thể sống thiếu ông.

Với Tolstoy, sở thích tự do của ông chỉ tồn tại một thời gian ngắn, Những tờ báo lúc này tràn ngập những lời kể về cuộc bỏ trốn khỏi bà vợ của ông. Ở mọi nơi đoàn tàu dừng lại, đám ký giả, những độc giả hâm mộ, và những kẻ tò mò bu quanh ông. Ông không thể tiếp tục chịu đựng những điều kiện tù túng và giá lạnh trên con tàu. Không lâu sau đó, ông bị bệnh nặng và được mang tới ngôi nhà gỗ của một trưởng ga nằm gần đường ray ở một ngôi làng xa xôi. Trên giường, rõ ràng giờ đây ông đang hấp hối. Ông nghe nói rằng Sophia đã tới thị trấn nhưng không thể chịu nổi việc nhìn thấy bà lúc này. Gia đình giữ bà lại ở bên ngoài, nơi bà tiếp tục nhìn ông qua cửa sổ trong lúc ông nằm hấp hối. Cuối cùng, khi ông hôn mê, bà được cho phép vào trong. Bà quỳ bên cạnh ông, liên tiếp hôn lên trán ông và thì thầm vào tai ông, “Hãy tha thứ cho tôi. Xin hãy tha thứ cho tôi”. Sau đó không lâu ông trút hơi thở cuối cùng. Một tháng sau, một du khách từng tới thăm nhà Tolstoy thuật lại những lời sau của Sophia: “Chuyện gì đã xảy ra với tôi? Cái gì đã điều khiển tôi? Vì sao tôi đã có thể làm điều đó?… Ông biết không, tôi đã giết ông ấy”.

Diễn dịch: Leo Tolstoy biểu lộ mọi dấu hiệu của một người ái kỷ sâu. Mẹ ông qua đời khi ông lên hai và để lại một khoảng trống lớn trong ông đến độ ông không bao giờ có thể lấp đầy, dù ông đã cố làm điều đó với vô số công việc của mình. Khi còn trẻ, ông hành xử khá khinh suất, như thể theo cách nào đó điều này khiến cho ông cảm thấy còn sống và bình an vô sự. Ông thường xuyên thấy chán ghét bản thân và không thể hiểu nổi thật sự ông là ai. Ông trút sự không chắc chắn này vào những cuốn tiểu thuyết, giả định những vai trò khác nhau trong các nhân vật do ông tạo ra. Cuối cùng, lúc 50 tuổi, ông rơi vào một đợt khủng hoảng sâu sắc về bản ngã rời rạc của mình. Bản thân Sophia nằm ở vị trí cao trên thước đo của sự tự quan tâm tới chính mình. Nhưng khi nhìn vào mọi người, chúng ta có xu hướng nhấn mạnh quá mức các đặc điểm cá nhân của họ và không nhìn vào bức tranh phức tạp hơn về cách thức mỗi phía trong mối quan hệ tiếp tục định hình phía kia. Một mối quan hệ có một cuộc sống và đặc tính riêng của chính nó. Và một mối quan hệ cũng có thể mang tính ái kỷ sâu sắc, làm nổi bật hay thậm chí bộc lộ những xu hướng ái kỷ của cả hai phía.

Nhìn chung, thứ làm cho một mối quan hệ trở nên có tính chất ái kỷ là sự thiếu cảm thông vốn khiến cho các bên rút lui ngày càng sâu vào những vị trí phòng thủ của chính họ. Trong trường hợp của gia đình Tolstoy điều này bắt đầu ngay lập tức, với việc đọc cuốn nhật ký của ông. Mỗi phía có những giá trị riêng rẽ của mình mà thông qua đó họ nhìn phía kia. Với Sophia, được dưỡng dục trong một gia đình bình thường, đây là hành động của một người đàn ông rõ ràng đang hối tiếc về lời cầu hôn của mình; với Tolstoy, một nghệ sĩ đã phá thánh tượng, hành động của vợ có nghĩa là bà không thể nhìn vào tâm hồn ông, không thể cố thấu hiểu mong muốn của ông đối với một cuộc sống hôn nhân mới. Mỗi người hiểu lầm người kia và rơi vào những vị thế khó khăn hơn, kéo dài trong suốt 48 năm.

