Đại mạc dao (Tập 1) - Chương 07 phần 1
Chương 7: Thân thế
Tôi cầm bút lông, vừa nghịch bút vừa suy nghĩ một
hồi mà vẫn không nghĩ được điều gì. Tiểu Đào đột nhiên từ ngoài cửa sổ đột
nhiên bay vù vào, nhằm thẳng hướng tay tôi, tôi vội vàng ném bút rụt tay lại,
nhưng vẫn bị mực vẩy vào tay áo. Tiểu Khiêm nhẹ nhàng thu cánh đậu xuống khung
cửa sổ, nhìn Tiểu Đào bằng ánh mắt bất lực và nhìn tôi bằng vẻ thương hại.
Tôi tức giận túm lấy cổ Tiểu Đào: “Đây là bộ thứ
mấy rồi hả? Thứ mấy rồi? Hôm nay ta phải biến ngươi từ “bạch Lý tiểu[1]”
thành ‘quạ đen’ mới được”. Nói rồi tôi tiện tay vớ lấy một chiếc khăn tay nhúng
vào nghiên mực, thấm cho thật đẫm rồi bôi lên mình Tiểu Đào.
[1] Hàm ý trắng đẹp lại thông minh, lanh lợi
Tiểu Đào liên tục vỗ cánh, ra sức rít lên. Tiểu
Khiêm ở cạnh đó dường như tiến thoái lưỡng nan, không biết nên làm thế nào, chỉ
“gù gụ” mấy tiếng rồi dứt khoát nằm xuống khung cửa vùi đầu vào cánh ngủ, coi
như khuất mắt trông coi.
Có vẻ Tiểu Đào đã hiểu hôm nay tôi thực sự rất tức
giận, càng phản kháng chỉ tổ càng thêm đau, nên dần dần trở nên thuần tính,
ngoan ngoãn để tôi bôi mực lên khắp mình. Tôi phết mực đến gần nửa thân nó rồi
mới hậm hực thả ra, để lại một mặt bàn nhoe nhoét mực.
Ngoài cửa tự nhiên nghe thấy tiếng vỗ tay: “Thật là
hay ho, bắt nạt cả một con bồ câu.” Hoắc Khứ Bệnh đứng tựa người vào khung cửa,
đang cười hết sức vui vẻ.
Tôi bực mình nói: “Ta bắt nạt nó? Người sao không
hỏi nó xem thường ngày bắt nạt ta như thế nào? Đồ ăn, đồ mặc, đồ dùng, có cái gì
mà chưa bị nó làm hỏng?” Tôi còn đang mải kể khổ thì Tiểu Đào đột nhiên dang
rộng hai cánh, giũ mạnh thân một cái, rồi vẫy cánh bay ra ngoài. Đến khi tôi
kịp phản ứng, cố gắng ngửa người ra sau, thì đã cảm thấy có cái gì mát mát trên
mặt, tựa như nghìn vạn giọt mực vừa mới bắn tung lên đó.
“Tiểu Đào, ta phải hầm người lên ăn mới được!” Tôi
giận dữ gào lên thảm thiết tức trong khi Hoắc Khứ Bệnh cười ha hả, còn con “quạ
đen” kia đã bay ra khỏi cửa sổ, rồi biến thành một chấm đen bé tí trên bầu trời
xanh thẳm trong tích tắc.
Tôi quay đi dùng khăn tay lau mặt, Hoắc Khứ Bệnh
đứng sau lưng cười nói: “Đằng nào cũng bị nhìn thấy hết rồi, bây giờ mới tránh
thì quá muộn.”
Tôi hét ầm lên: “Ngươi biến đi! Ai cho ngươi vào
đây?”
Hắn vừa cười vừa đi ra khỏi phòng, tôi cứ tưởng hắn
bỏ về, nhưng lại nghe thấy tiếng múc nước ở cái vại trong vườn, không lâu sau,
hắn quay lại, từ sau lưng đưa cho tôi một chiếc khăn đã được vò sạch, tôi im
lặng nhận lấy khăn rồi vội vã lau mặt.
