Khang Hy Đại Đế - TẬP 4 - Chương 29

29

Thăm lãnh cung, Dận Tường nói chân tình

An ủi huyện lệnh Thiên tử nói con đường làm quan

Trịnh Xuân Hoa ban đầu định nhân lúc mọi người không để ý uống ngay chén thạch tín, nhưng liếc nhìn trên bàn đặt hai chén trà, giống hệt nhau, quên mất chén nào là chén của mình, bất giác hoảng hồn. Sau nghe Dận Tường nói Thái tử có truyền lời, bèn dằn lòng lại, đứng lên quỳ chào vạn phúc, nói: “Xin Thập tam gia huấn thị”.

“Có ‘huấn thị’ gì đâu, ta chỉ lừa Văn Nhuận Mộc thôi”. Dận Tường nhìn Trịnh Xuân Hoa, nói chậm rãi, “Nhị gia đã phục vị, ngươi có biết không?” Trịnh Xuân Hoa mặt không còn chút máu, nói khẽ: “Nô tỳ hôm nay mới biết...” Dận Tường bưng chén trà, nhưng lại thuận tay đặt trên bàn, chắp tay sau lưng đi mấy bước, bỗng quay người hỏi: “Nghe nói Thập tứ gia có tới đây?”

Trịnh Xuân Hoa thấy anh bưng chén trà, hoảng sợ, tim đập loạn xạ, mãi một lúc mới nói không chút mạch lạc: “Thập tứ gia không đến - Không, tôi chưa gặp Thập tứ gia, ông Văn nói Thập tứ gia bảo nô tỳ cố gắng dưỡng bệnh, không chừng có ngày... Vạn tuế còn truyền nô tỳ về cung...”. Dận Tường bất giác cười: “Đừng nên sợ mất hồn lạc vía như vậy! Thái tử có lời bảo ta truyền lại, ngươi phải tiếp tục sống!”

“Thập tam gia!”

“Ngươi nghe ta nói”, Dận Tường khoát tay nói: “Nơi này không phải chỗ tốt, ngươi nên đề phòng có người hại ngươi!”

Trịnh Xuân Hoa bỗng ngẩng đầu kinh ngạc nói: “Tôi?!”

“Ngươi!” Dận Tường nói lạnh lùng: “Ngươi phải hiểu rõ, một đời người can hệ đến sự an nguy của Thái tử, đến họa phúc của xã tắc!”

“Thái tử, người... Người chẳng phải là đã...”.

Dận Tường cúi đầu than thở, nói: “Không sai, đã phục vị. Nhưng nay đã phong một đám vương. Ngươi thuộc sách sử, thời Minh các vương đều phong lập ấp ở quận ngoài, không có việc không được tự ý rời nơi mình ở. Còn bây giờ vương gia đều ở kinh sư, người nào cũng nắm quyền to, ai ai cũng có ban hệ. Nhị gia có bao nhiêu thế lực, tài năng, có lẽ ngươi biết rõ hơn ta”. Trịnh Xuân Hoa lẳng lặng gật đầu, im lặng rất lâu, rồi lui về bên giường, ngồi xuống, trầm ngâm hỏi: “Theo ý Thập tam gia, thì tôi nên làm thế nào?” Dận Tường nhìn ra chung quanh, cười nói: “Ba mươi sáu chước, chạy trốn là hơn hết!”

“Thập tam gia đùa đấy chứ!” Trịnh Xuân Hoa bỗng thất thố cười khanh khách, nói: “Ngài nghe lời hát trong tuồng, nghe say rồi hả? Đừng quên đây là vườn cấm, bên trong có thái giám giám sát, bên ngoài có Vũ lâm quân canh giữ, tầng tầng lớp lớp trói chặt như thùng sắt, cho dù thật sự có cánh bay ra thì nương tựa vào đâu?” Dận Tường sửng sốt, bưng chén trà đang định đưa vào mồm, Trịnh Xuân Hoa đã kêu lên thất thanh:

“Đừng!”

“Cái gì?”

