Thần thoại Hy Lạp - Chương 01 - Phần 3
NGUỒN GỐC CỦA LOÀI NGƯỜI NĂM THỜI ĐẠI
NCác vị thần đã được
sinh ra như thế, khởi nguyên từ Vũ Trụ, Đất, Trời, Tình Yêu rồi từ thần này
sinh ra thần khác, nối tiếp nhau đời đời kiếp kiếp. Nhưng còn loài người được
sinh ra như thế nào, đó là điều ai cũng muốn biết.
Ai đã sinh ra những con
người trên thế gian này? Xưa kia, các vị thần. Đó là các vị thần Ôlympia không
hề biết đến tuổi già và cái chết, đã sáng tạo ra loài người. Các thần đã lấy
vàng tạo ra giống người đầu tiên. Những con người đầu tiên này sống trong thời
đại mà Crônôx nắm quyền cai quản thế gian. Thời đại Crônôx còn được người xưa
gọi là thời đại Vàng hay thời đại Hoàng Kim, hoặc thời đại Xatuyếcnơ.
Vào thuở ấy con người
sống khác bây giờ nhiều. Thiên nhiên đem lại cho họ biết bao thức ăn, vật dụng
dồi dào, hoàn hảo. Cây trĩu quả, lúa chắc bông, đất đai màu mỡ, mưa thuận gió
hòa... tóm lại không có một điều gì đáng phàn nàn chê trách. Con người sống như
các vị thần chẳng hề biết đến lo âu, phiền não. Họ cũng không phải làm những
công việc cực nhọc đến kiệt sức người. Cảnh đói khổ chẳng bao giờ bén mảng đến
cuộc sống của bất cứ ai. Không có bệnh tật làm cho con người phải đau đớn, âu
sầu. Và con người cũng không biết đến tiếng gõ cửa dọa đe của tuổi già và cái
chết. Ngày này qua ngày khác con người sống trong hội hè, yến tiệc tưng bừng và
cứ trẻ đẹp mãi mãi. Của cải đều là của chung hết thảy mọi người vì thế chẳng
một ai phạm phải những thói hư tật xấu như: tham lam, ky cóp, trộm cắp, lừa
đảo... Cửa ngõ chẳng phải then trong khóa ngoài, rào đóng trước sau. Con người
sống trong tình thương yêu đùm bọc, quấn quýt lấy nhau. Mọi người đều trung
thực, tin cậy lẫn nhau và trọng danh dự. Con người cứ thế sống mãi cho tới một
người nào đó, họ từ giã cõi đời, từ giã một cách bình thản, tự nhiên như một
giấc ngủ êm dịu thường đến đè nặng trên mi mắt, chinh phục họ. Khi đất đen đã
phủ kín giống người Vàng này thì từ đây họ bước sang một cuộc đời mới. Thần Dớt
vĩ đại giao cho họ một sứ mạng cao cả. Họ sẽ đóng vai trò của những vị thần
Nhân Hậu (Bienveillant) nhưng không phải sống trên đỉnh Ôlympia mà sống trên
mặt đất, làm người bênh vực chân lý và bảo hộ cho những người trần thế chúng
ta. Họ cũng gánh vác cả công việc phân phối của cải cho mọi người. Đó là đặc ân
của thần Dớt vĩ đại đã ban cho những người của thời đại Hoàng Kim do Crônôx trị
vì và chính thần Dớt đã giao cho người con gái của mình là nữ thần Đikê, nữ
thần Công Lý, điều khiển thế gian nên mới có cuộc sống tốt đẹp như vậy.
Nhưng rồi mọi việc đều
biến đổi. Thời đại Hoàng Kim qua đi, con người Vàng chẳng còn trên thế gian
nữa. Và phải một thời gian khá lâu sau này các vị thần Ôlympia mới sáng tạo ra
được một giống người thứ hai để kế tiếp giống người Vàng đầu tiên. Nhưng con
người bây giờ được sáng tạo ra không phải bằng vàng mà bằng bạc. Nó chẳng giống
gì lớp người trước kia về hình dáng cũng như về trí tuệ. Nói đúng ra nó có phần
không đẹp như trước và có phần kém thông minh hơn. Từ đây, người mẹ phải nuôi
con vất vả sớm hôm, nuôi mãi, nuôi mãi ròng rã một trăm năm, đứa con mới khôn
lớn trưởng thành. Nhưng con người của thời đại Bạc này sống chẳng được bao lâu.
Sự ngu ngốc đã gây ra cho họ biết bao tai họa. Họ không xA Lynh được những điều
cám dỗ xấu xa. Từ đâu mọc lên trong trái tim họ những dây mơ rễ má của thói
ghen tỵ, tham lam, xúc xiểm, dối trá, tàn bạo. Họ mất trí đến nỗi không còn
biết sống cho mực thước nữa. Họ đã khinh thị thần linh, không chịu dâng lễ hiến
tế đều đặn. Và thế là Dớt nổi cơn thịnh nộ, chôn vùi họ xuống đất đen, bắt họ
phải chết. Thật ra thì họ chỉ được phép sống một cuộc đời mới ở dưới âm phủ. Họ
chẳng được một ân huệ gì của các bậc thần linh.