Cảm thấy khá sạch sẽ rồi, tôi mới quay người lại
nói: “Cảm ơn”. Hắn nhìn tôi, chỉ tay vào phía dưới tai mình, tôi liền lấy lại
khăn lau lau, hắn lại chỉ vào trán tôi, tôi lại lau trán, hắn chỉ vào mũi, tôi
đang định lau thì đột ngột dừng tay, trừng mắt nhìn hắn. Hắn bò ra bàn, vai
rung rung, không nói gì chỉ phá lên cười. Tôi ném khăn tay vào người hắn, đứng
dậy, tức giận quát: “Ngươi chơi với Tiểu Đào có khi hợp hơn đấy.”
Hắn cười hỏi: “Nàng đi đâu đấy? Ta vẫn chưa nói hết
chuyện với nàng.”
Tôi vừa ra khỏi cửa vừa nói: “Đi thay áo.”
Lúc tôi quay lại thư phòng, hắn đang ngồi đọc mấy
cuốn sách thẻ tre trên giá, nghe thấy tiếng tôi bước vào liền ngẩng đầu lên
nhìn tôi hỏi: “Kim cô nương, nàng định làm nữ tướng quân sao?”
Tôi giật lấy bản ghi chép Tôn Tử binh pháp khỏi
tay hắn, đặt lại lên giá: “Chưa được chủ nhà cho phép mà dám tự tiện lục lọi
xem xét lung tung, đúng là hành vi của tiểu nhân.”
Hắn cười nói: “Ta chẳng phải quân tử, nàng cũng
chẳng phải thục nữ, vừa khéo hợp nhau.”
Tôi định đáp lại thì thoáng thấy Lý Nghiên đi vào
tiểu viện. Thấy trong phòng có người ngoài, nàng quay người định đi luôn. Tôi
kéo kéo tay áo của Hoắc Khứ Bệnh, rồi lên tiếng gọi Lý Nghiên vào.
Lý Nghiên tiến vào phòng, Hoắc Khứ Bệnh liền nhìn
nàng chằm chằm, không nói một lời, tôi liếc nhìn hắn nói: “Có muốn ta tìm khăn
tay cho ngươi lau nước dãi không?”
Ánh mắt của hắn vẫn không di chuyển, chỉ chăm chú
dán vào Lý Nghiên, khóe miệng nhếch lên một nụ cười xấu xa: “Vẫn chịu đựng
được, không phải lo.”
Lý Nghiên im lặng hành lễ với tôi, nhưng ánh mắt
đầy vẻ ngờ vực, tôi còn chưa nói gì thì Hoắc Khứ Bệnh đã lạnh lùng ra lệnh:
“Kéo khăn che mặt xuống”.
Lý Nghiên hờ hững nhìn Hoắc Khứ Bệnh, tôi vội giới
thiệu kẻ phóng túng khoa trương háo sắc này là ai. Ba chữ “Hoắc Khứ Bệnh” vừa
ra khỏi miệng, Lý Nghiên đã kinh ngạc nhìn tôi, rồi lại nhìn sang Hoắc Khứ
Bệnh, trong mắt ẩn giấu vẻ trầm ngâm suy xét.
Tôi vốn định giải vây giúp Lý Nghiên, nhưng nghĩ
lại không muốn lãng phí tâm tư lần này của Hoắc Khứ Bệnh, nên cuối cùng chỉ im
lặng đứng sang một bên.
Lý Nghiên cúi đầu hành lễ với Hoắc Khứ Bệnh, đoạn
đưa mắt nhìn tôi, thấy tôi không động tĩnh gì, bèn chậm rãi kéo khăn che mặt
xuống.
Hoắc Khứ Bệnh sỗ sàng nhìn chằm chằm vào nàng ta
một hồi, rồi nói: “Ngươi đi được rồi.”
Lý Nghiên kéo khăn che mặt, cúi người hành lễ với
Hoắc Khứ Bệnh rồi xoay người lui ra.
Tôi hỏi: “ Có xinh đẹp mĩ miều như hoàng hậu hồi
gặp bệ hạ lần đầu không?”
Hoắc Khứ Bệnh khẽ gật đầu: “Ta không nhớ rõ dung
mạo thời trẻ của di mẫu, nhưng chắc là có. Xinh đẹp chỉ là thứ yếu, điều hiếm
thấy là cô gái này biết tiến biết lui rất có chừng mực, bị đặt vào tình thế bất
lợi như vừa rồi mà cử chỉ phong thái vẫn hết sức ung dung tao nhã, thấy ta sỗ
sàng như vậy mà không hề kinh ngạc hay tức giận, trong nét mềm mại lại ẩn vẻ
cương nghị cứng rắn, còn cứng rắn hơn cả nàng!”