“Tôi nói... trà nguội rồi”. Trịnh Xuân Hoa ấp úng, “Thay cho ngài một chén trà nóng...”. “Tiếng kêu quái lạ làm ta giật bắn mình!” Dận Tường cười nói: “Nguội thì càng tốt, ta không thích uống nóng ...” Trịnh Xuân Hoa hoảng hốt không biết làm sao cho phải, vội bước tới hai tay bưng chén trà, ánh mắt đầy vẻ kinh hoàng và đau buồn, nói giọng run run: “Trà này... không uống được!”

Dận Tường kinh ngạc buông tay ra, sửng sốt nhìn nàng hắt đổ chén trà, rồi lấy một cái chén khác, rót trà bưng tới. Rất lâu, bỗng như tỉnh lại, anh kêu lên: “Ngươi... ngươi muốn...”.

“Đúng, nô tỳ phải đi xuống địa ngục A tỳ...” Trịnh Xuân Hoa lẩm bẩm, “khi cần đi, thì phải đi...”, Bỗng nhiên cô nghẹn ngào, “Gây nghiệp chướng nhiều như vậy, tôi cũng biết chết rồi phải lên núi dao, phải xuống vạc dầu. Nhưng sống trên thế gian này, chẳng phải cũng chịu cảnh dao cắt thịt chết dần chết mòn sao? Chi bằng buông tay ngay bây giờ - núi dao vạc dầu thì sá gì? Chỉ một nháy mắt là chuộc được tội”.

Trời không biết âm u từ lúc nào. Mây buồn mờ mịt, gió lạnh ào ào, một cây bạch dương trong sân réo rào rào, giống như một đám người vỗ tay cười giòn giã. Dận Tường cảm thấy âm u, tóc gáy dựng lên, bất chợt rùng mình. Trịnh Xuân Hoa vẫn sám hối “... Nô tỳ xuất thân cửa nhà học thức, nhờ Hoàng ân được chọn vào cung, không thể giữ thân như ngọc, ngược lại làm hại lây Thái tử... Từ lúc nô tỳ khôn lớn, ông nội đã giảng hồng nhan là nguồn tai họa, làm hỏng người phá xã tắc. Lúc đó nghe chỉ biết bặm môi nắm tay, không ngờ bản thân nô tỳ lại là người như vậy! Trời đất ơi! Sao trời bắt ta làm một người đàn bà!” Nàng run lên toàn thân, cố nén không bật ra tiếng khóc nhưng nước mắt chảy ròng ròng...

“Ngươi... ngươi không nên!” Dận Tường đã sửng sốt trước vẻ khí khái của nàng, anh đứng sững sờ, nhưng cảm thấy lòng như lửa đốt. Việc này anh đã bàn bạc với Dận Chân nhiều lần, cho dù tính cách Dận Nhưng như vậy, không được làm anh mếch lòng, nhưng cũng không thể giúp anh hại người. Vốn định đưa Trịnh Xuân Hoa ra giao cho Dận Nhưng xử. Cho dù giết nàng, bản thân mình không vấy máu, ít nhất lương tâm trong sạch. Nhưng bây giờ xem ra, làm như vậy càng tàn nhẫn! Dận Tường đứng như khúc gỗ, suy nghĩ khoảng tàn một điếu thuốc, mới có ý dứt khoát, anh nói một câu: “Ngươi hãy nhớ lời ta, nhất định đừng chết! Mọi việc do Thập tam gia lo liệu!” Nói xong bước nhanh đi ra, đứng dưới gốc cây, tim đập liên hồi không ngớt.

Văn Nhuận Mộc biết, đã có nhiều luật lệ cấm A ca đi thăm cung tần bị biếm truất. Tuy nói Thái tử truyền lời, nhưng không có bằng cứ. Tim ông đập liên hồi, thấy Dận Tường đi ra, vội tới đón cười nói: “Thập tam gia, việc xong rồi chứ? Xin chiếu cố tới phòng nô tài uống chén trà ạ!”

“Ngươi đi theo ta!” Dận Tường mặt tái xanh nói một câu, rồi chắp tay sau đít đi tới một nhà mát bên cổng vào, ngồi xuống. Văn Nhuận Mộc ngơ ngác một lúc rồi vội bước theo. Quanh quẩn một hồi, đi thẳng tới cạnh hòn giả sơn phía tây nhà mát, Dận Tường dừng lại, nhìn ra mặt hồ sóng biếc, nói: “Văn Nhuận Mộc, vừa rồi ta nghe ngươi nói, các ông chủ ngươi đều là người có lương tâm. Bây giờ ta thực có chuyện muốn nhờ ngươi làm, không biết ngươi có bạo gan hay không?”

