Hồi ký Lý Quang Diệu - Chương 02 phần 2

Học
trình ở đây chuẩn bị cho các học sinh tham dự những kỳ thi toàn đế quốc Anh để
lấy bằng Trung học đệ nhất cấp Cambridge và Trung học đệ nhị cấp Cambridge. Các
sách giáo khoa, nhất là sách về ngôn ngữ Anh, văn chương Anh, lịch sử đế quốc
Anh, toán và địa lý là loại tiêu chuẩn cho mọi thuộc địa mà tôi chắc là cũng
phỏng theo sách giáo khoa chuẩn của Anh. Việc giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng
Anh. Nhiều năm sau, bất cứ lúc nào tôi gặp các nhà lãnh đạo trong Khối Thịnh
vượng chung[4] từ
những xứ xa xôi như quần đảo Caribbean hay vùng Thái Bình Dương, tôi đều khám
phá ra rằng họ cũng từng đi qua một quá trình rèn luyện như tôi với cùng những
cuốn sách giáo khoa và có thể trích ra cùng những đoạn thơ của Shakespeare.

[4]
Khối Thịnh vượng chung Anh (British Commonwealth): tổ chức của các nước độc lập
vốn thuộc Đế quốc Anh trước đây; vẫn xem Anh như lãnh đạo mang tính biểu tượng.
Tổ chức có 50 thành viên vào năm 1991.


bốn cấp lớp trong trường trung học: lớp 6 và lớp 7, rồi đệ nhất cấp Cambridge
và đệ nhị cấp Cambridge. Tôi không phải loại chăm chỉ lắm nhưng tôi khá môn
toán, khoa học và có căn bản tiếng Anh vững chắc. Do đó, cuối năm lớp 6, tôi
nằm trong số những học sinh giỏi và được xếp vào lớp 7A, ở đây tôi không cần cố
gắng lắm cũng nằm trong tốp ba người dẫn đầu lớp. Tôi vẫn không chú ý lắm trong
lớp học và cố gắng bắt kịp bằng cách liếc vào tập của bạn ngồi cạnh. Teo Kah
Leong không những đứng đầu lớp mà bạn ấy còn giữ tập vở rất đẹp. Nhưng nó
thường lấy tay che vở lại. Tuy vậy, giáo viên phụ trách lớp của tôi, ông M.N.
Campos người Ấn, vẫn phê trong học bạ của tôi những lời khen và khuyến khích:
“Harry Lee Kuan Yew có quyết tâm giành một vị trí nổi bật, có thể đạt địa vị
cao trong cuộc sống.”

Tôi
lên lớp đệ nhất cấp A, lớp giỏi nhất trong khối. Phụ trách là một thầy người
Anh, A.T. Grieve, là một người tốt nghiệp Oxford với mái tóc vàng hoe rất dày
và phong thái thân thiện cởi mở. Gần ba mươi mà ông vẫn độc thân và làm việc ở
hải ngoại lần đầu. Thầy Grieve không có thành kiến chủng tộc, có lẽ vì ông ở xứ
thuộc địa chưa đủ lâu để hiểu rằng phải giữ một khoảng cách với dân bản xứ, tác
phong này vẫn được coi như cần thiết để người ta phải tôn trọng sự cai trị của
người Anh. Ông đã cải thiện tiếng Anh của tôi rất nhiều và tôi tiến bộ rõ rệt,
đứng đầu trường trong kỳ thi của cấp lớp này. Bài thi quan trọng đầu tiên của
tôi được trường Cambridge ra đề và chấm. Tôi cũng đạt hai phần thưởng trong năm
đó là học bổng Tan Jiak Kim và học bổng Raffles. Tổng cộng, chúng đem lại cho
tôi 350 đôla Straits. Số tiền này dư cho tôi mua được một chiếc xe đạp Raleigh
giá 70 đôla, có bộ bánh răng ba đĩa để thay đổi tốc độ và dây xích chạy trong
hộp kín. Tôi đường hoàng đạp xe tới trường mà vẫn còn tiền để dành. Nhưng tương
lai còn những điều tốt đẹp hơn.

Tôi
đã quyết tâm giành vị trí cao trong các kỳ thi đệ nhị cấp Cambridge, và tôi
thật sung sướng khi kết quả được thông báo đầu năm 1940 là tôi đứng nhất trường
và đứng nhất trong tất cả học sinh tại Singapore và Malaysia.