Tôi lạnh nhạt hừ một tiếng không đáp.
Hắn hỏi: “Nàng định bao giờ đưa cô ta tiến cung?”
Tôi lắc đầu: “Không biết, trong lòng ta vẫn còn một
chút nghi vấn chưa giải thích được. Nếu cô ta không đưa ra một lời giải thích
thỏa đáng hợp lòng, thì ta không muốn dính dáng gì đến cô ta cả.”
Hoắc Khứ Bệnh bật cười: “Nàng cứ từ từ mà suy xét,
cẩn thận đừng để bọn họ giật mất giải đầu. Dung mạo của cô ta thật phi phàm,
nhưng thiên hạ rộng lớn, ngày xưa sau Trần A Kiều có Vệ hoàng hậu bây giờ lại
có cô ta, nàng không thể bảo đảm trong thành Trường An lúc này không có ai xinh
đẹp ngang ngửa cô ta.
Tôi nhún nhún vai cười: “Ngươi nói tìm ta có việc,
là việc gì?”
Hắn nói: “Nàng và Thạch phảng có chuyện gì thế?”
Tôi nói: “Đường ai nấy đi rồi.”
Hắn nói: “Thạch phảng tuy không còn bề thế như hồi
trước, nhưng trong thành Trường An dẫu sao vẫn có tiếng nói, bây giờ nàng độc
lập ra làm ăn, phải cẩn thận kẻo lại thành cây to hút gió.”
Tôi cười nói: “Thế nên ta mới vội lôi kéo công
chúa!”
Hắn hỏi: “Nàng định làm lớn đến đâu? Giống như
Thạch phảng thời hưng vượng à?”
Tôi im lặng một lúc rồi lắc đầu: “Không biết nữa.
Đi bước nào tính bước đấy thôi.”
Hắn đột nhiên bật cười: “Mạnh Cửu của Thạch phảng
cũng là một người khá thú vị, nghe công chúa nói, mẫu thân của hắn và bệ hạ hồi
nhỏ rất thân nhau, lúc còn bé từng được bệ hạ bế ẵm, vậy mà bây giờ bảo thế nào
cũng không chịu vào cung, bệ hạ truyền vào lần nào là từ chối lần đấy. Thành
Trường An chưa thấy có ai như vậy cả, có cơ hội ta phải gặp hắn mới được.”
Tôi thầm ngạc nhiên, máy miệng định nói, song nghĩ
lại lập tức nuốt lời vào, ngước mắt nhìn ra cửa sổ, không trả lời hắn.
Tiễn Hoắc Khứ Bệnh về rồi, tôi đi tìm Lý Nghiên
luôn, cảm thấy dù mình có suy tính thế nào cũng khó mà rút ra được kết luận,
chi bằng cứ dứt khoát thành thật giãi bày lòng dạ với Lý Nghiên xem sao.
Khi đi ngang qua chỗ ở của Phương Như và Thu Hương,
chợt nghe thấy trong nhà vang lên tiếng sáo thổi, tôi dừng bước lắng nghe, hóa
ra Thu Hương đang học gảy đàn Không[2]. Cô ta, Phương Như và tôi học
thổi sáo cùng nhau, vậy mà tôi bây giờ vẫn thổi khúc không thành khúc, điệu
không đúng điệu, còn cô ta đã bỏ xa. Vừa nghe được một đoạn thì tiếng sáo của
cô ta đột nhiên dừng lại, tôi lắc đầu khó hiểu tiếp tục đi đến chỗ của huynh
muội Lý Nghiên.
[2] Loại đàn thời xưa, ít nhất có năm dây, nhiều nhất
có hai mươi lăm dây.
Vừa đi được mấy bước chợt nghe thấy tiếng đàn cầm
vọng ra từ trong vườn nhà Lý Diên Niên, róc rách như hoa trôi giữa dòng nước,
mềm mại, thong dong. Tôi nghiêng đầu ngây ra nghe một lúc rồi lại đi tiếp.