“Sao đức ông nói vậy?” Văn Nhuận Mộc kiên cường ưỡn ngực, nói: “Nô tài chỉ thanh tịnh tấm thân, trong lòng rất đầy đủ! Cũng là trượng phu bảy thước!”

“Vậy thì tốt”, Dận Tường rút trong người ra một cái gói nhỏ, đưa cho Văn Nhuận Mộc: “Gói thuốc này, ngươi lén cho Trịnh cung nhân uống”.

Văn Nhuận Mộc trán đẫm mồ hôi, hắn run run nhận gói thuốc hỏi: “Đây là...” Dận Tường nói lạnh lùng: “Đây là phản hồn tán Kê minh ngũ cổ. Bà ta uống xong thì bảo bà ta bệnh nặng mất đột ngột. Thái giám khám tử thi do ngươi chuẩn bị. Hóa thân Tả Gia Trang do ta chuẩn bị. Cần bao nhiêu bạc, gộp hết lại bảo cha ngươi sang phủ ta thanh toán. Ngươi rõ chứ?” Văn Nhuận Mộc như trong giấc mơ, một hồi lâu mới lắp bắp “Nô tài... nô tài...”.

“Hả?”

“Nô tài không hiểu gì cả...” Văn Nhuận Mộc nói: “Đây rốt cuộc vì sao vậy? Hơn nữa, nói làm sao với bên Thập tứ gia?”

Dận Tường cười nhạt: “Ngươi đừng hỏi nguyên do, biết nhiều không có lợi cho ngươi. Thập tứ gia to gan, còn ta ‘Thập tam gia bạt mạng’! Ta chỉ nói cho ngươi biết, ngươi làm việc này là nghĩa cử! Thập tứ gia làm gì được ngươi? Nhiều lắm là tìm cách đuổi ngươi! Vậy thì càng tốt, ta sẽ cho cả nhà ngươi thoát khỏi thân phận nô tỳ, cho cha, mẹ, anh, em ngươi về Bảo Đức. Mười khoảnh đất, năm ngàn lạng bạc - Đủ dùng một đời rồi chứ?” Lời nói có sức hấp dẫn cực lớn, nhưng áp lực lại càng lớn hơn. Cả một nhà ông sống chết được mất đều nằm trong tay Thập tam gia!

“Thập tam gia đã chỉ con đường sáng”, Văn Nhuận Mộc nghiến răng, quyết ý nói: “Nô tài làm! Người ăn ngũ cốc, lương thực đủ thứ, bị bệnh, chết đột ngột, Văn Nhuận Mộc tôi còn có cách gì, nô tài làm!”

“Ngươi rất thông minh”. Dận Tường gật đầu, huơ tay đi thẳng.

Xa giá Khang Hy đi thị sát phía nam, rời kinh ngày 16 tháng 7. Theo lệ cũ, trước hết đến núi Ngũ Đài, sau đi về hướng đông leo Thái Sơn, rồi xuôi thuyền rồng theo kênh đào xuống nam. Vừa ra khỏi kinh thành, Khang Hy trong lòng không vui, nhà vua trầm lặng ít nói hẳn.

Nhìn thấy sắp tới trấn Lạc Mã hồ, Khang Hy phấn khởi, gọi ngay Trương Đình Ngọc ngồi ở thuyền sau sang thuyền ngự đánh cờ, nói chuyện ngày xưa. Lần đi thị sát đầu tiên năm đó, đến nhà lái buôn Hàn Xuân Hòa gặp cướp, bà già giỏi giang Hàn Lưu tỏ rõ tài trí, thu phục được tên cướp sông Lưu Thiết Thành. Khang Hy phấn chấn tinh thần, quay đầu hỏi Lưu Thiết Thành: “Trẫm vẫn muốn hỏi ngươi, lúc đó ngươi nghĩ thế nào, mấy giọt nước mắt của bà Hàn Lưu, đã làm cho ngươi nhận ra bà chị hả?”