Thần Dớt vĩ đại, bậc
phụ vương của các thần linh và những người trần thế, lại sáng tạo ra một giống
người thứ ba nữa. Đây là giống người Đồng, được sáng tạo ra từ cán của những
ngọn lao đồng, khác hoàn toàn giống người Bạc. Đó là những con người rất hung
hăng và rất đáng sợ. Loại người này chỉ ưa thích những cuộc giao tranh là suối
nguồn của máu và nước mắt. Họ có một trái tim rắn như đá, lạnh như băng, chẳng
hề xót xa trước cảnh đầu rơi máu chảy. Họ cũng chẳng biết đến những cử chỉ tế
nhị, dịu dàng, những thú vui thanh nhàn, cao thượng mà chỉ quen thú vui với bạo
lực, với cảnh đầu rơi máu chảy. Được thần Dớt ban cho một thân hình cao lớn, to
khỏe với những đôi tay, bắp chân gân guốc có thể bạt núi ngăn sông nhưng họ lại
không dùng sức lực đó để cày cấy, trồng trọt mà lại dùng vào các cuộc chinh
chiến, chém giết lẫn nhau. Những người Đồng làm những ngôi nhà bằng đồng để ở,
vật dụng trong nhà từ giường ghế cho đến đồ ăn thức đựng cũng đều bằng đồng. Vũ
khí trong các cuộc giao tranh cũng bằng đồng bởi vì thời ấy sắt đen cứng rắn
chưa ai biết đến. Những người Đồng không ăn bánh mì. Với tính khí hung hăng,
kiêu ngạo, họ luôn chém giết lẫn nhau. Cứ thế, hết cuộc chém giết này đến cuộc
chém giết khác cho đến một ngày kia chẳng còn sót một ai trên thế gian nữa.
Giống người Đồng đã tự hủy diệt vì sự thái quá, sự không mực thước. Họ phải từ
bỏ mặt đất chan hòa ánh sáng tươi vui để đi vào địa ngục muôn đời tối tăm của
thần Hađex, chẳng một chút vinh quang lưu lại, và thế là chấm dứt thời đại Đồng
của giống người Đồng.
Khi đất đen đã bao phủ
giống người Đồng thì cũng là lúc Dớt, người con của Crônôx, một lần nữa lại
sáng tạo ra giống người thứ tư cho Đất Mẹ. Đây là một thế hệ người đứng đắn
hơn, ưu tú hơn giống người trước. Họ là những vị anh hùng của dòng giống thần
linh được mang danh là các vị Bán thần. Các vị anh hùng Bán thần này đã sống
trên mặt đất bao la của chúng ta với bao nhiêu chiến công hiển hách. Nhưng họ
cũng không có được một cuộc sống vĩnh hằng. Các cuộc chiến tranh thảm khốc và
những cuộc hỗn chiến bạo tàn cướp đi cuộc sống của họ. Người thì chết dưới chân
thành Tebơ bảy cổng, kẻ thì bỏ mình trong cuộc tranh giành gia súc của Êđip.
Và biết bao nhiêu người
con ưu tú đã xuống thuyền vượt biển khơi mù xám để sang đánh thành Tơroa vì
nàng Hêlen mà không thấy được ngày trở về. Thương xót những vị Anh hùng Bán
thần, thần Dớt ban cho họ một cuộc sống mới vô cùng tốt đẹp. Thần đưa họ tới
một nơi cách biệt Thèbes. với mọi người, xa tít tắp mù khơi, ở tận nơi cùng
kiệt của đất. Đây là những hòn đảo Hạnh phúc trên bờ đại dương do Ôkêanôx cai
quản có vực nước xoáy sâu. Họ sống ở đây trái tim thanh thản, chẳng phải tất
bật lo toan về bát cơm manh áo. Đất đai phì nhiêu, màu mỡ, cứ mỗi năm ba vụ
hiến dâng họ những hạt lúa chắc mẩy, ngọt như mật ong vàng.
Thời đại thứ năm là
thời đại Sắt, một thời đại nghiệt ngã và tồi tệ hơn tất cả các thời đại trước.
Đây là thời đại thống trị của nữ thần Hibrix - Nữ thần Thái Quá (Không mực
thước).