Tiếng đàn cầm ngừng, tiếng sáo lại vang lên. Tôi quay đầu nhìn về phía vườn nhà
Phương Như rồi lại nhìn về phía vườn nhà Lý Diên Niên, nhìn trước nhìn sau mãi,
chợt cảm thấy trong lòng rất vui vẻ, vừa cười vừa nhẹ nhàng bước vào nhà.
Thấy cửa phòng khép hờ, tôi khẽ gõ cửa bước vào. Lý
Nghiên định đứng dậy, thấy tôi liền ngồi xuống, chẳng nói năng gì, chỉ im lặng
nhìn tôi chằm chằm.
Tôi ngồi xuống đối diện cô ta: “Sao lại nhìn ta? Cứ
làm như mới lần đầu gặp ấy.”
“Đợi cô giải thích.”
“Để hắn nhìn cô xem so với Trần A Kiều trong Trường
Môn cung ra sao, so với Vệ hoàng hậu thì thế nào.”
Bàn tay đặt trên gối của Lý Nghiên khẽ run, nàng
lập tức giấu tay vào ống áo, đôi mắt đen láy lấp đầy vẻ phức tạp.
“Ta giải thích rồi, bây giờ đến lượt cô, nếu thật
sự muốn ta giúp tiến cung, phải nói cho ta biết rốt cuộc cô là ai. Ta không
thích bị người khác lừa.”
Lý Nghiên nói: “Ta không biết cô đang nói gì.”
Tôi cười nói: “Ta cũng biết sơ sơ về xem tướng tay,
muốn ta thử xem cho cô không?”
Lý Nghiên trầm lặng đưa tay cho tôi, tôi nắm lấy
tay phải của nàng ta: “Lòng bàn tay nhiều đường nhánh, tâm tư phức tạp mẫn
tiệp, các đường kẻ tay giao cắt nhau rất loạn, thâm tâm tràn đầy mâu thuẫn, ba
đường chính vừa sâu vừa rõ, tuy đầy mâu thuẫn, nhưng cuối cùng vẫn cứng đầu
cứng cổ kiên quyết làm việc đến cùng, đường sinh mệnh hơi mờ, hai đường giao
hẳn nhau, hẳn phụ mẫu của ngươi chỉ có một người là người Hán…” Lý Nghiên giật
mình toan giật tay lại nhưng bị tôi giữ chặt, tôi nói tiếp: “Một mình một
đường, ắt hẳn thâm tâm có oán, đột ngột chuyển hướng, muốn bay cao hơn.” Lý
Nghiên lại muốn rút tay lại, tôi đành buông tay.
Lý Nghiên: “Ta hành sự thế nào mà để lộ hình tích
vậy?”
“Đôi mắt của cô rất đẹp, lông mi vừa dày vừa dài,
uốn cong tự nhiên, da dẻ lại trắng mịn trong sáng, vũ đạo của cô cũng có nét
khác thường.”
“Chuyện này chẳng có gì khác thường, trong thành
Trường An không ít người học vũ đạo của người Hồ.”
Tôi cười nói: “Mấy chuyện này vốn dĩ không khác
thường, dĩ nhiên có thể sơ suất mà không để ý tới. Dân Trung Nguyên ở giữa chốn
đất đai phì nhiêu màu mỡ, căn bản không biết người sống ở sa mạc quý trọng màu
xanh đến nhường nào, chỉ có người từng bôn ba phiêu bạt giữa sa mạc rồi mới
hiểu được cảm giác kinh ngạc đến hạnh phúc khi bất ngờ bắt gặp sắc xanh giữa
hoang mạc miên man cát vàng, một nhánh cây xanh ấy có thể cứu sống người lữ
khách sắp chết. Gom cả mấy chuyện này lại, ta thực ra cũng không dám chắc, chỉ
là trong lòng nghi hoặc thôi. Vì sa mạc cũng có người hủy cây lá, đất Trung
Nguyên cũng không hiếm người yêu hoa. Trong lòng ta nghi vấn đầu tiên và lớn nhất
chính từ chuyện cô ‘Một mình một đường, thâm tâm có oán, đột ngột chuyển hướng,
muốn bay cao hơn’.”
Lý Nghiên hỏi: “Cô có ý gì?”