Sự khủng hoảng tinh thần của Tolstoy là hình mẫu của động lực ái kỷ này. Giá như lúc đó mỗi người họ có thể cố gắng nhìn hành động này qua đôi mắt của người kia. Lẽ ra Tolstoy có thể nhìn thấy trước phản ứng của vợ. Bà đã sống cả đời trong sự sung túc tương đối, nhờ đó có thể lo liệu cho những cuộc mang thai thường xuyên và việc chăm nom rất nhiều con cái. Bà chưa bao giờ quá quan tâm tới đời sống tinh thần. Mối liên kết của họ đã luôn luôn có tính chất vật chất nhiều hơn. Vì sao ông mong đợi bà đột nhiên thay đổi? Những đòi hỏi của ông hầu như tàn nhẫn. Lẽ ra ông có thể giải thích một cách đơn giản cho phía mình mà không đòi hỏi bà phải theo ông, thậm chí có thể bày tỏ sự thấu hiểu của ông đối với hoàn cảnh và những nhu cầu của riêng bà. Hẳn điều đó sẽ để lộ tính chất tinh thần thật sự về phần ông. Và thay vì chỉ tập trung vào sự đạo đức giả của ông, hẳn bà có thể nhìn thấy một con người rõ ràng đang khốn khổ với chính mình, một người chưa từng cảm thấy được yêu thương đầy đủ kể từ thời thơ ấu và đang trải qua một cuộc khủng hoảng cá nhân rất thật. Hẳn bà có thể trao tặng tình yêu của mình và hỗ trợ cho cuộc sống mới của ông trong lúc nhẹ nhàng từ chối đi theo ông suốt con đường này.

Việc sử dụng sự cảm thông như thế có tác dụng chống lại sự ái kỷ của cả hai. Khi đến từ một phía, nó có xu hướng xoa dịu phía kia và cũng mời gọi sự cảm thông của ông hay bà ta. Khó mà ở yên trong vị trí phòng thủ khi người kia đang nhìn thấy và bày tỏ cho phía bạn và thâm nhập vào tinh thần của bạn. Nó ra hiệu cho bạn làm điều tương tự. Một cách kín đáo, mọi người từ bỏ sự chống đối của mình. Vì việc tiếp tục tỏ ra quá phòng thủ và ngờ vực sẽ làm cho người ta kiệt sức.

Yếu tố then chốt khi sử dụng sự cảm thông trong một mối quan hệ là thấu hiểu hệ giá trị của người kia, vốn chắc chắn khác với hệ giá trị của bạn. Những gì họ diễn dịch như những dấu hiệu của tình yêu, sự chú ý hay sự bao dung có xu hướng lệch khỏi cách suy nghĩ của bạn. Những hệ giá trị này được hình thành phần lớn trong thời kỳ đầu đời và không hình thành một cách có ý thức bởi mọi người. Việc ghi nhớ hệ giá trị của họ sẽ cho phép bạn thâm nhập vào tinh thần và quan điểm của họ đúng vào khoảnh khắc bạn chuyển sang phòng thủ một cách bình thường. Ngay cả những kẻ ái kỷ sâu cũng có thể bị kéo ra khỏi cái vỏ ốc của họ theo cách này, vì sự chú ý như thế rất hiếm hoi. Không phải người này hay người kia mà bản thân trạng thái đối kháng phải được thay đổi.