“Lúc đó nô tài cũng mơ mơ hồ hồ”. Lưu Thiết Thành nhớ lại chuyện xưa, cũng vô cùng xúc động. Thấy Khang Hy vui vẻ, ông vội nói: “Ban đầu nô tài cũng ngu - Làm sao vừa khéo như vậy, lại đi gây án ở nhà bà chị? Nhưng bà Hàn Lưu nói có ngọn có ngành; lại nghĩ: cứ cho là giả đi thì có một ‘bà chị già’ cũng tốt. Bây giờ nghĩ lại như là một giấc mơ - đó là hồng phúc của Ông chủ!” Trương Đình Ngọc thừa cơ khuyên can: “Thánh thiên tử trăm thần đều trợ giúp, đó là lẽ tự nhiên. Có điều, ông vua của trăm họ khinh suất đi vào những nơi nguy hiểm vẫn là không nên. Nô tài là lớp con cháu hậu sinh, không được trải qua chặng đường gian nan của Vạn tuế thời đó, chỉ nghe Cao Sĩ Kỳ nói lại. Hồi đó Vạn tuế xông vào phủ Ngao Bái, thăm nhà Ngô Ứng Hùng, gặp thích khách ở đồn Sa Hà Sơn Tây, hồ Lạc Mã gặp nguy lại yên, bao nhiêu hiểm nguy ghê gớm, đều là bất đắc dĩ, mong Hoàng thượng đi tuần lần này sẽ canh giữ nghiêm ngặt, không để xảy ra chuyện như vậy nữa.”

Khang Hy vừa ăn con cờ, vừa nói: “Đình Ngọc nói sai rồi! Mặc thường phục vi hành có gì không tốt? Không có việc mặc thường phục vi hành ban đêm ở đồn Sa Hà, thì Trẫm đâu có biết trần gian khổ; không có sự biến chùa phố Bò, thì làm sao làm yên lòng dân Hồi trong thiên hạ? Trẫm lấy trăm họ làm thành dựa, chưa từng coi thấp con dân, đâu có số người hại Trẫm nhiều như vậy? Sợ là sợ ...” Nhà vua bỗng ngừng lời, vốn định nói “họa từ ở trong nhà”, nhưng vua không muốn nói ra đều phiền lòng đó, nên nín lặng. Trương Đình Ngọc cờ cao hơn Khang Hy mấy nước, đang vắt óc suy nghĩ đặt con cờ đen, để trở thành cuộc cờ hòa, mồm nói: “Vạn tuế nói đúng Lục Lũng Kỳ vốn cũng thích mặc thường phục vi hành, vì bị thiệt thòi của việc vi phục, nên về sau rất ít đi thăm riêng. Nửa tháng trước nô tài có gặp Lục Lũng Kỳ. Vì thả cho tù nhân trốn thoát, bộ bàn cách chức ông”. Nghe nói đến Lục Lũng Kỳ, Khang Hy lòng nặng trĩu. Đó là một viên quan thanh liêm nổi tiếng, chỉ lấy bốn phân bạc hao phí. Việc thả tù, nhà vua cũng rõ, phạm nhân Vương Thu Sinh thiếu nợ sinh viên Chử Tân Vinh không trả được, bị kiện giam vào ngục, Lục Lũng Kỳ thả họ Vương ra. Vốn là một việc rất nhỏ, Dận Nhưng nghe lời Ân Thành niết ty Sơn Đông, dứt khoát đòi cách chức, bắt xét hỏi - Chẳng qua là vì Ân Thành theo Vương Diệm bảo vệ Thái tử! Ngẫm nghĩ, Khang Hy sa sầm nét mặt, nói lạnh lùng: “Phía trước sắp tới Tế Nguyên rồi, bảo người xuống thuyền cưỡi ngựa truyền chỉ, cho Lục Lũng Kỳ cùng đi tiếp giá!”