“Cô đoán được vài phần mục đích của vở Hoa
nguyệt nùng, suy đoán được tâm ý muốn “bám rồng cưỡi gió” của ta liền
bảo anh trai từ chối Thiên Hương phường đến Lạc Ngôn phường, tâm tư của cô là
như thế nào? Nếu cô vừa chưa gặp ta mà hiểu lầm ý ta, thì ta gặp cô rồi liền
nảy sinh nghi ngờ với cô. Cái chốn ba nghìn phòng ốc liên miên ấy có thể khiến
nữ tử hạnh phúc không? Ta biết là không thể, cô cũng biết như thế, nhưng người
thông minh không bao giờ chọn một nơi như thế, ta không chọn, tại sao cô lại
chọn? Tiếng đàn của Lý sư phụ cũng là tiếng lòng, y không phải hạng người vì
muốn bay cao mà đẩy em gái mình vào chốn đó, nhưng tại sao cô vẫn cứ kiên quyết
làm theo ý mình? Ta quan sát cô từ cách ăn mặc đến hành vi cử chỉ, thấy không
phải kẻ ham muốn quyền quý. Nếu không phải vì “ham muốn” vậy thì chỉ có thể vì
“oán hận”, bằng không, ta thực sự không giải thích được tại sao một người có
phong thái, khí chất cao quý thanh khiết như cô, rõ ràng có thể sống rất vui
vẻ, cớ sao phải một mực tìm đường đào hố chôn mình trong nơi quái quỷ đó?”
Tôi đăm đăm nhìn nàng ta một hồi, chậm rãi nói
tiếp: “Mười sáu tuổi, hoa niên rực rỡ, mà ánh mắt cô lại tràn đầy vẻ lãnh đạm
băng giá. Ta hỏi qua Quảng Lợi về cuộc sống trước đây của cô, theo lời hắn nói
thì ‘Phụ thân thương tiểu muội nhất, không bao giờ để muội ấy phải chau mày.
Đại ca việc gì cũng tuân theo ý muội ấy. Mẫu thân rất ít nói, thích ngao du bốn
bể, thương ta nhất và nghiêm khắc với muội muội’. Dù cô không phải là con ruột
của bà ta, nhưng chắc cô cũng hạnh phúc chứ. Nỗi oán hận của cô từ đâu mà ra?
Những nghi vấn này cứ quanh quẩn trong đầu ta, nhưng mãi vẫn không biết kết
luận thế nào cho nên hôm nay ta đành hỏi thử xem sao, ta thì bắt nọn quá ghê,
mà cô thì thừa nhận quá sớm.”
Lý Nghiên nghiêng đầu bật cười: “Bị cô bắt thóp,
xem như là phục cô rồi. Cô đã bao giờ nghĩ về thân thế của bản thân mình chưa?
Cô có phải người Hán không? Màu da của cô cũng trắng nõn không giống người Hán,
tròng mắt cô nếu nhìn kỹ dưới nắng sẽ thấy lóe lên màu nâu, lại thêm lông mi
của cô chẳng phải cũng dài mà cong đấy ư? Mấy đặc điểm này người Trung Nguyên
cũng có thể có, nhưng cô lại cùng có một lúc cả ba đặc điểm, còn lớn lên ở Tây
Vực.”
Tôi gật đầu: “Lúc quan sát cô, ta cũng nghĩ có khả
năng cô là con gái lai Hán Hồ, đồng thời lại liên tưởng đến bản thân mình, phụ
mẫu ta có khi cũng một Hán một Hồ. Nhưng mà ta vốn không quan tâm đến họ, ta
chỉ biết người thân của ta là cha và Lang huynh, cố hương của ta ở bầy sói, cha
của ta là người Hán, cha nói ta là người Hán thì ta chính là người Hán.”
Nụ cười của Lý Nghiên đông cứng lại trên mặt: “Tuy
ta nhìn có vẻ giống người Hán, lại lớn lên ở Trung Nguyên, nhưng ta không phải
là người Hán, vì mẫu thân không cho phép, người chưa bao giờ nhận mình là người
Hán cả.”
Tôi kinh ngạc nói: “Mẫu thân của cô là người Hán?
Vậy… vậy…” Lý Quảng Lợi kể với tôi rằng mẫu thân của họ rất nghiêm khắc với Lý
Nghiên, khiến tôi lại tưởng là Lý Nghiên không phải con gái ruột bà.