Tôi
rất sung sướng với thời gian học ở Raffles, giải quyết việc học hành khá nhàn
hạ và tích cực trong phong trào hướng đạo sinh, chơi quần vợt và cricket, bơi
lội và tham dự nhiều cuộc trần thuyết. Nhưng tôi chưa từng là một học sinh hoàn
hảo, chứ đừng nói tới một học sinh đứng đầu lớp hoàn hảo. Ở tôi vẫn còn thói
tinh nghịch ham chơi. Tôi thường bị bắt gặp không tập trung nghe giảng bài, lo
viết cái gì đó cho bạn hay nhái theo điệu bộ của ông thầy nào đó. Với một ông
thầy người Ấn khá chậm chạm dạy khoa học, tôi đã bị bắt gặp đang vẽ cái gáy của
ông với mảng đầu hói.


lần tôi bị ăn roi của ông hiệu trưởng, D.C. McLeod, một con người kỷ luật
nghiêm ngặt nhưng công bằng, luôn thi hành kỷ luật một cách công minh, và đã có
một quy định rằng học sinh nào đi học trễ ba lần trong một học kỳ sẽ phải chịu
ba roi. Tôi là đứa thường dậy trễ, thức khuya giỏi hơn dậy sớm, và khi tôi đi
học trễ lần thứ ba thì giáo viên phụ trách buộc tôi lên văn phòng hiệu trưởng.
Thầy hiệu trưởng biết tôi do từng được học bổng và đoạt nhiều phần thưởng.
Nhưng tôi cũng không được tha với lời cảnh cáo qua loa, tôi phải cúi xuống ghế
và lãnh ba roi đích đáng. Tôi không nghĩ là thầy có nương tay, và cũng chẳng
bao giờ hiểu được tại sao các nhà giáo dục phương Tây lại tích cực chống việc
trừng phạt thân thể đến thế. Chuyện đó không gây tổn thương gì cho tôi cũng như
các bạn học sinh khác.

Tuy
nhiên tôi hiểu ra rằng phải sống nghiêm túc hơn. Cha mẹ tôi đã chỉ cho tôi thấy
một số bạn bè của ông bà sống sung túc như thế nào nhờ họ đã trở thành bác sĩ
hay luật sư. Họ hành nghề độc lập nên không bị ảnh hưởng của Khủng hoảng kinh
tế. Cha tôi cũng tiếc cho tuổi trẻ lêu lổng của ông và họ thúc ép tôi phải trở
thành dân có chuyên môn. Nên ngay từ hồi còn nhỏ ấy, tôi đã nhắm tới việc trở
thành luật sư, một người hành nghề chuyên môn, chứ không phải kẻ làm thuê. Kế
hoạch của tôi là học luật ở London.

Nhưng
năm 1940, chiến tranh ở châu Âu trở nên gay gắt hơn. Nước Pháp bị đe dọa và sắp
bị chiếm. Kế hoạch đi học luật ở London tốt nhất là nên hoãn lại. Nhờ đậu đầu
Singapore và Malaysia trong kỳ thi Cambridge đệ nhị cấp, tôi được hưởng học
bổng Anderson, thuộc loại cao giá nhất thời đó, để theo học tại Đại học
Raffles. Tôi quyết định nhận học bổng này. Nó cao hơn các phần thưởng khác của
chính phủ khoảng 200 đôla, dư để trang trải học phí, sách vở, chỗ ở và còn để
dành được ít nhiều nữa.

Đại
học Raffles được chính quyền Các thuộc địa vùng eo biển[5] thành
lập vào năm 1928. Nơi đây người ta dạy nhiều môn xã hội (tiếng Anh, sử, địa,
kinh tế) và khoa học (lý, hóa, toán lý thuyết và ứng dụng). Chính quyền đã xây
nhiều tòa nhà đẹp cho nó với kiến trúc bê tông chạy chung quanh tạo thành
khoảng sân giữa, mặt tiền giả đá, giống kiểu đại học Oxford và Cambridge nhưng
có điều chỉnh cho hợp với khí hậu nhiệt đới.

[5]
Các thuộc địa vùng eo biển (Straits Settlements): thuộc địa Anh ở Đông Nam Á
trước đây, gồm Singapore, Malacca, Penang, Labuan, đảo Christmas và đảo Cocoa.


sinh viên có học bổng, tôi phải ở trong khu ký túc. Đó quả là một việc khó
khăn. Để thích nghi với khí hậu nóng và ẩm của Singapore, các kiến trúc sư đã
thiết kế những ký túc xá rộng lớn, trần nhà rất cao. Mỗi khu chia làm 20 phòng
có cửa sổ lắp kính chạy từ trần xuống gần sàn mở ra hàng hiên rộng. Vách ngăn
giữa các phòng chỉ cao ngoài 2 mét, hơn đầu người một chút, để không khí lưu
thông dễ dàng. Điều này có nghĩa là tiếng ồn cũng truyền đi thoải mái suốt 20
phòng và 20 hàng hiên dành cho 20 sinh viên trẻ tuổi.

