Hồi ký Lý Quang Diệu - Chương 40 phần 1

40

CHIẾN DỊCH “ĐÈ NÁT LEE”
CỦA UMNO

Bên
dưới những trao đổi ngày càng gay gắt giữa Singapore và Kuala Lumpur là cuộc
xung đột sâu xa và căng hơn giữa Tan Siew Sin và Keng Swee. Tan toan tính ngăn
chặn tiến bộ kinh tế của Singapore, và điều này thể hiện rõ qua việc cấp chứng
nhận tiên phong. Ủy ban phát triển kinh tế Singapore (EDB) đã phải trình Kuala
Lumpur phê duyệt đơn của các nhà đầu tư tương lai trên hòn đảo này xin được cấp
chứng nhận tiên phong, vốn sẽ cho phép họ được hưởng quy chế miễn thuế từ năm
đến mười năm. Nhưng trong suốt hai năm nằm trong khối Malaysia, chỉ có 2 trong
69 đơn là được duyệt, một trong hai giấy phép đó lại kèm theo quá nhiều hạn
định nên nó gần như một lời từ chối. Để cản trở Singapore hơn nữa, ngày 16/2,
Tan công khai khuyên các nhà công nghiệp hãy tham khảo ý kiến chính phủ trung
ương trước khi đầu tư vào Singapore nhằm tránh tình trạng “thất vọng và hiểu
lầm” do giả định và tính toán sai. Ông ta lại còn nói thêm rằng “các bảo đảm do
chuyên gia (ở Singapore) đưa ra không cứ luôn luôn là khả thi”.

Không
thỏa mãn với chuyện ngăn chặn chúng tôi, Tan còn muốn chiếm luôn toàn bộ hạn
ngạch dệt của chúng tôi. Chính phủ liên bang đặt ra hạn ngạch vải vóc và quần
áo may sẵn trong khi họ thậm chí chẳng có xưởng sản xuất nào cả. Trong khi đó,
ba nhà máy dệt của Singapore bắt buộc phải giảm bớt gần 2.000 công nhân. Keng
Swee nói một cách mỉa mai rằng Singapore đang bị đối xử không phải như một tiểu
bang thành viên của Malaysia mà như một đối thủ nguy hiểm cần hạ gục bằng bất
cứ giá nào. Chính phủ trung ương muốn sử dụng hạn ngạch của Singapore để thiết
lập một công nghiệp dệt may tại Malaysia trong khi lại tước đi cơ hội kiếm lại
được việc làm của bao nhiêu công nhân ngành may Singapore đang bị thất nghiệp.
Cuối cùng, dưới áp lực tế nhị của Antony Head, Kuala Lumpur đã phải ê chề trả
lại hạn ngạch đó cho Singapore. Đến lúc đó thì Keng Swee tin rằng không những chúng
tôi sẽ không thể có được một thị trường chung, mà Tan sẽ còn tìm cách thu hút
tất cả các đầu tư công nghiệp qua Malaysia bất kể các nhà đầu tư muốn gì. Ông
ta cảm thấy thất vọng hết sức.

Keng
Swee ghi lại điều này năm 1981 như sau:

“Tan
Siew Sin đã đích thân quấy rối chúng tôi. Tan rất ghét Singapore và đố kị với
ông Lee. Ông ta xem PAP là mối đe dọa cho sự lãnh đạo người Hoa của MCA trên
bán đảo (Malaysia) và do đó không muốn Singapore thành công. Họ (các Bộ trưởng
thuộc đảng MCA gồm Tan và Lim Swee Aun) đã hành động với niềm tin xấu xa. Và đó
là lý do tại sao chúng tôi ở lại trong Liên bang Malaysia lâu chừng nào, thì
chúng tôi lại càng nghi ngờ tính đúng đắn của những chuyện mình đã làm chừng
đó.”