Vào cuối giờ Dậu, thuyền rồng tiến vào địa phận Tế Nguyên. Khang Hy trong thuyền bước ra. Thấy trong màn mưa mù mịt, các lều tranh trên bờ đốt lên mười hai cây đèn lồng lụa đỏ tỏa sáng lung linh. Gió thu thổi tới đẩy cái bím tóc bạc trắng của Khang Hy lên thật cao. Trên bờ một đám lớn quan viên văn võ, hào lão thân sĩ, nhằm hướng thuyền mà lạy, nhất tề hô to Vạn tuế. Khang Hy vuốt râu mỉm cười, lệnh cho thuyền rồng thả neo tạm dừng, hướng về phía bờ hỏi: “Ai là huyện lệnh Tế Nguyên?”

“Vạn tuế!” Viên huyện lệnh lẫn trong đám quan viên phủ, đạo, vốn nói thuyền ngự quá cảnh không dừng lại, chỉ cần vái chào đưa tiễn là xong, không ngờ Khang Hy dừng thuyền hỏi đích danh, bất giác được yêu chiều mà giật mình, dập đầu lạy ba lạy, đáp to: “Nô tài Vạn Bính Huy, người Thái Nguyên Sơn Tây, năm nay bốn mươi mốt tuổi. Năm Khang Hy thứ 39 đỗ Tam giáp, ân tứ Tiến sĩ xuất thân, nay là huyện lệnh Tề Nguyên, kính thỉnh Vạn tuế kim an, vạn tuế, vạn vạn tuế!”

“Ráng mà làm quan”, Khang Hy nghe hắn dài dòng văn tự, bèn cười nói; “Người tiền nhiệm của ngươi, Lục Lũng Kỳ tuy phạm tội bị cách chức, nhưng ngươi phải học ông ta chỗ thanh liêm. Lục Lũng Kỳ tới chưa?”

Trên bờ, dưới ánh đèn, đám người rỉ tai nhau, ngóng nhìn tả hữu, một ông già hơn sáu mươi tuổi quỳ gối tiến tới mấy bước, dập đầu đáp: “Tội thần Lục Lũng Kỳ có mặt”.

“Ngươi lên đây”. Khang Hy nói một tiếng rồi bước vào khoang.

Lục Lũng Kỳ lên thuyền, không biết làm gì, ông nhìn Trương Đình Ngọc, Lưu Thiết Thành vén rèm nói: “Mời vào”. Trương Đình Ngọc cũng bước vào theo. Lục Lũng Kỳ là một ông già rất thanh bạch, áo dài vải, quần ngựa vải xanh giặt đã thành màu trắng, chân mang một đôi giày vải làm “bò tức chết”, giống như một học giả nhà quê. Nhà vua mỉm cười nói: “Đứng lên nói chuyện - ngươi rời kinh khi nào?”

“Tội thần về huyện hôm mồng 8 tháng 7”. Lục Lũng Kỳ tạ ơn đứng lên, khom người đáp: “Bộ bàn đưa thần đi phục dịch trong quân Tây Ninh, vì bá tánh thân sĩ trong huyện bãi thị, sợ sinh chuyện bất trắc, bảo thần về huyện xoa dịu lòng người, sau đó sẽ lên đường”.

Khang Hy trầm ngâm một lát, bá tánh huyện Tề Nguyên vì Lục Lũng Kỳ mất chức đã vịn càng xe bãi thị đòi giữ lại, vua đã biết việc đó qua sớ tâu, nên cười nói: “Bộ xét thì Bộ xét, Trẫm còn chưa nói gì. Tây Ninh giá rét, sức khỏe ngươi không nên đi. Buồn cười thật, ngươi không biết làm quan! Người ta làm quan càng làm càng to, còn ngươi thì càng làm càng nhỏ. Nếu Trẫm không nhớ sai, ngươi là Tiến sĩ nhị giáp được công bố rộng, từ Hàn lâm viện đi ra nhậm chức, phân làm Hồ diêm đạo, sau giáng làm Tri phủ Phụng Dương, lại hạ chức làm huyện lệnh Tề Nguyên, đến bây giờ chẳng là gì cả!” Lục Lũng Kỳ hơi suy nghĩ một lát, đáp rằng: “Vạn tuế cảm thấy buồn cười, nhưng thần cảm thấy đáng buồn. Làm mếch lòng bọn buôn muối, quan đạo không làm được; không tiền biếu cho quan phiên, tri phủ không làm được; thả người con hiếu, tri huyện không làm được. Chẳng phải là đáng buồn sao?”