3. Người ái kỷ lành mạnh - Người đọc tâm trạng. Tháng 10/1915, nhà thám hiểm lớn người Anh, Sir Ernest Henry Shackleton(38) hạ lệnh mọi người rời khỏi con tàu Endurance, vốn đã bị kẹt trong băng trôi ở Nam cực trong hơn tám tháng và bắt đầu phá nước. Với Shackleton, điều này có nghĩa là về cơ bản ông phải từ bỏ giấc mơ dẫn đầu đoàn người trong chuyến băng ngang qua đất liền đầu tiên ở lục địa Nam cực. Đây là đỉnh điểm của sự nghiệp lừng lẫy của ông với tư cách một nhà thám hiểm, nhưng lúc này một trách nhiệm lớn hơn nhiều đè nặng trên tâm trí ông - làm cách nào để đưa 27 người trong đoàn thám hiểm quay về nhà an toàn. Cuộc sống của họ phụ thuộc vào những quyết định hằng ngày của ông.

Khi nhận ra mục tiêu này, ông đối mặt với nhiều trở ngại: Thời tiết mùa đông khắc nghiệt sắp sửa tấn công họ, những dòng nước trôi giạt có thể kéo tảng băng nổi mà họ phải dựng trại bên trên, theo bất kỳ hướng nào, những ngày sắp tới sẽ không có chút ánh sáng nào, nguồn thực phẩm đang cạn dần, không liên lạc được với bất kỳ sóng vô tuyến nào hoặc con tàu nào có thể giúp họ. Nhưng nguy cơ lớn nhất, điều khiến ông lo sợ nhất, là tinh thần của mọi người. Tất cả những gì nó cần là một vài sự bất mãn để lan tỏa sự oán giận và tiêu cực; chẳng bao lâu nữa người của ông sẽ không còn hăng hái làm việc; họ sẽ không lắng nghe ông và đánh mất niềm tin vào sự lãnh đạo của ông. Khi điều đó xảy ra, mỗi người sẽ chỉ nghĩ tới bản thân mình, và trong hoàn cảnh này, nó có thể dễ dàng mang tới bệnh tật và cái chết. Ông sẽ phải giám sát tinh thần nhóm thậm chí còn chặt chẽ hơn so với thời tiết đang thay đổi.

Điều đầu tiên ông cần làm là vượt lên dẫn đầu khó khăn và truyền tinh thần đúng mực cho thủy thủ đoàn. Tất cả đều bắt đầu từ người lãnh đạo. Ông sẽ phải che giấu tất cả những ngờ vực và lo sợ của riêng mình. Buổi sáng đầu tiên trên tảng băng trôi, ông trở dậy sớm hơn bất cứ người nào và chuẩn bị một bữa tiệc trà nóng đặc biệt hoành tráng. Khi ông đích thân phục vụ trà cho mọi người, ông cảm thấy họ đang nhìn ông như để thăm dò về tình cảnh khó khăn của họ, vì thế ông giữ cho tâm trạng thoải mái pha lẫn với chút khôi hài khi nói về ngôi nhà mới của họ và bóng tối sắp đến. Đây không phải là thời điểm thích hợp để thảo luận những ý tưởng của ông về cách thoát khỏi tình cảnh rối ren này. Điều đó sẽ khiến cho họ quá lo lắng. Ông sẽ không nói ra thành lời sự lạc quan của ông đối với những cơ may của họ mà sẽ để cho họ cảm nhận nó trong thái độ và ngôn ngữ cơ thể của ông, thậm chí nếu ông phải giả vờ như thế.

Tất cả đều biết họ sẽ bị mắc kẹt ở đó trong mùa đông sắp tới. Điều họ cần là sự phân tâm, một điều gì đó xâm chiếm tâm trí họ và giữ vững tinh thần của họ. Vì mục đích đó, mỗi ngày ông vạch ra một bảng phân công nhiệm vụ cho từng người. Ông cố hoán đổi nó càng nhiều càng tốt, chuyển những người xung quanh vào nhiều nhóm khác nhau và bảo đảm rằng họ không bao giờ làm cùng một công việc quá thường xuyên. Có một mục tiêu đơn giản để hoàn thành cho từng ngày - săn một vài con chim cánh cụt hoặc hải cẩu, vác về lều thêm một số thực phẩm đã dự trữ từ con tàu, dựng một nơi cắm trại tốt hơn. Vào cuối ngày, họ có thể ngồi quanh đống lửa trại và cảm thấy họ đã làm được gì đó để giúp cho cuộc sống của họ dễ dàng hơn chút ít.