Con người được tạo ra
bằng sắt, hai thái dương xám xịt, suốt đêm ngày bị đắm chìm trong cuộc sống vất
vả, cực nhọc, bận rộn, tức tưởi. Và chẳng thể nào chấm dứt được tai họa ấy. Các
vị thần đã đem lại cho con người bao nỗi ưu tư nặng nề khôn tả. Thời đại này sa
sút đến mức xấu tốt lẫn lộn, phải trái không phân minh. Ở cái thời đại Sắt này
con người đối xử với nhau lạnh lùng, tàn nhẫn. Cha mẹ chẳng chăm sóc, yêu mến,
lo toan dạy bảo con cái. Con cái chẳng kính trọng mẹ cha. Truyền thống quý
người trọng khách mất hết, tình bạn chân chính chẳng còn... Biết bao chuyện đau
lòng đã xảy ra: cha già con bạc, hiếu nghĩa nhạt phai, danh dự bị vất bỏ. Điều
Chân, điều Thiện, lời thề hứa mất tính chất thiêng liêng, cao cả. Quyền thế là
sức mạnh thống trị tối cao. Vì thế kẻ ác tâm có thể hại người lương thiện bằng
những lời bịa đặt xấu xa. Thói xấu muốn lợi mình hại người, thích thú trước
việc dèm pha, chèn ép, triệt hại người khác cứ hiện ra lồ lộ dưới một bộ mặt
đen xỉn ghê gớm. Bất hòa, bạo lực, chiến tranh cứ bám riết cuộc sống của loài người
như một tai họa, một nỗi bất hạnh triền miên. Vì lẽ đó các nữ thần Lương Tâm
(Conscience) và công bằng (équité) vốn che giấu thân thể kiều diễm của mình
trong những tấm lụa trắng phải từ bỏ con người để trở về với cuộc sống của các
vị thần bất tử ở đỉnh Ôlympia. Đời sống trần thế chẳng có chỗ dung thân cho hai
vị nữ thần này nữa. Còn các vị thần trên đỉnh Ôlympia tức giận giống người Sắt
này khôn tả. Các vị chẳng ban cho họ những phúc lợi như xưa. Từ nay họ phải nai
lưng ra làm việc đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có miếng ăn. Để có được thịt muông
thú họ phải dấn thân vào những cuộc săn bắt nguy hiểm. Để có được cá ăn họ phải
đương đầu với biển khơi hung dữ. Để có được thóc lúa, hoa quả họ phải chống
chọi với nắng hạn, mưa úng, bão lụt. Đời sống của giống người Sắt ngắn hơn các
giống người ở các thời đại trước. Họ phải chịu nỗi khổ đau giày vò của tuổi già
và bệnh tật. Nỗi bất hạnh cứ bám dai dẳng vào cuộc sống của họ như những cái
vòi của con bạch tuộc bám chặt vào đá mà không phương kế gì rứt bỏ nó ra được,
cứu chữa được.
Đó là câu chuyện về
nguồn gốc loài người trải qua năm thời đại do nhà thơ Hy Lạp Hêdiôđ kể, một câu
chuyện nghe thì cũng hay nhưng quả thật cũng không lấy gì làm vui cho lắm. Bởi
vì... nó là chuyện thần thoại mà!
Huyền thoại về năm thời
đại của loài người của Hêdiôđ có chút gì phảng phất, na ná như những huyền
thoại nào đó của Thiên Chúa giáo. Điều dễ nhận thấy nhất là ở quan điểm cho
rằng con người sống càng ngày càng hư hỏng, tội lỗi, xấu xa đến mức thần thánh,
Thượng Đế đã nhiều lần gia ân, khoan hồng cho nhưng con người vẫn chứng nào tật
ấy. Và chính vì những tội lỗi ghê gớm của con người mà thần thánh phải trừng
phạt, tước bỏ không ban cho họ cuộc sống an nhàn, vĩnh hằng, hạnh phúc. Thần
thánh đã trừng phạt con người, bắt con người phải "lao động" mới có
miếng ăn. Khoa tôn giáo học gọi quan điểm này là mạt thế luận. [1]
[1] Eschatologie, gốc
từ tiếng Hy Lạp: eschatos: cuối cùng, tận cùng, kết thúc và logos: ngôn từ,
diễn vă, khoa học.
Xuất phát từ quan điểm
này mà Thiên Chúa giáo có tội tổ tông, tội lỗi của Cain, nạn hồng thủy, ngày
tận thế, ngày phán xét cuối cùng... Phật giáo có quan điểm: con người ta sinh
ra là đã mang ngay vào bản thân mình cái tiền oan nghiệp chướng của mọi nỗi khổ
đau. Cái "dục" của con người ngày càng lớn ngày càng làm cho con
người hư hỏng, tội lỗi.
PRÔMÊTÊ[1] VÀ LOÀI
NGƯỜI
[1] Pro mé théo, tiếng
Hy Lạp: người tiên đoán.
