Hồi ký Lý Quang Diệu - Chương 39
39
TÌM KIẾM SỰ ỦNG HỘ Ở ÚC
New
Zealand là một đợt thay đổi không khí dễ chịu. Choo và tôi ngụ ở một khách sạn
nhỏ thật thú vị tại Auckland, nơi đây những cô hầu phòng người da trắng ăn mặc
y hệt như bên nước Anh thời sau chiến tranh, mang cho chúng tôi trà buổi sáng
cùng bánh mì và bơ trước khi dọn một bữa ăn sáng ê hề những bít-tết và sườn
cừu, nhưng chúng tôi không thích dùng. Chúng tôi đi xe từ Auckland đến
Wellington, mất hai đêm phải nghỉ dọc đường. Tại mỗi thị trấn dọc đường, thị
trưởng, trong bộ lễ phục như ở bên Anh, đã tiếp đón chúng tôi, chiêu đãi bữa
trưa hay tiệc trà, và phát biểu đón mừng.
Tại
Wellington, tôi đã ghé thăm Thủ tướng Keith Holyoake tại văn phòng của ông ở
nghị viện. Sau khi trò chuyện, ông đưa tôi đến gặp nội các của ông để có một
cuộc trao đổi quan điểm thân mật với nhau. Họ được bảo đảm rằng tôi khẳng quyết[38]ủng
hộ Malaysia. Họ đồng tình với quan điểm của tôi và ủng hộ giải pháp đa sắc tộc
cho các vấn đề của chúng tôi. Tại một bữa ăn trưa ở tòa nhà Quốc hội, Holyoake
phát biểu những lời thật thắm thiết. “Có những quan hệ còn hơn cả chuyện quân
sự ràng buộc New Zealand với Malaysia,” ông nói. Ông bày tỏ lòng ngưỡng mộ
trước sự tiến bộ của Singapore dưới thời của tôi và nói rằng tôi đã làm việc
không ngơi nghỉ để phục vụ cho một nước Malaysia mới, “một đất nước đang gặp
phải điều phiền phức bởi những khó khăn ngày càng tăng, điều mà các nước non
trẻ đều gặp phải – các khó khăn càng tăng thêm nữa trước những đe dọa bách hại
của người láng giềng khổng lồ, Indonesia. Tôi chắc chắn ngài Lee sẽ không dễ
dàng sợ hãi trước những dọa dẫm như vậy, và sẽ tiếp tục làm việc kiên trì để
đảm bảo sự ổn định, thịnh vượng và tiến bộ của một đất nước mà ông đã góp phần
tạo nên”. Như để nhấn mạnh lời đe dọa, trong lúc tôi còn đang ở Wellington, một
quả bom do các phần tử phá hoại Indonesia đặt đã phát nổ tại tòa nhà MacDonald
ở Singapore, nơi có Văn phòng Cao ủy Úc và trụ sở của Ngân hàng Hồng Kông và
Thượng Hải, làm chết 2 người và 35 người khác bị thương.
[38]
Không tìm ra định nghĩa chính thức của “khẳng quyết”, tuy nhiên từ này được sử
dụng trong một vài bài viết cũ, mang ý nghĩa “khẳng định” và “quả quyết”.
Ngày
hôm sau, tôi đã đến nói chuyện với sinh viên và ban giảng huấn trường Đại học
Victoria. Tôi có lời khâm phục nước Anh là đã có sự khôn ngoan để biết khi nào
thì mình bị đặt trước một cuộc cách mạng không thể cưỡng lại được do những
người cộng sản và những người quốc gia tổ chức. Thay vì cố gắng dập tắt cả hai,
nước Anh đã cho phép những người quốc gia đứng ra lãnh đạo khối phi cộng sản.
Từ
Wellington, chúng tôi bay đến Christchurch, đi xe đến Dunedin và Invercargill,
rồi bay trở lại Wellington. Tôi thấy New Zealand thật là hấp dẫn. Trong lời
nói, cử chỉ và cung cách sống, họ còn giống người Anh hơn cả người Úc. Đất nước
toàn một màu xanh và tươi mát, y như miền nam nước Anh. Và họ rất là thân tình,
hiếu khách.