Trong lúc ngày tháng cứ trôi, ông điều chỉnh thêm sự hòa hợp sâu sắc cho tâm trạng đang chuyển biến của mọi người. Quanh đống lửa trại, ông thường đi tới từng người và trò chuyện với anh ta. Với những nhà khoa học ông nói về khoa học, với những dạng có đầu óc nghệ thuật hơn ông nói về những nhà thơ và nhạc sĩ ông ưa thích nhất. Ông thâm nhập vào tinh thần cụ thể của họ và đặc biệt chú ý tới bất kỳ vấn đề nào họ đang trải qua. Người đầu bếp có vẻ đặc biệt buồn phiền, cho rằng lẽ ra ông ta nên giết con mèo cưng của mình, họ không còn thức ăn để nuôi nó. Shackleton tình nguyện làm việc đó giùm ông ta. Rõ ràng là nhà vật lý trong đoàn đang gặp khó khăn với việc lao động vất vả; ban đêm ông ta ăn chậm rãi và thở dài mệt nhọc. Khi nói chuyện với ông ta, Shackleton có thể cảm thấy tinh thần của ông ta đang xuống thấp sau ngày làm việc. Không làm cho ông ta cảm thấy giống như mình đang trốn việc, Shackleton thay đổi bảng phân công để giao cho ông ta những công việc nhẹ hơn nhưng quan trọng tương đương.

Ông nhanh chóng nhận ra vài kết nối lỏng lẻo trong nhóm. Đầu tiên là Frank Hurley, nhiếp ảnh gia của đoàn. Anh ta giỏi trong chuyên môn của mình và không bao giờ than phiền về việc đang làm những chuyện lặt vặt của người khác, nhưng anh ta là một người cần cảm thấy mình quan trọng. Anh ta có xu hướng hợm mình. Vì thế trong những ngày đầu tiên trên tảng băng trôi, Shackleton lưu ý tới việc hỏi ý kiến Hurley về tất cả mọi vấn đề quan trọng, chẳng hạn những kho chứa lương thực, và khen ngợi những ý kiến của anh ta. Ngoài ra ông còn chỉ định Hurley tới ở trong lều của mình; cả hai việc này khiến Hurley cảm thấy mình quan trọng hơn những người khác và giúp Shackleton dễ dàng theo dõi anh ta hơn. Người lái tàu, Huberht Hudson, để lộ ra anh ta rất quan tâm tới chính mình và là một người rất dở lắng nghe. Anh ta cần thường xuyên được chú ý. Shackleton nói chuyện với anh ta nhiều hơn với bất kỳ người nào khác và cũng đưa anh ta về lều của ông. Nếu có những người khác bị ngờ là những kẻ ái kỷ ngấm ngầm, ông phân họ ra những túp lều khác nhau, làm loãng đi tầm ảnh hưởng có thể có của họ.

Khi mùa đông ập tới, ông càng chu đáo hơn. Vào những thời khắc nhất định, ông có thể cảm thấy sự chán nản của mọi người trong cách họ hành xử, hoặc trong việc họ ngày càng ít trò chuyện với người khác. Để chống lại điều này, ông tổ chức những sự kiện thể thao trên mặt băng trong những ngày không có mặt trời và những cuộc tiêu khiển vào ban đêm - âm nhạc, những trò chơi khăm cho vui, kể chuyện. Mỗi ngày nghỉ lễ được tiến hành kỹ lưỡng, với một bữa tiệc to dành cho mọi người. Theo cách nào đó, những ngày trôi giạt vô tận được lấp đầy với những sự kiện nổi bật, và không lâu sau đó ông bắt đầu nhận thấy một điều đáng chú ý: Mọi người vui vẻ một cách rõ rệt và thậm chí còn thích thú với những thách thức của cuộc sống trên tảng băng trôi.