Thế
rồi Keng Swee đề cập tới một cuộc nói chuyện giữa ông với Lenard Rist, chuyên
viên của Ngân hàng Thế giới đang tư vấn cho các chính phủ Malaysia và Singapore
về thị trường chung. Ông này từng khuyến cáo rằng nó phải được thực thi qua các
giai đoạn liên tiến.

Keng
Swee hỏi: “Giả sử ông ta (Tan) không chịu vào cuộc và thị trường chung không
đạt được bước tiến nào – thì điều gì sẽ xảy ra?”

Rist
trả lời: “Trong trường hợp đó, thưa ngài Bộ trưởng, không chỉ thị trường chung
sẽ bị nguy hiểm, mà toàn bộ khái niệm Malaysia cũng gặp nguy cơ luôn.”

Keng
Swee đã tan mộng hoàn toàn. Mặc dù ông đã chống việc chúng tôi tham gia vào
cuộc tuyển cử năm 1964 tại Malaysia, nhưng giờ đây ông thừa nhận việc đó như
chúng tôi, bởi việc đó cho phép chúng tôi tập hợp được dư luận chính trị, một
điều có thể hãm bớt những việc làm thái quá của chính quyền trung ương. Ông đã
từ bỏ mọi hy vọng hợp tác, không còn mong đợi điều gì tốt đẹp từ Malaysia nữa.
Mà ông còn e ngại sẽ gặp những gay go bất tận nữa. Nỗi sầu của ông ta đã khiến
Chin Chye quyết tâm tạo một đối trọng với sự độc đoán của trung ương. Sự ác ý
của Tan là một trong những lý do chính khiến chúng tôi phải vận động quần chúng
trên cùng khắp Liên bang.

Vấn
đề chủng tộc đã làm lu mờ mọi điều khác. Trong một kỳ họp của quốc hội liên
bang vào tháng 11/1964, Tiến sĩ Lim Chong Eu, đại biểu Quốc hội và là lãnh tụ
của đảng đối lập Dân chủ Thống nhất (UDP) trụ sở chính ở Penang, đã bày tỏ lòng
ái ngại của ông với tôi về hai vụ bạo loạn chủng tộc mà chúng tôi đã gánh chịu
tại Singapore. Ông nói ông cũng đã trải qua chuyện đó rồi. Từ mô tả của ông về
những rối loạn tại Penang trong thập niên 1950, tôi nhận ra những gì Albar và
những người Thổ Nhĩ Kỳ của đảng UMNO đã áp dụng ở Singapore là một phương pháp
đã từng qua thử nghiệm. Cảnh sát và quân đội vây quanh, đồng thời cứ để mặc cho
các tay bạo loạn Malay – thường là các nhóm võ thuật (bersilat), bọn ác
ôn và các tay găng-tơ được tự do hoành hành. Một khi cuồng vọng đã dâng cao, và
có đủ một số người Hoa phản ứng lại, thì ngay cả một người Malaysia bình thường
cũng nhập bọn luôn. Khi người Hoa đánh trả, họ liền bị cảnh sát và quân đội dập
ngay, luật pháp và kỷ cương được thi hành để chống họ, chứ không phải người
Malay. Kết quả là dân chúng trở nên ủ rũ và nhút nhát.

Chúng
tôi đã thoát khỏi thế đối đầu với người cộng sản để rồi chạm trán những tay kỳ
thị sắc tộc Malay còn tồi tệ hơn. Chúng tôi đã phải tìm cách đối đầu lại guồng
máy răn đe thông qua các vụ bạo loạn chủng tộc như vậy, với bao cảnh người
Hoa bị giết và bị tật nguyền mỗi khi họ dám cả gan chống lại sự thống
trị của người Malay. Chúng tôi quyết định cách phòng vệ hay nhất là liên kết
các phe đối lập tại tất cả các tỉnh thành trong Liên bang thành một mạng lưới,
để khi bạo loạn nổ ra tại một thành phố lớn sẽ kéo theo bạo loạn tại những nơi
khác tới một mức mà cảnh sát và quân đội sẽ chẳng thể nào ứng phó được, và mọi
chuyện sẽ trở nên ầm ĩ và lộn xộn. Do đó, chúng tôi tiến hành vận động những
người đau khổ có thể cùng nhau gắn bó cho công cuộc chống đe dọa này. Nếu chúng
tôi có thể tìm ra những người như thế ở Sabah và Sarawak lẫn ở nội địa, thì
người Hoa ở Kuching, Sibu và Jesselton (giờ được đổi tên là KotaKinabalu) cũng
sẽ bạo loạn theo, và bất kỳ dọa dẫm chủng tộcnào của Kuala Lumpur cũng sẽ rước
lấy cái họa là làm Malaysia tan rã.