Lý Nghiên chua xót cười: “Dòng họ thực sự của ta
phải là “Thiện Thiện”[3].
[3] Tên một nước cõi Tây nhà Hán, vốn tên là Lâu
Lan, nay thuộc tỉnh Cam Túc
Tôi hồi tưởng những gì Cửu gia từng giảng về phong
thổ nhân tình Tây Vực: “Thân phụ của cô là người Lâu Lan?”
Lý Nghiên gật đầu cười, nhưng nụ cười ấy ẩn giấu vẻ
cay đắng không thể nói thành lời, khiến lòng tôi cũng cảm thấy buồn theo: “Cô
đừng cười nữa.”
Lý Nghiên vẫn cười nói: “ Cô có biết về các quốc
gia Tây Vực không?”
Sao tôi có thể không biết chứ? Từ bé đã nghe biết
bao chuyện về Tây Vực rồi. Tim tôi khẽ thắt lại, mỉm cười có chút khổ tâm rồi
gật đầu.
Tây Vực có tổng cộng ba mươi sáu quốc gia: Lâu Lan,
Ô Tôn, Quy Tư, Yên Kỳ, Vu Điền, Nhược Khương, Thư Mạt, Tiểu Uyển, Nhung Lô, Di,
Cừ Lặc, Bì Sơn, Tây Dạ, Bồ Lê, Y Nại, Toa Xa, Sơ Lặc, Úy Đầu, Ôn Túc, Uất Lê,
Cô Mặc, Ti Lục, Ô Tham Tí, Ti Lục Hậu Quốc, Đan Hoàn, Bồ Loại, Bồ Loại Hậu
Quốc, Tây Thả Di, Đông Thả Di, Kiếp Quốc, Hồ Hồ, Sơn Quốc, Xa Sư Tiền Quốc, Xa
Sư Hậu Quốc, Sư Xa Úy Đô Quốc, Xa Sư Hậu Thành Quốc.
Lâu Lan nằm phía ngoài Ngọc Môn Quan[4],
vị trí địa lý vô cùng quan trọng, cho dù là Hung Nô tấn công Hán triều, hay là
Hán triều tấn công Hung Nô, đều bắt buộc phải đi qua đất Lâu Lan.
[4] Tục gọi là Tiểu Phương Bàn, nằm khoảng 90 km về
phía Tây Bắc của thành phố Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc là một trong những cửa ải
quan trọng nối liền con đường tơ lụa với địa phận Trung Quốc được thiết lập hai
lần vào đời Hán và Đường.
Vì Lâu Lan là dân tộc du mục, phong tục khá gần với
Hung Nô cho nên trước sau luôn bị coi là thuộc địa của Hung Nô, trở thành cứ
điểm cho quân Hung Nô cản trở và tấn công thương khách người Hán. Năm đó sau
khi Hoàng đế tiếp quản chuyện triều chính, không chịu được cảnh Hán triều luôn
phải giữ thế phòng vệ đối với quân Hung Nô, không cam lòng đem hòa bình đổi lấy
cuộc sống yên thân tạm bợ qua ngày, không muốn cho Hung Nô chặn đường thông vào
Tây Vực của Hán triều, cho nên mới phái sứ thần đi liên minh với Lâu Lan, dùng
cả ân lẫn uy, khiến nước này phải thần phục, biến Lâu Lan thành nước đứng mũi
chịu sào.
Hồi xưa cha thích kể cho tôi nghe những công lao vĩ
đại của thiên tử Hán triều năm đó, mà khiến cho cha say sưa kể nhất chính là
chuyện thiên tử Đại Hán thu phục các nước Tây Vực. Mỗi lần kể đến mấy chuyện này,
ánh mắt đượm lo buồn u uất của cha lập tức trở nên hết sức phấn khởi, tựa như
việc Đại Hán khiến Hung Nô phải xưng thần chỉ là việc sớm muộn, nhưng cùng một
câu chuyện như thế qua lời kể Cửu gia, ngoài sự uy phong của Hán triều như
trong câu chuyện của cha, còn có thêm nhiều điểm khác nữa.