Rồi đến một lúc, tảng băng trôi họ đang sống bên trên đã trở nên nhỏ đi một cách nguy hiểm, và do đó ông lệnh cho mọi người vào ba chiếc thuyền cứu sinh nhỏ mà họ đã lấy từ con tàu Endurance. Họ cần di chuyển tới đất liền. Ông giữ cho những chiếc thuyền ở gần nhau, và đương đầu với biển cả hung tàn, họ cố xoay xở để đổ bộ lên đảo Elephant gần đó, tại một bãi biển hẹp. Hôm đó, khi ông khảo sát hòn đảo, rõ ràng theo một số cách, những điều kiện trên đó còn tệ hơn trên tảng băng trôi. Thời gian đã chống lại họ. Cũng trong ngày hôm đó, Shackleton ra lệnh chuẩn bị một chiếc thuyền để tiến hành một nỗ lực liều lĩnh nhất nhằm đi tới một nơi có thể đổ bộ và có người ở trong khu vực - đảo South Georgia, cách đó khoảng tám trăm dặm (gần 1.300km) về hướng đông bắc. Cơ may để làm được điều này rất mỏng manh, nhưng mọi người không thể sống sót lâu trên đảo Elephant, vì nó phơi mình ra trước biển và khan hiếm thú để săn.

Ngoài chính mình, Shackleton phải cẩn thận chọn ra năm người khác cho chuyến đi này. Một người trong số đó, Harry McNeish, là một chọn lựa rất kỳ quặc. Ông ta là thợ mộc của con tàu và là người già nhất thủy thủ đoàn, 57 tuổi. Ông ta có thể gắt gỏng và không mấy ưa công việc vất vả. Dù đây sẽ là chuyến đi rất gian khổ trong chiếc thuyền nhỏ, Shackleton rất lo ngại không muốn để ông ở lại. Ông giao cho ông ta trách nhiệm chuẩn bị các trang thiết bị cần thiết trên thuyền cho chuyến đi. Với công việc này, ông ta sẽ cảm thấy có trách nhiệm cá nhân đối với sự an toàn của chiếc thuyền, và trong cuộc hành trình, tâm trí của ông ta sẽ tiếp tục tập trung vào việc theo dõi sức chịu đựng sóng gió của chiếc thuyền.

Trong chuyến đi, ông nhận thấy tinh thần của McNeish đang suy sụp, và đột nhiên ông ta ngừng chèo thuyền. Shackleton cảm thấy sự nguy hiểm - nếu ông trách mắng McNeish hay ra lệnh cho ông ta chèo, chắc chắn ông ta sẽ chống đối mạnh mẽ hơn, và với rất ít người hợp sức với nhau trong suốt nhiều tuần, với rất ít thực phẩm, việc này có thể gây ra tai hại lớn. Để ứng phó với tình huống này, ông dừng thuyền lại và hạ lệnh đun nóng sữa cho mọi người. Ông bảo rằng tất cả họ đều đang mệt, kể cả ông, và họ cần củng cố lại tinh thần. McNeish thoát khỏi sự bối rối vì không cảm thấy bị phân biệt đối xử, và trong thời gian còn lại của chuyến hành trình, Shackleton thường xuyên lặp lại mánh khóe này khi cần thiết.

Khi còn cách đích đến vài dặm, một cơn bão bất ngờ đầy họ về phía sau. Trong lúc họ tìm kiếm một cách vô vọng một giải pháp mới để tới được hòn đảo, một con chim nhỏ lơ lửng bên trên, cố đậu lên thuyền của họ. Shackleton cố duy trì sự bình tĩnh thường lệ, nhưng đột nhiên ông đánh mất nó, đứng lên và vừa điên cuồng vung tay về phía con chim vừa nguyền rủa. Hầu như ngay sau đó ông cảm thấy bối rối và ngồi xuống trở lại. Trong suốt 15 tháng ông đã kiểm soát được những thất vọng của mình vì mọi người và giữ vững được tinh thần. Ông đã tạo được một bầu không khí cần thiết. Giờ không phải là lúc quay lại vấn đề này. Vài phút sau ông tự chế nhạo mình và thề sẽ không bao giờ lặp lại một màn kịch như thế, bất kể áp lực thế nào.