Các
vận động của chúng tôi không tránh khỏi bị để ý. Vào ngày 24/4/1965, Tunku đưa
ra bài phát biểu rằng mình đang có những kế hoạch để liên kết cánh đối lập lại.
Ông biết những người không–Malay đang kết hợp lực lượng để đòi một Malaysia đa
chủng tộc, chống lại một Malaysia của người Malay, và ông nghĩ tôi là người cầm
đầu. Ông cảnh cáo: “Thế nhưng, dân chúng phải nghiên cứu con người này trước
khi trao trái tim và khối óc của mình cho bất kỳ một hành động nào như vậy.
Liên hiệp và ông Lee Kuan Yew đã hợp tác với nhau vì Malaysia, nhưng chúng tôi
thấy khó có thể tiếp tục được nữa rồi.” Tunku có lý do đúng để lo âu. Các nghị
viên đối lập trong quốc hội liên bang đang ngày càng trở nên chột dạ khi nghe
thấy những bài phát biểu có tính chất kỳ thị chủng tộc của Albar và các nhà
lãnh đạo trẻ của UMNO. Tiến sĩ Lim Chong Eu của đảng UDP ở Penang, hai anh em
nhà Seenivasgam của Đảng Nhân dân Tiến bộ (PPP) tại Perak, Ong Kee Hui và
Stephens Yong của Đảng Nhân dân Thống nhất Sarawak (SUPP) và Donald Stephens và
Peter Mojuntin của Tổ chức Pasok Momogun Kadazan Thống nhất (UPKO) tại Sabah
đều có những đề nghị liên kết với PAP.

Tiến
trình này xảy ra vào tháng Giêng khi Tiến sĩ Lim, rồi Stephens đến gặp tôi.
Chưa có cuộc họp nào trong cả hai lần ấy đạt được trọn vẹn điều gì. Tiến sĩ Lim
muốn tôi làm chủ tịch hiệp hội người tiêu dùng của ông để khai sinh ra một mặt
trận thống nhất rộng rãi bao gồm tất cả các đảng phái phi kỳ thị sắc tộc tại
Malaysia. Tôi từ chối. Nếu chúng ta hợp tác với nhau, điều đó phải được làm
công khai, chứ không phải kiểu lập lờ thông qua một hiệp hội người tiêu dùng,
bằng không chúng ta sẽ đánh mất sự tín nhiệm. Stephens đề nghị tách khỏi Liên
hiệp, bản thân ông cũng từ bỏ chức vụ Bộ trưởng sự vụ Sabah trong chính quyền
Liên bang, và cho các thành viên UPKO của ông từ chức khỏi nội các Sabah để chuẩn
bị cho kỳ tuyển cử sắp tới của tiểu bang này. Ông muốn PAP hợp nhất với UPKO
trước, để giúp ông giành được phiếu của người Hoa tại các thành phố, và do đó
đảm bảo cho ông thế đa số trong Quốc hội bang Sabah. Thân sinh của ông là người
Úc, mẹ là người Kadazan; ông là một nhà báo to con, lịch sự, ham vui, ông có cả
một tờ báo tại Sabah. Ông đã làm tổng ủy viên (chức vụ ở một thuộc địa tự trị
tương đương Thủ tướng) cho đến khi gia nhập chính quyền liên bang. Ông là con
người năng lực nhất trong số những người Kadazan cùng thời. Nhưng ông lại không
quan tâm lắm tới kế hoạch rộng lớn của tôi về một mặt trận thống nhất có sự
tham gia của những đảng đối lập khác.