Sứ giả Hán đi đến các nước Tây Vực hoặc quân đội
Hán muốn tấn công Hung Nô, đều phải qua sa mạc Bạch Long Đôi nổi tiếng trên đất
Lâu Lan. Vùng đất này rất nhiều gió bão, gió cuốn cát cuồn cuộn bay lên không
giống như rồng cuốn, vậy nên mới được gọi là Bạch Long Đôi, địa thế nơi này lại
hay thay đổi, người đi qua rất dễ lạc đường. Hán triều không ngừng lệnh cho Lâu
Lan quốc phải cung cấp người dẫn đường, đồ uống và thực phẩm, chẳng những vậy,
sứ giả Hán còn nhiều lần ngược đãi hướng đạo, quốc vương Lâu Lan không thể chịu
được tình cảnh áp bức này, đã từ chối phục tùng mệnh lệnh của Đại Hán, Lưu
Triệt trong cơn giận liền phái thích khách đi ám sát quốc vương Lâu Lan năm đó.
Lâu Lan bị ép giữa Hung Nô và Hán triều, tiến thoái
lưỡng nan. Lúc hoàng đế Hán triều tức giận thì người dân Lâu Lan chịu cảnh lầm
than, lúc Thiền vương Hung Nô tức giận thì Lâu Lan cũng phải đứng mũi chịu sào,
thậm chí vì muốn cầu cho quốc thái dân an mà phải cắn răng đưa hai hoàng tử,
một người đến Đại Hán, một người đến Hung Nô để làm con tin.
Các quốc gia Tây Vực khác cũng không khá hơn là
bao, phải cẩn thận lợi dụng những kẽ hở giữa Hán triều và Hung Nô để cầu tồn,
chỉ cần sơ sểnh một bước bất cẩn là rước họa vong nước diệt quốc ngay.
Lúc Cửu gia kể chuyện này, tuy có vẻ bái phục sự
hùng dũng và hành xử quyết đoán của đương kim hoàng đế, nhưng ánh mắt lại chan
chứa nét thương xót đồng tình với các tiểu quốc Tây Vực.
Tôi chăm chú nhìn vào mắt Lý Nghiên hỏi: “Cô muốn
làm gì? Đúng là cô có dung mạo của Bao Tự, nhưng đương kim hoàng đế không phải
là Chu U Vương.”
Lý Nghiên nói: “Ta hiểu, nhưng ta từ lúc sinh ra đã
mang trong mình nỗi thống hận Hán triều của mẫu thân. Vì chủ nhân của mẫu thân
cự tuyệt yêu cầu vô lễ của sứ giả nhà Hán, hắn liền tra tấn ngược đãi chủ nhân
của mẫu thân, cũng chính là người cha ruột mà ta chưa bao giờ gặp mặt đến chết.
Mẫu thân khi ấy mới mang thai một tháng, bụng vẫn chưa lộ rõ, lại là người Hán
cho nên thoát chết. Sau khi bỏ chạy thì gặp được phụ thân, lúc ấy đang ngao du
ở Tây Vực để học vũ khúc Tây Vực, được phụ thân cứu về rồi lấy làm vợ kế. Lúc
ta còn nhỏ, mẫu thân thường đưa ta về Tây Vực tế bái cha, mẫu thân ở giữa sa
mạc Bạch Long Đôi chỉ vào đủ chỗ khác nhau, nói cho ta đó là chỗ cha ta bị quất
đánh, kia là chỗ cha ta bị chôn sống, cha ta chết dần ra sao. Mẫu thân vĩnh
viễn không thể quên được hình ảnh thân thể cha ta cháy nắng khô quắt lại vì bị
người Hán chôn vùi ở giữa sa mạc, người vốn là công tử tuấn tú nhanh nhẹn mà
cuối cùng cơ thể co rúm lại nhăn nheo như trẻ sơ sinh. Mẫu thân miêu tả tỉ mỉ
khiến ta dường như đang thật sự chứng kiến cảnh đó, đêm nào ta cũng gặp ác mộng
khóc ầm lên choàng tỉnh, mẫu thân cười nói đây chính là nỗi căm hận của cha ta.
Hàng năm ta đều quay lại thăm Lâu Lan, mẫu thân không cho phép ta quên bất cứ
điều gì.” Trong mắt Lý Nghiên đã rớm lệ nhưng miệng vẫn cố mỉm cười.