Chặng
dừng kế tiếp của tôi là Sydney, chặng đầu tiên trong chuyến du lịch kéo dài 18
ngày trên đất nước Úc, đưa chúng tôi đến Canberra, Melbourne, Adelaide và
Perth. Tại Canberra, tôi đã phát biểu trước các thành viên của Câu lạc bộ báo
chí quốc gia. Cuộc chiến đối đầu của Indonesia là quan tâm rất lớn của họ:
“Chúng
tôi có chung một người láng giềng, có dân số lớn hơn cả hai chúng tôi cộng lại,
nghèo hơn cả hai chúng tôi, và rất có thể là một đất nước bất ổn trong cả một
thời gian dài sắp tới… Chúng ta biết rằng viện trợ kinh tế và quân sự không thể
đảm bảo cho chúng tôi một thắng lợi sau cùng, nhưng chí ít nó cũng sẽ cho chúng
tôi có được thời gian.”
Nhưng
tình hình tại Nam Việt Nam cho thấy bất kể chuyện yểm trợ quân sự có ồ ạt đến
đâu, viện trợ kinh tế có to lớn cỡ nào, nếu các nhà lãnh đạo không biết lo cứu
lấy chính mình, kết quả cuối cùng cũng vẫn sẽ là sự diệt vong, cho cả người
giúp lẫn kẻ được giúp. Tôi nói:
“Giới
lãnh đạo Malay tại Malaysia càng huyên thuyên về chủ nghĩa quốc gia Malay bao
nhiêu, những người không–Malay tại Malaysia sẽ càng nghi ngại về tương lai của
họ bấy nhiêu. Về mặt lý thuyết, sẽ có ba khả năng nếu như vẫn tiếp tục không
chia tách:
(1)
Malaysia bị một cường quốc thứ ba thu phục;
(2)
Một cộng đồng chiếm ưu thế hơn những cộng đồng khác tại Malaysia; hoặc
(3)
Dần dần đi đến tan rã và cuối cùng là chia cắt.
Cả
ba đều có những hệ quả tai hại.
Đám
đông các ký giả và các nhà ngoại giao đã vỗ tay tán thưởng sự thẳng thắn và ý
nghĩ thực tế của tôi.
Sau
đó tôi gặp Thủ tướng Robert Menzies. Menzies rất có ảnh hưởng đối với Tunku.
Khác với Harold Wilson, ông là một người thuộc đảng Bảo thủ, và luôn luôn ủng
hộ Tunku. Tunku đã nói về ông ta với những lời rất là nồng thắm, và nếu giờ đây
Menzies hối thúc Tunku tìm kiếm một giải pháp cho Malaysia thông qua sự dàn xếp
chính trị chứ không phải vũ lực, có thể ông ta dễ thành công hơn là Wilson. Ông
ta chú ý đến những gì tôi nói và cuộc họp của chúng tôi đã kéo dài đến 75 phút,
gấp đôi số thời gian dự định. Sau đó ông ta đã đưa tôi đến gặp toàn thể nội các
của ông để có những cuộc trò chuyện thân mật cùng nhau.
Tôi
giải thích những áp lực mà Tunku đang phải chịu đựng. Sukarno đang hết sức lôi
kéo người Malay tại Malaysia, một số lớn đó là những người trở về từ Sumatra và
Java cách đây không lâu. Nhưng bởi vì phải đánh bạt được áp lực của chủ nghĩa
liên Malay của Sukarno, nên Tunku đang làm mất lòng người Hoa và người Ấn. Điều
quan trọng là ai đó được ông ta tin cậy, như Menzies chẳng hạn, phải giải thích
cho ông ta hiểu rằng tương lai về lâu về dài không phải là sự ngồi xổm lên đầu
người Hoa hay người Ấn, mà là dành cho họ một chỗ đứng dưới ánh mặt trời tại
Malaysia. Tôi vạch rõ là ba chủng tộc chính tại Malaysia – người Malay, người
Hoa và người Ấn – đều có nguồn cội văn hóa từ ngoài Malaysia, tức là từ
Indonesia, Trung Hoa và Ấn Độ. Lãnh đạo của những nước này có thể lôi kéo được
mối dây tình cảm cũng không thua gì, nếu không muốn nói còn hơn cả, các nhà
lãnh đạo Malaysia. Menzies đồng tình. Ông nhận phân tích của tôi là nghiêm túc
và yêu cầu tôi đưa ra ý kiến về những gì tôi xem là giải pháp cho vấn đề. Tôi
hứa sẽ làm việc này khi trở về Singapore. Các cuộc họp giữa tôi và ông cùng nội
các của ông không được các báo ở Malaysia đăng tải, có lẽ để tránh gây khó chịu
cho Tunku.