Mặc
dù có những bước khởi đầu không mấy thuận lợi, tôi vẫn gửi thư cho các Bộ
trưởng:

“Nếu
chúng ta để lỡ dịp này, thì có thể phải mất mấy năm nữa chúng ta mới có thể
kiếm lại được cơ hội quá tốt như vậy để liên minh các lực lượng trong Malaysia
lại được. Mặt khác, việc tiến hành liên minh các đảng phái phi sắc tộc như vậy
phải có nghĩa là một sự đối lập rộng lớn của những người không–Malay chống lại
khối chính phủ Liên hiệp do những người Malay trong UMNO lãnh đạo. Một khi đã
có hô hào về một hiệp ước như thế và một phản ứng dây chuyền đã khởi lên trong
tâm trí của mọi người, chúng ta có thể chắc rằng cuộc đấu tranh sẽ nhanh chóng
trở nên quyết liệt và rộng lớn.”

Khi
UMNO đã cư xử với chúng tôi như địch thủ và rõ ràng sẽ không chịu hợp tác với
chúng tôi, thì trì hoãn một quyết định như vậy là lãng phí thời gian. Trong
chừng mực có liên quan tới UMNO, cuộc chiến còn tiếp tục, và trừ phi chúng tôi
tập hợp được sức mạnh để đối đầu, bằng không UMNO sẽ cứ đi theo con đường của
họ.

Vào
ngày 12/3, các lãnh tụ đối lập Malaysia đã gặp Chin Chye, Raja và tôi tại Sri
Temasek ở Singapore, và lần nữa vào ngày 1/3 ở Nhà khách Singapore tại Kuala
Lumpur,

tại đây, Stephens đã đến bằng xe công vụ có
gắn cờ và một vệ sĩ đi kèm. Chúng tôi nghĩ ông ta khá can đảm để làm việc này,
cho đến khi Tunku đưa ra lời phát biểu vào ngày 24/4 lúc chúng tôi suy diễn
rằng chính Stephens đã tiết lộ kế hoạch này của chúng tôi cho Tunku biết. Chúng
tôi quyết định phải thật cẩn thận và đã cử Lee Khoon Coy cùng Eddie Barker (ông
này là bạn cũ của tôi và cũng là người cùng góp vốn trong công ty Lee & Lee,
khi ấy đang là Bộ trưởng Tư pháp) đến Sarawak và Sabah để đánh giá tình hình
tại những nơi này. Họ trở về và thuyết phục chúng tôi rằng không nên mở các chi
nhánh PAP tại Sarawak. Người Hoa ở đây rất khuynh tả y như thời của đảng
Barisan tại Singapore, họ cũng đang còn bất mãn vì bị tống bừa vào Malaysia và
việc PAP tiếp tay khai sinh ra liên bang này. Tại Sabah, chúng tôi dễ kiếm được
sự ủng hộ của người Hoa và mở các chi nhánh tại đây được, nhưng chúng tôi phải
hình thành thế liên minh với đảng UPKO của Stephens, một đảng được người
Kadazan chiếm đa số ủng hộ. Tôi quyết định không trực tiếp vận động tại Đông
Malaysia mà làm việc với các lãnh tụ đối lập hiện tại ở đó. Chin Chye đã mời họ
đến Singapore vào ngày 8/5. Stephens vắng mặt, nhưng lãnh tụ của các đảng UDP,
PPP và SUPP của Sabah và đảng Machinda của Sarawak có đến dự và cùng ký vào một
bản tuyên bố kêu gọi cho một đất nước Malaysia của người Malaysia:

“Một
đất nước Malaysia của người Malaysia có nghĩa là một đất nước không vì chủ
quyền, sự thịnh vượng và lợi ích của bất kỳ một chủng tộc hay cộng đồng riêng
rẽ nào. Một Malaysia của người Malaysia là một phản đề của Malaysia của người
Malay, một Malaysia của người Hoa, một Malaysia của người Dayak, một Malaysia
của người Ấn hay một Malaysia của người Kadazan, vân vân. Lợi ích chuyên biệt và
hợp pháp của các cộng đồng khác nhau phải được tôn trọng và khuyến khích trong
khuôn khổ quyền hạn, lợi ích và trách nhiệm tập thể của tất cả các chủng tộc.