“Ừ!” Khang Hy mắt sáng lên, đi tới bên Lục Lũng Kỳ, vỗ lên vai nói: “Trẫm hiểu, ngươi thanh liêm, công bình chính trực, là một ông quan tốt, chỉ vì quá thanh cao, mắc cái bệnh chung của những người có học. Có một số việc phải biến báo mà xử lý chứ”. Lục Lũng Kỳ nghe nói nước mắt đã lưng tròng, nhưng lại nói: “Xin Hoàng thượng dạy rõ ạ!” Khang Hy cười ha hả: “Không nhận ra, ngươi là nhân vật dấu kim trong bọc! Trẫm nói biến báo, không phải là bảo ngươi tham ô làm bậy. Ví như vụ án Vương Thu Sinh, cần gì ngươi phải thả anh ta ra tù? Huyện lệnh trong thiên hạ mà học theo ngươi thì chẳng loạn lên sao? Vu Thành Long cũng bị xử phạt vì những việc như thế này. Bộ xét không oan cho ngươi. Vương Thu Sinh thiếu nợ không trả, theo luật phải lưu đày một ngàn dặm, ngươi muốn chiếu cố hắn thì đưa về huyện phạt gông ba tháng, chẳng phải xong việc rồi sao? Hơn nữa ngươi là quan phụ mẫu, tìm nguyên cáo thuyết phục họ rút đơn kiện cũng được. Hoặc nói với nha dịch, không bắt được người đến hầu án, cũng có thể xong việc. Đâu đến nỗi bản thân ngươi cũng phạm pháp?”

Lục Lũng Kỳ nghe xong, cảm thấy tuy có một số việc người thường không tưởng tượng nổi, nhưng nghĩ kỹ lại, lưu đày một ngàn dặm và đóng gông ba tháng là những hình luật có thể thay thế cho nhau, bản thân mình là quan già đã thuộc làu, sao không nghĩ ra cách thức thông minh đó? Ông khâm phục nhìn Khang Hy, nói: “Tội thần không thuộc luật lệnh, tự mình chui vào lưới pháp luật, Vạn tuế chỉ trích rất đúng! Nhưng biện pháp thứ ba Vạn tuế nói, thần cũng không dám gật bừa”.

“Con người ngươi thật là!” Khang Hy cười, “Trẫm phải nói thế nào cho ngươi hiểu đây? Trong Sở Từ nói: ‘Nước xanh biếc mà trong có thể rửa đầu ta, nước xanh biếc mà đục có thể rửa chân ta’, không phải hoàn toàn không có lý. Các quan hiền lương thực sự phải hiểu rõ đạo lý tự hoàn thiện mình! Người có chí báo đền nợ nước, nhưng không có trí suy nghĩ công việc. Tính mạng mình còn chưa bảo vệ được thì làm sao trung thành có hiệu quả với triều đình? Suy ra đó là tập tính của người Hán, thích nổi danh trung liệt, kỳ thực không ích gì cho xã tắc. Lý Tất ở trong thời kỳ nhà Đường sắp đổ vỡ, bản thân bị nghi ngờ, đã phò một ông chủ bình thường mà đưa thiên hạ đến yên ổn. Đó là trung mà còn là trí. Phùng Long, Tỷ Can một mực ngu trung, bản thân lưu danh thiên cổ, đặt vua, cha đến chỗ bất nghĩa. Người nào tốt hơn? Ngươi xem anh Trương Đình Ngọc này là biết rõ cái đạo lý đó”.

Lục Lũng Kỳ cúi đầu ngẫm nghĩ, lòng rất khâm phục, ông đáp khẽ “Vâng”. Nhưng Trương Đình Ngọc trong lòng đủ mùi vị, bản thân mình cũng từng mơ hồ nghĩ tới những lời này, nhưng không ngờ điều Khang Hy nói càng sâu sắc sáng tỏ hơn nhiều so với điều mình nghĩ! Ý nghĩa “ông chủ bình thường” Khang Hy nói ở đây khiến ông liên tưởng đến Dận Nhưng, ông càng kinh ngạc, và càng cảm động. Trong khi thất vọng, Khang Hy vẫn dùng phương pháp này để bảo toàn một loạt quan lại, bất giác một cảm giác buồn rầu thương cảm nổi lên trong ông.

