Hồn hoang xác ảo - Chương 04 + 05 + 06 + 07
4
Hỏa lực phát ra từ trong hẻm, xé nát bên hông của
cái xe gầm thấp, làm vỡ kính, thủng bánh xe và cuối cùng ghim vào bình xăng,
khiến nó bắt lửa. Những cánh cửa bên kia xe bật mở và mấy tên trong băng Mỹ
Latinh nhào ra đường núp sau những xe đậu gần đó và bắn trả.
Harrison
núp sau một chiếc taxi đang đậu. Ông cúi thấp khi một viên đạn phá vỡ kính xe.
Run rẩy, Harrison nói vào bộ đàm, “Nhào vô! Ngay lập tức! Đi! Đi!”
Con đường
đầy đạn rơi vãi khi mấy tên trong hẻm bắn nhau với băng nhóm đi chiếc gầm thấp.
Đột nhiên, những đèn pha bừng lên, chiếu sáng cả đoạn đường và con hẻm khi
những đặc vụ DEA bao vây hai băng nhóm.
“Bỏ vũ
khí xuống. Tụi bây bị vây rồi,” một đặc vụ la lớn qua loa phóng thanh.
Tụi băng
đảng trả lời bằng nhiều phát súng hơn, khiến các đặc vụ DEA phải lao người tìm
chỗ núp. Thừa dịp đó, tụi Mỹ Latinh từ chiếc gầm thấp chạy qua bên kia đường
đối diện con hẻm.
Floyd
Harrison vẫn cúi sát phía sau chiếc taxi khi đạn bắn vỡ kính bên phía tài xế.
Vụn kính đổ xuống người ông như mưa đá. Ông định nhỏm người dậy để bắn trả, nhưng ngưng lại khi
thấy đường phố dường như đầy đạn bay như một bầy ong sát thủ vừa đến.
Cả hai
băng đang xài đủ loại súng tự động nghe như M-16 và AK-47. Harrison nhìn khẩu
chín ly nhà nước cấp và nhận ra ông và những đặc vụ đã không chuẩn bị đối phó
với hỏa lực cỡ này. Tụi băng đảng trang bị vũ khí dùng cho chiến đấu, trong khi
ông và đồng đội chỉ mang súng thích hợp cho việc tập bắn.
Ông cầm
chặt bộ đàm. “Giữ yên vị trí. Tiến vào bây giờ là tự sát.”
Trong
vòng không tới 60 giây, mấy khẩu tự động hết đạn. Sáu tên trong băng Mỹ Latinh,
rỉ máu từ những vết thương hầu hết là phần mềm, bỏ chạy, mỗi tên chạy một theo
một đường nhánh khác nhau, bỏ lại đằng sau chiếc gầm thấp, một chiếc xe chỉ còn
cái xác đang cháy âm ỉ.
Raymond
Lee bước ra khỏi con hẻm, nạp một băng đạn cho khẩu Uzi tự động. Gã nhìn xuống
lề đường nơi Garland đang nằm bất động trong vũng máu, vẫn còn nắm chặt điện
thoại di động. Có tiếng vang lên từ điện thoại. Raymond quỳ xuống và cầm nó
lên. Gã để lên tai.
“Xin
chào. Xin chào. Có ai đó không? Bạn vừa gọi tới số trợ giúp khẩn cấp. Xin cho
biết tình huống khẩn cấp của bạn là gì,” một giọng nữ vang lên.
Raymond
lắc đầu, tắt điện thoại, nhét vào túi, và ra hiệu cho đàn em lẩn vào sương mù
của con hẻm, biến mất như những bóng ma khi tiếng còi hụ xe cảnh sát tiến gần.
“Tiến
vào! Tiến vào!” Harrison la lên khi vội vã lao ra từ sau xe taxi. Chiếc xe cảnh
sát đầu tiên trong bảy chiếc xuất hiện khi Harrison và sáu đặc vụ khác tiến đến
vùng trước khu chợ Tàu. Không khí ngập khói thuốc súng và sương mù. Hàng ngàn
vỏ đạn đồng rải khắp lề đường và mặt nhựa đường.
Harrison
thấy rằng cả hai băng đã biến mất. Chiếc gầm thấp còn cháy âm ỉ. Ông cất súng,
đi tới chàng thanh niên đang nằm trước khu chợ Tàu, và móc huy hiệu vào thắt
lưng khi xe cấp cứu dừng lại. Hai bác sĩ cấp cứu nhảy ra và chạy về phía
Garland với hộp cứu thương.
Harrison
liếc nhìn xuống Garland trong khi một nhân viên cấp cứu đang bắt mạch cổ
Garland. Ông có thể thấy một viên đạn đã ghim vào sau đầu chàng trai.
“Anh
chàng này còn sống.”
“Anh
không nói chơi chứ,” Harrison nói.
Harrison
đang đứng kế bên các bác sĩ cấp cứu cho Garland thì một gã đặc vụ DEA đến gần.
“Một vụ trao đổi hàng thuần túy, hả?” tay đặc vụ mỉa mai, lắc đầu khi bỏ đi.
Những
nhân viên cấp cứu khác đến và bắt đầu băng bó sơ sơ cho vết thương của Garland.
Sau đó, họ đưa hắn lên băng ca và đẩy đến sau xe cấp cứu.