Mỗi
sinh viên phải học ba môn. Tôi học tiếng Anh, vốn là môn bắt buộc đối với mọi
sinh viên khoa học xã hội, và tập trung vào đó để tăng khả năng sử dụng và để
giúp tôi học luật sau này, kế đó là toán, vì tôi thích và cũng giỏi môn ấy, và
kinh tế học vì tôi nghĩ nó có thể dạy tôi cách kiếm tiền trong kinh doanh và
thị trường chứng khoán. Tôi thật ngây thơ! Sau năm thứ nhất, sinh viên phải
chọn một môn làm môn chính. Tôi đã chọn toán.

Cuối
mỗi học kỳ, trong ba học kỳ của năm học, đều có kỳ thi, và trong kỳ thi đầu
tiên của tôi ở đây, tôi đã về nhất môn toán, đạt hơn 90 điểm. Nhưng tôi choáng
váng khi thấy mình không đạt điểm cao nhất trong môn tiếng Anh và kinh tế, mà
đứng thứ hai, dưới một cô tên là Kwa Geok Choo. Tôi đã gặp cô Kwa này hồi còn học
ở Học viện Raffles. Năm 1939, là học sinh nữ duy nhất trong một lớp toàn là
nam, cô đã được hiệu trưởng mời trao phần thưởng trong lễ phát thưởng hàng năm,
và tôi đã nhận từ tay cô ba cuốn sách. Cô học trong một lớp đặc biệt chuẩn bị
để giành học bổng Nữ hoàng hai năm liên tiếp. Tôi thật bối rối và lo lắng. Mỗi
năm chỉ có hai học bổng Nữ hoàng cho toàn bộ Các thuộc địa vùng eo biển, và
không nhất thiết là chúng sẽ lọt vào tay hai sinh viên đạt điểm cao nhất. Trên
hết là tôi sợ một kiểu phân chia đồng đều về mặt địa lý nhằm tạo cơ hội cho các
sinh viên Malacca và Penang. Hội đồng xét học bổng có thể không muốn trao cả
hai học bổng cho sinh viên Singapore, trong trường hợp đó thì đứng thứ nhì là
không xong rồi.

Tôi
không thoải mái với năm thứ nhất của tôi ở đây như năm đầu ở Học viện Raffles.
Bắt nạt và ăn hiếp hồi đó là một phần trong bước khởi đầu của sinh viên năm thứ
nhất và kéo dài suốt học kỳ. Là sinh viên đứng đầu, tên tuổi tôi còn tới trước
cả tôi, và tôi nghĩ rằng tôi cũng là một trong những sinh viên năm đầu cao lớn
và nổi bật, nên một số sinh viên đàn anh đã xử ép tôi.

Tôi
đã phải hát, phải bò quanh sân trường dùng mũi đẩy một viên bi. Tôi phải đi dẫn
đầu tập thể sinh viên năm đầu, thắt một cà vạt xanh lá cây tả tơi và cầm một
cây cờ cũng xanh lá cây. Tôi nghĩ những trò đó thật ngu ngốc, nhưng đã trải qua
tất cả như một phần của cái giá phải trả để hòa vào một ngôi trường thiếu
trưởng thành và đang phát huy những truyền thống lệch lạc. Năm thứ hai, khi trở
thành đàn anh, tôi chống báng trò bắt nạt và cố gắng ngăn cản trò đó, nhưng
không thành công. Tôi hết sức phản đối những sinh viên làm trò đó với những
sinh viên năm đầu để bù lại những gì mà họ đã phải chịu đựng khi còn là “ma
mới”.

Khi
lên giảng đường, chúng tôi phải mặc áo lớn, cà vạt. Giảng đường lại không có
máy lạnh – nên một trong những phòng học của khối khoa học trở thành cái lò vào
buổi chiều vì nó quay về phía Tây. Gặp gió lạnh khi cả người đầm đìa mồ hôi là
chắc chắn tôi bị cảm và ho. Lại còn tình trạng mất quân bình do phải sống trong
môi trường xa lạ, nhồi nhét cùng 19 sinh viên khác trong một khu và ăn những
thức ăn nấu dở của ký túc xá.