Đó
là một chuyến đi cam go. Tại mỗi thành phố tôi đều có phát biểu, trả lời phỏng
vấn trên truyền thanh và truyền hình, và nói chuyện tại các trường đại học và
với giới báo chí. Nhưng việc đó đáng bỏ công ra làm. Tôi đã trình bày một bức
tranh hiện thực về Malaysia và khiến cho người Úc cũng như New Zealand hiểu rõ
rằng chúng tôi cần và đánh giá cao sự giúp đỡ của họ, rằng giúp chúng tôi là họ
đúng, và đoàn kết cùng nhau, chúng tôi có thể thành công.
Khi
trở về Singapore vào ngày 3/4, tôi được biết các nhà lãnh đạo Liên hiệp đang
tức giận lên, viện lẽ tôi đã phê phán chính phủ liên bang và Tunku. Ngay lúc
tôi còn ở Úc, V.T. Sambathan, lãnh tụ MIC và là Bộ trưởng Bưu chính, viễn thông
và công chính của Tunku, đã công kích tôi là “nói không đúng” về Liên hiệp. Ông
nói rằng tôi đã có những gì tôi cần, ấy là Malaysia, và giờ đây đang nói về
chính quyền cứ như thể chẳng biết gì về chính trị, và đang được điều hành bởi
những ông hoàng, vua chúa và tù trưởng vậy. Thế nhưng tôi không nói những điều
này trong bất kỳ bài phát biểu nào của mình.
Khi
các cuộc công kích tôi tiếp diễn trên các báo Malaysia, nhiều người Úc và New
Zealand đã lên tiếng trên tờ Straits Times để bênh vực cho
tôi. Một nhà báo Úc phản đối rằng ông đã nghe nhiều cuộc nói chuyện của tôi tại
các trường đại học, và chưa lần nào ông nghe thấy tôi có nói bất cứ điều gì chê
bai các nhà lãnh đạo Malaysia cả. Chủ tịch Hội Nghiên cứu châu Á của đại học
Victoria ở Wellington cũng viết trên báo nói rằng ông thật ngạc nhiên khi nghe
các báo cáo từ Malaysia nói là tôi bị chỉ trích vì “có những phát biểu vô trách
nhiệm công kích các nhà lãnh đạo của chính phủ trung ương”, ông chưa hề nghe có
điều gì cho thấy những chỉ trích như vậy là đúng cả.
Chẳng
qua tội lỗi đầu tiên của tôi dưới mắt các nhà lãnh đạo liên minh chính là vì
tôi đã nhận được cảm tình của báo giới New Zealand và Úc. Họ cũng biết qua các
cao ủy Malaysia ở Wellington và Canberra là tôi đã được Thủ tướng và nội các
của hai nước tiếp đón nồng nhiệt. Nhưng bất bình chính yếu của họ là lập luận
và phân tích của tôi về tình hình đã có ảnh hưởng đối với cả hai chính quyền.
Sau một loạt lời cáo buộc là đã nói xấu ông hoàng, các Bộ trưởng của ông và đất
nước Malaysia nói chung, tôi đã đưa ra một tuyên bố rằng tất cả những gì tôi đã
nói đều có ghi lại trong băng từ, hiện có sẵn đây để kiểm tra, và tôi chịu
trách nhiệm từng chữ từng lời trong đó. Tôi đặc biệt phủ nhận chỉ trích của
Tiến sĩ Lim Swee Aun của MCA, Bộ trưởng thương mại và công nghiệp, cho rằng tôi
bảo chính phủ trung ương chỉ lo cho người Malaysia, và tôi cũng cho công bố
nguyên văn trích đoạn những gì tôi đã phát biểu về các đặc quyền của người
Malay khi trả lời câu hỏi của một sinh viên Malaysia ở Adelaide:
“Không,
tôi không nghĩ vấn đề lúc này là điều khoản cho phép người Malay có những đặc
quyền… Và nếu các cộng đồng người nhập cư có nguồn gốc nhập cư không nhận ra
vấn đề, nếu họ không cảm được việc đời sống của một người Malay nghèo nghĩa là
gì, và không thông cảm với phận nghèo ấy, thì tôi nói ngay được là anh ta sẽ
biểu lộ bất mãn của mình bằng một phương cách rất dứt khoát và toàn bộ đất nước
sẽ bị rơi vào hỗn loạn.”