“Ngươi về đi”. Khang Hy lại than, “Nhân lúc bãi quan chưa có việc gì làm, ngươi nghỉ mấy ngày cũng tốt. Sau này Trẫm sẽ có ý chỉ”.

Thuyền nhổ neo bắt đầu xuất phát. Nước chảy dưới thân tàu nghe rào rào, Trương Đình Ngọc ngây người đứng trầm tư, con tim phập phồng, bỗng nghe Khang Hy hỏi: “Khanh thấy con người này thế nào?”

“Là một viên quan có năng lực”. Trương Đình Ngọc vội nói, “Có hơi cổ lỗ một chút”. Khang Hy thì lắc đầu nói: “Trẫm ít nhiều có hơi thất vọng, sức khỏe ông ta quá yếu, cũng quá già, Trẫm không hiểu vì sao một con người như vậy mà Dận Nhưng không bỏ qua được cho ông ta! Thái tử - qua việc biết người, còn quá yếu”. Mắt vua sáng lên, nhìn theo ánh đèn cứ nhảy nhót, im lặng rất lâu.

... Ngày hôm sau trời vừa rạng sáng, Khang Hy đã dậy, mang giày đi ra ngoài thuyền xem. Mưa đã dứt, phía trước là một vùng nhà cửa đen đặc, văng vẳng nghe tiếng nước chảy ầm ầm, Khang Hy hỏi: “Phía trước là trấn Lạc Mã hồ chắc?” Lưu Thiết Thành đứng phía sau rất thuộc vùng này, anh nói không cần suy nghĩ: “Đúng ạ! Phía trước là hồ Lạc Mã. Vạn tuế đã nghe tiếng Hoàng Hà réo ầm ầm rồi chứ. Vào thời gian này, khi cơn lũ mùa thu đang tới, thì ngoài năm dặm vẫn nghe tiếng nước réo. Nếu không có sông giữa do Cận trung thừa mở khi còn sống, e rằng chúng ta phải dừng lại ở đây rồi”. Không để ý lời anh nói, Khang Hy ngẫm nghĩ rồi bảo: “Dừng thuyền, Trẫm phải đi trên đê sông một lúc. Ngươi truyền chỉ Trương Đình Ngọc, và cả ngươi nữa, đều thay quần áo thường đi theo ta”. Nói xong tự vào khoang thay quần áo. Vua mặc cái áo dài kép màu xanh trúc, thắt dây lưng bước ra ngoài, theo tấm ván bước lền bờ. Trương Đình Ngọc mặc áo dài màu lam, Lưu Thiết Thành ăn mặc như trưởng tùy đi theo sau. Khang Hy vỗ tay cười nói: “Nói khanh là cử nhân đi thi, sao khanh đi về nam; nói khanh là người buôn bán, thì mặt mày ra vẻ thư sinh. Đâu có một đôi chủ tớ như vậy?”

“Chúng ta đi về trường thi nam”. Trương Đình Ngọc cười nói: “Hoàng thượng vẫn không nghe lời khuyên! Hôm qua còn nhắc đến chuyện không nên vi hành ạ” Lưu Thiết Thành nói: “Sợ cái gì? Bây giờ đâu bằng hồi trước, trộm cướp không có. Cho dù có tên nào nổi lên, không cần lấy danh nghĩa ông chủ, chỉ cần nói tôi là Lưu sẹo to hồi đó, hắn sẽ sợ chết khiếp thôi!” Khang Hy cười nói: “Chỉ có nói khoác! Nếu không phải là Trẫm, không biết bây giờ ngươi chôn thây ở bãi tha ma nào rồi!”