Sau
năm thứ nhất, tôi chuyển từ khu C sang khu E có vị trí tốt hơn, ở đó tôi có
được một phòng mát mẻ và thoải mái hơn. Nhưng sự mất quân bình hẳn đã ảnh hưởng
chất lượng học tập của tôi. Tôi nhớ trong một kỳ thi học kỳ, ngay cả với môn
toán tôi cũng không chiếm nổi hạng đầu. Tuy nhiên trong các kỳ thi cuối năm học
ấy (tháng 3/1941), tôi đã làm bài tốt và đứng đầu về môn toán lý thuyết. Nhưng
cô Kwa Geok Choo lại đứng đầu môn tiếng Anh và kinh tế, và có lẽ trong môn sử,
môn thứ ba của cô, cũng vậy. Trong bài thi thống kê, một phần của môn kinh tế,
tôi đạt điểm cao hơn cô chút đỉnh. Tôi hiểu rằng mình sẽ phải ganh đua quyết
liệt để giành học bổng Nữ hoàng.

Còn
có những vấn đề khác nữa. Chính nhờ hồi tưởng mà tôi nhận ra rằng Đại học
Raffles là bước đầu của tôi đi vào lĩnh vực chính trị về chủng tộc và tôn giáo.
Trong một thuộc địa Anh không có phân biệt chủng tộc, người Malay ở Singapore
đã quen được đối xử như mọi người khác. Nhưng vào tháng 6/1940, lần đầu tiên
tôi gặp một số đáng kể những người Malay đã được sinh ra và lớn lên trong một
chế độ khác. Trong các tiểu bang liên minh của người Malay (Federated Malay
States – FMS) như Perak, Selangor, Penang và Negeri Sembilan, và hơn thế nữa
tại những bang của người Malay không liên minh (Unfederated Malay States) như
Johor, Kedah, Perlis, Kelantan và Terengganu, người Malay bản xứ có được những
ưu quyền chính trị và kinh tế. Tại những bang FMS, chỉ có năm học bổng theo học
Đại học Raffles là dành cho những người không thuộc chủng Malay, trong khi
sinh viên Malay có lựa chọn nhiều hơn, cũng như tại các bang không liên minh.
Trong số hàng trăm sinh viên được nhập học hàng năm thì có khoảng 20 người
Malay từ lục địa với học bổng do chính quyền bang của họ cung cấp.


một tinh thần đoàn kết rất mạnh trong số những người Malay, mà sau này tôi hiểu
ra là xuất phát từ cảm giác bị đe dọa, từ nỗi lo sợ bị lấn át bởi những sinh
viên người Hoa và người Ấn năng động và chăm chỉ hơn. Một sinh viên Malay cùng
năm với tôi sau này sẽ trở thành thủ tướng Malaysia, Abdul Razak bin Hussain,
học chung lớp tiếng Anh và kinh tế với tôi, nhưng chúng tôi không phải bạn
thân. Anh ta là dòng dõi quý tộc Malay tại bang Pahang, nên do đó ít nhiều xa
cách các sinh viên Malay khác, mà những người này cũng kính trọng anh. Những
người mà tôi dễ thân cận hơn là những sinh viên bình thường, trong đó có hai
bạn chơi trong đội cricket của trường. Vì tôi có nhiều bạn Malay từ hồi nhỏ nên
tiếng Malay của tôi rất lưu loát. Nhưng rồi tôi nhận ra thái độ của họ đối với
người khác chủng Malay, nhất là người Hoa, thì hoàn toàn khác thái độ của người
Malay ở Singapore.

Một
sinh viên bang Kedah nói với tôi vào năm thứ hai, sau khi chúng tôi đã trở
thành bạn. “Người Hoa các anh quá năng động và khôn ngoan so với chúng tôi. Ở
Kedah chúng tôi đã có quá nhiều người Hoa. Chúng tôi không chịu nổi sức ép ấy.”
Ý anh muốn nói là sức ép cạnh tranh để kiếm việc làm, để kinh doanh, để tìm chỗ
đứng trong các trường trung và đại học. Người Malay là các chủ đất, vậy mà cũng
có nguy cơ bị những người nhập cư hất văng khỏi các địa vị quan trọng, những
người nhập cư này lanh lợi, có chí tiến thủ và quyết tâm hơn. Có lẽ bởi vì học
giỏi hơn và tự tin hơn, nên sinh viên người Hoa và người Ấn thiếu tinh thần
đoàn kết này. Không có sự thống nhất trong bọn họ vì họ không cảm thấy bị đe
dọa.