Sau cuộc hành trình qua một số điều kiện đại dương tồi tệ nhất trên đời, con thuyền nhỏ xíu xoay xở đề cập bến ở đảo South Georgia, và nhiều tháng sau, với sự giúp đỡ của những thợ săn cá voi đang hoạt động tại đó, toàn bộ những người còn lại trên đảo Elephant được giải cứu. Khi xem xét những thứ chống lại họ, hoàn cảnh, địa thế không thể chấp nhận được, những chiếc thuyền nhỏ xíu, và những nguồn cung cấp eo hẹp của họ, đó là một trong những câu chuyện sống sót đặc sắc nhất trong lịch sử. Dần dà, vai trò lãnh đạo của Shackleton được lan truyền rộng khắp. Như sau đó Sir Edmund Hillary(39), nhà thám hiểm đã tóm tắt: “Vì sự lãnh đạo khoa học hãy cho tôi Scott(40a), vì sự di chuyển mau lẹ, hiệu quả [hãy cho tôi] Amundsen(40b), nhưng khi bạn ở trong một tình huống vô vọng, khi dường như không còn đường thoát, hãy quỳ xuống và cầu nguyện để có Shackleton”.

Diễn dịch: Khi Shackleton nhận ra chính ông phải chịu trách nhiệm cho mạng sống của rất nhiều người trong tình thế tuyệt vọng như thế, ông hiểu điều gì sẽ xác định sự khác biệt giữa sống và chết: thái độ của mọi người. Đây không phải là một thứ hữu hình. Nó hiếm khi được thảo luận hay phân tích trong những cuốn sách. Không có cuốn cẩm nang huấn luyện nào về chủ đề này cả. Thế nhưng nó là yếu tố quan trọng nhất. Một chút sụt giảm trong tinh thần của họ, một số rạn nứt trong khối đoàn kết của họ sẽ khiến cho việc đưa ra những quyết định đúng đắn trở nên rất khó khăn trong tình cảnh khốn cùng như thế. Một nỗ lực để thoát khỏi tảng băng trôi, được thực hiện với sự nôn nóng và áp lực từ một vài người chắc chắn sẽ dẫn tới cái chết. Thật sự, Shackleton đã bị ném trở lại điều kiện nguyên sơ, cơ bản nhất của con người - động vật - một nhóm gặp nạn, dựa vào nhau để sống sót. Chính trong những tình huống như thế những tổ tiên xa xôi nhất của chúng ta đã phát triển những kỹ năng xã hội cao hơn, khả năng phi thường của con người để đọc được tâm trạng và tâm trí của những người khác, và để hợp tác. Và trong những tháng không có mặt trời trên tảng băng trôi, bản thân Shackleton đã tái phát hiện những kỹ năng cảm thông cổ xưa này, vốn nằm ngủ im trong tất cả chúng ta, vì ông phải làm điều đó.

Cách Shackleton tiến hành công việc này sẽ phục vụ như một hình mẫu cho tất cả chúng ta. Đầu tiên, ông hiểu thái độ của chính ông giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong công việc này. Người lãnh đạo tác động tới nhóm với cách tư duy của ông ta. Phần lớn việc này xảy ra ở cấp độ không dùng lời nói, vì mọi người tiếp thu dựa vào ngôn ngữ cơ thể và sắc thái giọng nói của người lãnh đạo. Shackleton thấm đẫm vẻ tự tin và lạc quan hoàn toàn; và quan sát điều này tác động ra sao tới tinh thần của mọi người.