Vừa đi vừa nói chuyện, đã gần tới trấn. Lúc này mặt trời vừa mới mọc, trên đường bốn bên tám hướng, quang gánh, xe cộ chở đầy gà vịt thịt trứng cá rau, nối đuôi nhau không dứt. Có hai ông bà đang lùa gia súc, các cô gái kết đàn cùng đi, ồn ào rộn rịp, kẻ cười người nói. Lâu ngày ngồi trong cung cấm, bị đám con tranh giành quyền lợi ngôi vị làm cho đầu óc mụ mị, Khang Hy hào hứng bước trên con đê đất vàng, nhìn đám người vui vẻ nói cười, những gì mắt thấy tai nghe đều cảm thấy mới mẻ. Thấy một ông già đẩy xe gạo vừa lên dốc xong, ngồi nghỉ chân bên cạnh chiếc xe cút kít nhỏ, Khang Hy liền bước tới bắt chuyện: “Ông anh! Đi bán gạo hả? Cái xe to thật, thế mà ông đẩy nổi! Các con đâu?”

“Hả? hả...”. Ông già có hơi nặng tai, nheo mắt nhìn Khang Hy, lấy chiếc nón rách ra quạt mát nói: “Ông mua gạo hả? Không được? Số gạo này ông chủ nhà tôi đã bán cho công nhân đắp đê rồi. Nắm xương già của ta còn chắc chắn lắm!” Khang Hy nghe nói, cười, té ra là tá điền bán gạo cho chủ ruộng, bèn hỏi to: “Gạo này bán bao nhiêu tiền một đấu?” Ông già đưa bàn tay ra hiệu, “gạo cũ ba tiền, đây là gạo mới, năm tiền một đấu! Không dấu gì ông, vụ thu này ông chủ chúng tôi phát tài rồi. Tiền thu được, chở xe đem về nhà mà đổ!”

Khang Hy nghe bèn nhìn Trương Đình Ngọc. Trương Đình Ngọc cũng buồn trong lòng, đốc sông báo cáo bộ Hộ nói giá gạo trong khoảng tám tiền một đấu. Không hỏi cũng biết số bạc dư đó đều vào túi riêng. Nhưng hiện giữ chức đốc sông Phong Thăng Vận là môn hạ của Dận Đề, mình làm sao dám động tới. Rồi lấy tay vốc lên một nắm gạo xem màu sắc, không dám nói một tiếng. Khang Hy cũng vốc một nắm gạo, chà vào lòng bàn tay mà nhìn, khen rằng: “Vàng rộm như hạt vàng, quả là gạo tốt! Ông chủ ông có bao nhiêu đất? Làm sao mà phải lấy xe chở tiền về chất trong nhà?”

“Ông Trương Các nổi tiếng đó!” Ông già nói rất tự hào: “Đất làm sao ít được? Con số”, vừa nói vừa lấy ngón tay cái và tay út làm hiệu, Khang Hy suy nghĩ một lúc nói “À, sáu trăm mẫu đất”. “Ông quả là người nơi khác tới!” Ông già cười ha hả, “Sáu trăm khoảnh11! Thêm đất của tá điền chúng tôi, cộng thành hơn một ngàn khoảnh!”

Khang Hy không hiểu, hỏi: “Tá điền có đất thì có còn là tá điền? Đất của tá điền vì sao lại thêm vào cho đất ông Các?” Đang định hỏi thì Trương Đình Ngọc lại hỏi: “Thưa cụ, nhà cụ có đất, sao lại đi làm tá điền cho người ta? Phải tốn oan biết bao nhiêu là công sức?”

“Theo quy tắc của Đức Vạn tuế, ‘Cử nhân thân sĩ, tú tài thượng thư’ đều có thể miễn thuế”. Ông già nói nghiêm trang, “Anh em tôi ba người, chỉ có một đứa con, cháu, sau này ba anh em mà mất đi, phần thuế định theo mẫu của ba người sắp tới sẽ đổ vào đầu anh đó. Ông hãy tính xem, làm tá điền tốt hay tự mình cày cấy lợi hơn? Con người, phải thừa nhận số mệnh, phải biết tới đâu là đủ. Không có người ta, cây đại thụ đó, thì ông cháu tôi phải phơi lưng cho chảy dầu dưới ánh mặt trời độc địa!” Nói xong thở dài, bàn tay thô ráp đánh lửa, rít một hơi thuốc, tận hưởng cái hương vị, không nói gì nữa.

Báo cáo nội dung xấu