Điều
tôi muốn nói không phải là các đặc quyền dành cho người Malay, mà chính là
chuyện chúng không giải quyết được vấn nạn, bởi chúng chỉ có lợi cho một số
người bên trên:
“Cấp
giấy phép điều hành các công ty xe buýt hay giấy phép lái xe buýt cho một hoặc
hai trăm gia đình Malay thì giải quyết được nạn nghèo đói của người Malay thế
nào được? Người Malay là những người nông dân. Tại Úc và New Zealand, nông gia
là những người có tiền của. Mà sao ở Malaysia nông dân lại nghèo? Bởi
không có nghiên cứu nông nghiệp, chọn giống, phân bón, cải tiến kỹ thuật xen
canh, thì làm sao phát triển canh tác nông sản hàng hóa?”
Tuyên
bố của tôi được đăng trên các báo tiếng Hoa và tiếng Anh, nhưng không được đăng
trên các báo Malay. Nó cũng chẳng được phát trên Đài Truyền thanh và Truyền
hình Malaysia. Trong chừng mực người Malay có thể nhận được thông tin thì tôi
đã không có cơ hội lên tiếng phủ nhận được, và tờ Utusan Melayu đã
có thể tiếp tục khuấy đảo công chúng chống lại tôi.
Tunku
giận lắm và cảnh cáo các nhà lãnh đạo Singapore rằng chính phủ trung ương sẽ
không để bị bất kỳ chính quyền bang nào thúc bách về bất kỳ vấn đề gì. Ông nói,
Singapore đã gia nhập Liên bang “với con mắt mở lớn và theo ý muốn của họ”. Ông
nói thêm:
(Singapore)
“có thể bị biến thành một Cuba thứ hai và tình thế đó đối với chúng ta là không
phòng vệ được… và đó là lý do tại sao chính phủ trung ương đã ủng hộ PAP. Với
việc PAP cầm quyền, chúng ta nghĩ đến chuyện Singapore an toàn thoát khỏi tay
của những người cộng sản. Thế nhưng chúng ta không nhận thức rõ lắm rằng lãnh
tụ của PAP đã nghĩ tới chuyện chia sẻ công việc lèo lái đất nước Malaysia. Điều
này chúng ta xem là khó có thể chấp nhận được bởi Liên hiệp đủ mạnh để tự tay
lèo lái lấy đất nước của mình.”
Hai
tuần sau khi trở về Singapore, tôi viết một bức thư gửi ngài Robert Menzies tóm
tắt những khó khăn trong việc làm cho một xã hội đa chủng tộc như Malaysia phát
triển tốt đẹp. Trong thư này, đề ngày 20/4/1965, tôi trình bày tình thế mà các
đồng nghiệp và tôi đã nhận định được vào tháng 4/1965. Chúng tôi cảm thấy rất
rõ rằng nếu mọi việc cứ như bây giờ, tất sẽ có chuyện không hay xảy ra.
Trả
lời của Menzies vào tháng 5/1965 có tính chất ủng hộ nhưng cũng thể hiện đầy
cân nhắc:
“Tôi
có thể cam đoan với ông rằng tôi muốn thấy, vì lợi ích của tất cả chúng ta, một
giải pháp thân thiện và hợp lý, một giải pháp tôi dám chắc sẽ giúp Malaysia trở
thành một cấu trúc sinh động và an toàn. Cùng lúc đó, tôi muốn nhấn mạnh đến sự
nhẫn nại như một bạn đường luôn luôn có mặt bên cạnh các năng lực tuyệt vời của
ông.
Tôi
thấy không cần phải nói với ông rằng, nếu ảnh hưởng của riêng tôi mà có được
tầm quan trọng, thì tôi không được có bất kỳ xét đoán trước nào cả, và nhất
thiết không để người khác nghĩ rằng có vẻ như tôi đã làm vậy.”
Ông
thừa nhận chính phủ Úc sẽ khó thuyết phục được cử tri của mình lý do tại sao họ
nên bảo vệ một chính phủ Malay vốn đang đàn áp những người không–Malay – những
người không–Malay đã sẵn lòng gia nhập Liên bang có một hiến pháp đa chủng tộc
mà Tunku và Razak đã đồng ý tại London vào tháng 7/1963.