Thứ hai, ông phải chia đều sự chú ý của mình cho từng cá nhân và cả nhóm. Với nhóm, ông giám sát các mức độ trò chuyện trong những bữa ăn, số lời nguyền rủa mà ông nghe thấy trong lúc làm việc, tâm trạng lên cao ra sao khi một cuộc giải trí bắt đầu. Với các cá nhân, ông đọc trạng thái cảm xúc của họ trong giọng nói, họ ăn nhanh ra sao, họ rời khỏi giường chậm ra sao. Nếu hôm đó ông để ý thấy một tâm trạng đặc biệt, ông sẽ cố dự đoán điều họ có thể thực hiện bằng cách đặt chính mình vào tâm trạng tương tự. Ông tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu nào của sự nản lòng hay bất an trong những lời nói và cử chỉ của họ. Ông phải đối xử với mỗi cá nhân khác nhau, tùy vào tâm lý riêng biệt của anh ta. Ông cũng phải thường xuyên điều chỉnh sự suy đoán của mình, vì tâm trạng của mọi người chuyển biến rất nhanh.

Thứ ba, khi phát hiện ra bất kỳ sự sa sút tinh thần hay trạng thái tiêu cực nào, ông phải từ tốn. Việc trách mắng sẽ chỉ khiến cho mọi người cảm thấy xấu hổ và bị phân biệt đối xử, vốn sẽ dẫn tới các hậu quả dễ lây lan tới cả nhóm. Tốt hơn nên trò chuyện với họ để thâm nhập suy nghĩ của họ, và tìm ra những cách gián tiếp nhằm động viên tinh thần của họ hoặc cách ly họ mà không để cho họ nhận ra điều ông đang làm. Khi thực hành điều này, Shackleton nhận ra ông đã trở nên giỏi hơn tới mức nào. Với một cái nhìn lướt qua vào buổi sáng, ông hầu như có thể dự đoán mọi người sẽ hành động ra sao trong suốt cả ngày. Một số thành viên trong đoàn đã nghĩ ông là một nhà ngoại cảm.(41)

Thấu hiểu: Hoàn cảnh bắt buộc khiến chúng ta phát triển những khả năng cảm thông này. Nếu cảm thấy sự sống còn của chúng ta tùy thuộc vào việc chúng ta đo lường tâm trạng và tâm trí của những người khác giỏi như thế nào, khi đó chúng ta sẽ tìm ra tiêu điểm cần thiết và vận dụng các khả năng. Thông thường, chúng ta không cảm thấy nhu cầu đối với điều này. Chúng ta tưởng tượng rằng ta hiểu rất rõ những người ta tiếp xúc. Cuộc sống có thể khắc nghiệt và chúng ta có quá nhiều công việc khác phải làm. Chúng ta lười nhác và thích dựa vào những phán xét đơn giản. Nhưng trong thực tế, đây là một vấn đề sống chết và thành công của chúng ta tùy thuộc vào sự phát triển của các kỹ năng này. Đơn giản, chúng ta không ý thức về điều này là vì ta không nhìn thấy sự liên kết giữa các rắc rối trong cuộc sống của ta với việc ta thường xuyên hiểu sai tâm trạng, dự định của mọi người, và những cơ hội liên tục bị bỏ lỡ vốn nảy sinh từ điều này.

Vì vậy bước đầu tiên là bước quan trọng nhất: Nhận ra bạn có một công cụ xã hội đặc biệt mà bạn không hề vun bồi. Cách tốt nhất để nhìn thấy điều này là hãy cố thử nó. Hãy dừng cuộc độc thoại nội tâm liên miên không dứt của bạn lại và chú ý tới mọi người một cách sâu sắc hơn. Hòa nhập bản thân bạn vào những tâm trạng luôn chuyển biến của các cá nhân và nhóm. Đọc hiểu tâm lý cụ thể của từng cá nhân và những thứ thôi thúc họ. Cố nắm bắt quan điểm của họ, bước vào thế giới và hệ giá trị của họ. Bạn sẽ bất ngờ trở nên ý thức về sự tồn tại của một thế giới của những hành vi không cần tới lời nói mà bạn chưa từng biết tới, như thể giờ đây đột nhiên đôi mắt của bạn có thể nhìn thấy tia tử ngoại. Một khi ý thức về khả năng này, bạn sẽ cảm thấy tầm quan trọng của nó và thức tỉnh trước những khả năng xã hội khác.

Tôi không hỏi kẻ bị thương rằng y cảm thấy thế nào… Bản thân tôi trở thành kẻ bị thương.

- Whitman

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.