một sự kiện in rõ trong trí nhớ của tôi. Vào năm thứ hai, có nhiều điều không
vui trong cách sắp xếp bữa tiệc hàng năm của Hội sinh viên Raffles tại Khách
sạn Seaview. Những sinh viên không phải người Malay lấy làm tức giận trước
những câu trả lời gay gắt và bất cần của thư ký danh dự Ungku Aziz bin Abdul
Hamid trước những phàn nàn của họ. Một số sinh viên bắt đầu vận động một đại
hội bất thường để phản đối anh ta và đẩy anh ta khỏi chức vụ trên. Nhưng anh ta
là người Malay. Khi những chữ ký đòi tổ chức đại hội bất thường tăng dần, các
sinh viên Malay đã đoàn kết chung quanh anh ta, và tuyên bố rằng nếu anh ta bị
bãi chức, họ sẽ đồng loạt rút khỏi Hội sinh viên. Điều này trở thành một thách
thức cho những sinh viên còn lại. Tôi được họ đến gặp và yêu cầu đọc bài diễn
văn khai mạc trình bày những phản đối của họ đối với Ungku Aziz. Tôi không dự
buổi tiệc đó và cũng không có xung đột cá nhân gì với anh ta. Nhưng vì chẳng có
ai muốn đảm đương công việc khó chịu này, nên tôi quyết định nhận lãnh. Đại hội
diễn ra vào một chiều thứ Bảy, và suốt cả ngày sinh viên đã bỏ đi, có lẽ vì họ
muốn tránh chuyện tranh cãi. Trong các khu ký túc, những sinh viên Malay tụ lại
rất đông. Tình hình rất căng thẳng và tư tưởng chủng tộc dâng lên hừng hực.

Đó
là kinh nghiệm đầu tiên của tôi về tinh thần chủng tộc Malay, một tình cảm sâu
và rộng bênh vực người Malay và chống lại dân nhập cư. Tôi trình bày sự vụ bằng
lời lẽ chừng mực, kiên định nhưng, tôi hy vọng, không quá khích. Ungku Aziz
phát biểu bác bỏ mọi dẫn chứng về cách cư xử thô lỗ của anh. Tôi có thể cảm
thấy đám đông khoảng 80 sinh viên cảm thấy rất khó chịu về sự đối đầu này. Khi
bỏ phiếu, những sinh viên Malay đã giành được thắng lợi cho Ungku Aziz, nên
không có vụ đồng loạt rút ra khỏi hội. Nhưng những sinh viên còn lại cảm thấy
đã nói lên được quan điểm của họ. Chuyện ấy rồi cũng phai mờ trong tôi. Chỉ đến
sau này, khoảng 1963–1965, khi chúng tôi ở Malaysia và cũng đụng phải những vấn
đề với tinh thần chủng tộc Malay ấy thì tôi mới nhớ lại.

Nhưng
nếu đó là thời kỳ đốì địch, thì nó cũng là thời kỳ tạo nên những tình bạn lâu
dài. Nhiều người tôi quen biết lần đầu tại Đại học Raffles sau này đã trở thành
đồng sự chính trị thân cận với tôi, trong đó có Toh Chin Chye, một sinh viên
khoa học trên tôi một năm, chăm chỉ, có hệ thống, trầm lặng và kiên định, rồi
Goh Keng Swee, một giáo sư kinh tế với trí tuệ siêu hạng, kém hùng biện nhưng
có ngòi bút sắc bén.

Nhờ
vậy khi tôi khởi sự hành nghề luật sư vào thập niên 1950,
tôi đã có một mạng lưới những bạn bè và người quen giữ những địa vị quan trọng
trong chính quyền và trong giới chuyên môn tại
Singapore và Malaysia. Thậm chí có bạn không trực tiếp biết nhau, nhưng việc có
chung một quá khứ khiến chúng tôi dễ tiếp nhận nhau, và mối dây trường cũ đã
rất hữu hiệu tại Singapore và Malaysia, cho dù
là trong nhóm người Hoa, người Ấn
hay Malay. Trước thời điểm hoạt động chính trị trở nên sôi nổi, khi quyền lực
còn nằm gọn trong tay người Anh, tôi không hề cảm thấy có hiềm khích hay thù
ghét gì về phía những bạn gốc Malaysia. Tôi làm bạn với rất nhiều người
trong số họ, kể cả hai vị thẩm phán người Malay mà sau này tôi phải trình
diện trước mặt họ.

Đó
là mạng lưới bạn học cũ trong một thành phần ưu tú của những người có giáo dục
Anh được hệ thống giáo dục thuộc địa Anh bồi dưỡng nên. Chúng tôi đã cùng học
qua nhiều trường, đọc cùng thứ sách giáo khoa và có chung một số đặc tính và
thái độ sống. Trường công của người Anh không phải là hệ thống duy nhất khuyến
khích xây dựng mạng lưới thông qua cách ăn nói, trang phục và phong cách, và
một tác phong làm các việc trên đời.

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3