Xu
hướng ngày càng tăng nơi một số nhà lãnh đạo là công khai kêu gọi chủ nghĩa dân
tộc hẹp hòi, nhằm lôi cuốn sự ủng hộ, đã khiến họ dần dần đi đến chỗ gần như
khước từ khái niệm một đất nước Malaysia của người Malaysia… Nếu dân chúng bị
bài xích và kết án là không giữ lòng trung thành chủng tộc bởi họ đã tìm ra cơ
sở chung cho hành động chính trị cùng với những người Malaysia thuộc các chủng
tộc khác, thì cái tự nhận là mối quan tâm tới một Malaysia của người Malaysia
tất sẽ rất đáng ngờ.”

Bản
tuyên bố kết luận:

“Một
Malaysia của người Malaysia là một cuộc đấu tranh xứng đáng bởi chỉ có một đất
nước Malaysia như thế thì mới có được tương lai sáng sủa và đàng hoàng cho tất
cả những người Malaysia. Chính trên tinh thần và kỳ vọng này mà chúng tôi,
những người ký tên dưới đây, kêu gọi mọi người dân Malaysia hãy ủng hộ công ước
này.”

Mặc
dù trong suốt thời gian này tôi thường không có mặt, lúc dự Hội nghị thanh niên
Xã hội chủ nghĩa ở Bombay, rồi sang viếng thăm Lào và Campuchia, nhưng UMNO vẫn
khẳng quyết tôi là kẻ xúi giục đứng đằng sau công ước, và đã tấn công tôi kịch
liệt. Albar và tờ Utusan Melayu đã có những lời lẽ buộc tội
ngông cuồng hơn. Tức giận vì một bài báo đăng trên tờ London Observer, Albar
đã gửi một thư ngỏ đến cho Dennis Bloodworth, phái viên Viễn đông của tờ báo
này, vào giữa tháng 4. Thư này được đăng trên tờ Utusan và có
đoạn như sau:

“Như
ông cũng biết, người Malay đang gặp một thời kỳ khó khăn tại Singapore và giờ
đây đang bị đảng PAP áp chế. Lee Kuan Yew đang liên tục thách thức tình cảm dân
tộc của họ bằng những tuyên bố khiêu khích, mặc dù vậy, không phải chính người
Malaysia đã gây ra những cuộc bạo loạn vào năm 1964. Những cuộc bạo loạn đó là
do những kẻ kích động thuộc loại mật vụ, những kẻ thậm chí có lẽ đang
ăn lương của Lee Kuan Yew. Chủ tâm của Lee là tạo ra hỗn loạn tại Singapore
chính vào lúc mà người Malay đang tụ tập để làm lễ mừng ngày đản sinh của đấng
Mohammed, nhằm làm cho thế giới có ấn tượng rằng người Malay đã bị ảnh hưởng
của Indonesia.”

Tôi
quyết định kiện ông ta vì tội bôi nhọ nhằm chặn đứng những luận điệu quá đáng
đó, và các luật sư của tôi đã hỏi ý kiến của một luật sư hàng đầu ở London. Ông
này khẳng định đó là một lời phỉ báng, và khi Albar cùng Utusan từ
chối xin lỗi và rút lại lời nói, các cố vấn pháp luật của tôi đã đệ đơn kiện
họ. Trong các chứng lý của mình, họ giải thích rõ hàm ý phỉ báng nằm ở chỗ muốn
nói tôi là một kẻ đạo đức giả, một kẻ thù, một kẻ phản bội đối với quê hương
mình, một tội nhân có trách nhiệm đối với các rối loạn và tai biến do bạo loạn,
dẫn đến thương tích và tử vong cho dân chúng, và vì đó tôi không đáng là Thủ
tướng của Singapore.