Thuở ấy thế gian chỉ
mới có các vị thần. Mặt đất mênh mông dẫu đã có khá nhiều vị thần cai quản song
vẫn còn hết sức vắng vẻ. Không muốn để tình cảnh buồn tẻ đó kéo dài, bữa kia
hai anh em Prômêtê và Êpimêtê[2] xin với Uranôx và Gaia tạo ra cho thế gian
thêm nhiều nhiều cái gì đó để cho cuộc sống đông vui. Uranôx và Gaia ưng thuận.
Hai vị giao luôn việc đó cho hai anh em Prômêtê và Êpimêtê. Cậu em, Êpimêtê
mừng quá, tranh ngay lấy đất và nước nhào nặn ra, trước hết, là các loài vật và
ban cho mỗi con vật một đặc ân của thần, một "vũ khí" để có thể phòng
thân, hộ mệnh, bảo vệ được cuộc sống của giống loài mình. Con thì được ban cho
ân huệ chạy nhanh như gió. Con thì có đôi mắt sáng xanh nhìn thấu cả đêm đen.
Con thì có thân hình khổng lồ mạnh khỏe hết chỗ nói. Có con thân hình bé nhỏ
nhưng lại có nọc độc gớm ghê. Rồi con có bộ lông dày, con có sải cánh rộng. Con
thì xuống nước không chìm, con thì trèo leo thoăn thoắt... Tóm lại mỗi con vật,
mỗi giống loài đều có "vũ khí" cần thiết để sống được ở thế gian.
[2] Épiméthée, tiếng Hy
Lạp: người lơ đễnh, đãng trí đần độn.
Công việc làm xong
xuôi, Êpimêtê gọi Prômêtê đến để xem xét lại. Mọi việc đều tốt, rất tốt nữa là
đằng khác. Nhưng xem kỹ ra thì tai hại thay, còn sót lại một con, một con mà
chàng Êpimêtê đần độn lại quên mất chẳng ban cho một đặc ân, một thứ "vũ
khí" gì. Đó là con người! Một con người, nhưng trần trụi, trần trụi hoàn
toàn. Phải, đúng là một con người trần trụi hoàn toàn trước mặt Prômêtê. Làm
thế nào bây giờ? Làm thế nào để con người sống được ở thế gian khi các
"nguyên liệu" đặc ân đã sử dụng phân phối hết rồi? Con người sẽ sống
thế nào trước các con vật: hổ, báo, voi, sói, vẹt, nhím, gấu, ngựa, sư tử, cá,
chim... là những con vật đã được sáng tạo hoàn hảo? Là những con vật đã được
ban cho đặc ân của thần thánh? Và rồi còn phải đương đầu với nắng, mưa, bão tố,
núi lửa phun, nước sông dâng, đất liền phút chốc thành biển cả, bãi bể hóa nương
dâu... biết bao biến thiên, tai họa khôn lường? Prômêtê đã nghĩ như thế. Và vị
thần có bộ óc thông minh, có tài nhìn xa trông rộng này quyết sửa chữa bằng
được cái thiếu sót của chú em lơ đễnh, đần độn của mình. Prômêtê dựa theo thân
hình trang nhã của các vị thần tái tạo lại con người cho có một thân hình đẹp
đẽ thanh tao. Phải làm cho con người đẹp đẽ thanh tao hơn hẳn con vật. Prômêtê
lại làm cho con người đứng thẳng lên, đi bằng hai chân để đôi tay được thảnh
thơi làm nhiều việc khác. Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Con người vẫn còn bấy yếu
và thua kém nhiều so với các con vật. Phải làm cho con người mạnh hơn hẳn con
vật thì nó mới có thể sống được trong thế gian này. Prômêtê liền băng ngay lên
bầu trời cao xa tít tắp, đến tận cỗ xe của thần Mặt Trời Hêliôx, lấy lửa của
thần Mặt Trời châm vào ngọn đuốc của mình đem xuống trao cho loài người. Và thế
là từ đó, thế gian, mặt đất lúc nào cũng rực cháy ngọn lửa của Prômêtê ban cho.
Con người thoát khỏi cảnh sống tăm tối, giá lạnh, đói khát.
Ngọn lửa trở thành
người bạn thân thiết, người bảo vệ chắc chắn nhất, một vũ khí mạnh nhất của
loài người. Ngọn lửa của con người hơn hẳn bộ lông dày, hàm răng sắc, cặp móng
nhọn, thân hình đồ sộ, khỏe mạnh, tài bay cao, nhìn xa, chạy nhanh như bất cứ
con vật nào. Và với ngọn lửa của Prômêtê, con người, thế hệ này qua thế hệ
khác, tạo dựng cuộc sống của mình ngày càng văn minh hạnh phúc hơn.
Và từ đó dẫu mong manh
và bấy yếu
Giống loài người đã có
ngọn lửa của Prômêtê
Ngọn lửa thiêng dạy họ
biết bao nghề.