Trong
vụ kiện này, tôi cho trích một bài của tờ Utusan đăng vào ngày
25/3/1965: “Lee bị buộc tội là kẻ thù của Malaysia và là mật vụ của Indonesia.
PHẢI BƯỚC QUA XÁC CHẾT CỦA TÔI TRƯỚC ĐÃ – ALBAR… Tuan Syed Ja’afar Albar, tổng
thư ký của UMNO Malaysia tối qua đã tố cáo Thủ tướng Singapore, ông Lee Kuan
Yew, là kẻ thù của Malaysia và là gián điệp của Indonesia.” Tôi cũng trích một
bài đăng vào ngày 27/3: “Albar tố cáo Kuan Yew là gián điệp của cộng sản… Thủ
tướng Singapore, ông Lee Kuan Yew, gián điệp của cộng sản và chính quyền
Jakarta, có chủ tâm xấu xa là phá hoại đất nước Malaysia và kích cho người Hoa
và người Malay chống lại nhau.”

Giờ
đây tất cả những lời lẽ ấy đều sẽ được tòa xem xét, nên họ trở nên thận trọng
hơn. (Năm 1966, sau khi chia tách, Albar và tờ Utusan đã đồng
ý xin lỗi trước tòa thông qua các luật sư của họ và chịu mọi án phí.)

Tôi
không chỉ dùng lý lẽ đập vào dã tâm của Albar, mà lời lẽ của tôi cũng còn đạt
được sự đồng tình của các nhà lãnh đạo thứ cấp của UMNO. Trước sự sửng sốt của
Albar, bí thư UMNO ở Perlis, bang cực bắc của Malaysia, đã nồng nhiệt chào đón
lời tuyên bố của tôi, bằng cách nhắc lại lập luận của tôi rằng các đặc quyền
dành cho người Malay sẽ chỉ có lợi cho một nhóm nhỏ những người có tiền của,
trong khi điều cần thiết là làm sao cho đại đa số người Malay chân lấm tay bùn
ở nông thôn gia tăng khả năng kiếm tiền.

Thế
rồi Razak đã tấn công tôi về một “phát biểu” tôi chưa từng nói và cũng đã từng
phủ nhận một phát biểu như thế – ấy là người Malay không phải là dân bản địa
của đất Malaysia. Sau khi cho rằng lời nói như vậy là ác tâm và hiểm độc, ông
đã đưa ra tối hậu thư rằng chính phủ Liên hiệp sẽ không làm việc với tôi nữa và
“nếu dân chúng Singapore muốn duy trì quan hệ với chúng tôi, họ phải tìm một
nhà lãnh đạo khác, một người thành thực.” Hai ngày sau, một nhóm thanh niên
UMNO tại Kuala Lumpur đã đốt hình nộm của tôi, và vào ngày 16/5, một nhóm khác
đã vây quanh Viện Ngôn ngữ, nơi sắp diễn ra đại hội của UMNO. Họ mang những
biểu ngữ bằng tiếng Malay như “Hãy đình chỉ Hiến pháp Singapore”, “Hãy nhốt Lee
Kuan Yew lại”, “Bóp chết Lee Kuan Yew ”, và khi Tunku đến, họ la lên: “Hãy nhốt
Lee Kuan Yew lại”, “Hãy nhốt Lee Kuan Yew!” Tại cuộc họp, nhiều đại biểu đòi
tống giam tôi, nhưng Ismail bảo: "Đây không phải là cách làm việc ở Malaysia.
Chúng ta phải hành động theo hiến pháp.” Tunku sau đó đã mô tả phát biểu bị gán
cho tôi rằng người Malay không phải dân bản địa là ấu trĩ, mà quên rằng tôi
chưa hề phát biểu như vậy bao giờ.

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3