Floyd
Harrison nhìn theo khi chiếc xe tăng tốc trên con đường.
“Chúc may
mắn, anh bạn trẻ,” ông thì thầm với chính mình.
5
Bác sĩ Carl Stumbaugh đã làm việc suốt 35 tiếng
liền kể từ khi người ta mang nạn nhân vụ đấu súng vào. Quả là phép mầu khi hắn
ta vẫn còn sống. Một đầu đạn chín ly xuyên vào cổ hắn và chu du lên đến sau
đầu, ghim vào hành tủy. Đây sẽ là cuộc phẫu thuật khó khăn vào một ngày tốt
lành. Bác sĩ Stumbaugh bước vào phòng phẫu thuật, cầu nguyện rằng kích thích tố
hưng phấn sẽ phát huy tác dụng bất cứ thời điểm nào trong lúc này.
Hai tiếng
sau, ông đã xác định được vị trí mẩu đạn. Chỉ có điều giờ đây ông đang đối mặt
với tình huống tiến thoái lưỡng nan. Nếu ông tiếp tục tìm cách lấy mẩu đạn ra,
thì ông phải cắt tủy sống của bệnh nhân, điều này sẽ khiến hắn ta liệt cả
người. Nhưng nếu ông không lấy mẩu đạn ra, thì bệnh nhân chắc chắn sẽ chết. Có
thể thấy sự phân vân hiện trên khuôn mặt ông. Ông nhắm mắt trong giây lát.
“Mọi
chuyện ổn chứ?” một y tá hỏi.
“Xin
lỗi,” bác sĩ Stumbaugh nói. “Mình sẵn sàng chưa?”
“Bất cứ
khi nào ông muốn, bác sĩ.”
Khi
Garland mở mắt, hắn nghĩ mình đang ở thiên đường. Hắn chỉ nhìn thấy màu trắng.
Nhưng khi nhìn kỹ lại, hắn có thể thấy những vết nứt nhỏ và nhận ra mình không
phải đang nhìn lên thiên đường mà là một trần nhà màu trắng.
Tiếng
động từ chiếc động cơ nhỏ phát ra bên phải hắn và hắn thấy hình như mình đang
được dựng dậy.
Lúc đầu
tất cả những gì hắn có thể thấy là nơi trần nhà giáp với tường, được sơn màu
lục nhạt, rồi hắn có thể thấy ai đó ở cuối giường đang đọc một biểu đồ.
Một bác
sĩ. Đây chắc là bệnh viện.
Bác sĩ
Stumbaugh rời mắt khỏi biểu đồ gắn ở cuối giường. Ông mỉm cười với Garland.
“Cậu tỉnh
lại rồi,” bác sĩ nói. “Lúc này cậu sẽ cảm thấy hơi mất phương hướng một chút.”
“Tôi đang
trong bệnh viện hả?”
“Đúng,”
bác sĩ Stumbaugh nói.
“Sao tôi
không cảm thấy gì hết vậy?” Garland nói.
Bác sĩ
Stumbaugh bước tới đầu giường và nhéo vào má Garland.
“Ui da!”
“Có cảm giác
không?” bác sĩ Stumbaugh mỉm cười.
Garland
nhìn ông bác sĩ với ánh mắt giận dữ. Thằng cha kỳ cục này là ai? Hắn tự hỏi
mình.
“Ông làm
tôi đau,” Garland nói, cố gắng cử động.
“Cậu
Daniels, cậu còn sống là rất may mắn.”
“Sao tôi
không cử động được thân người? Sao tôi không cảm nhận được gì từ cổ trở xuống?”
“Không
may là, để cứu lấy mạng sống của cậu, chúng tôi phải hy sinh. Đó là khoảnh khắc
cần quyết định ngay.”
“Ông
quyết định.”
“Thì ai
đó phải làm thôi.”
“Vậy ông
quyết định tôi sống thực vật thì tốt hơn là chết hả.”
“Cậu
Daniels. Nhiệm vụ của chúng tôi là cứu mạng sống, bằng bất cứ giá nào. Nếu có
người bị hoại tử có thể gây tử vong ở tay hoặc chân, thì chúng tôi tháo bỏ cái
chân đó. Cậu có một viên đạn ghim vào thân não, nếu nó dịch chuyển, nó có thể đã
giết cậu. Để lấy được mẩu đạn, chúng tôi buộc phải cắt cột sống của cậu. Chúng
tôi đã chọn liệt giường còn hơn là chết.”
“Ông
chọn. Tôi nghĩ tôi thà chết còn hơn.”
“Mọi
chuyện quá bất ngờ với cậu nên không thể chấp nhận ngay được. Nhưng với kỹ
thuật ngày nay, cậu sẽ ngạc nhiên với những gì mình có thể làm được mà không
cần phải động tay động chân.”
Đến lúc
đó Garland nhận ra có người bước vào phòng bệnh của hắn. Hắn cố nhìn ra sau
lưng bác sĩ Stumbaugh và ông bác sĩ cảm thấy có người sau lưng và tránh sang
một bên.
Đứng đó
là một phụ nữ Mỹ gốc Á khoảng hai mươi với cặp mắt đầy nước mắt.
“Garland,”
Suzy nói, gương mặt nhìn lo âu.
“Tôi thấy
cậu có khách kìa,” bác sĩ Stumbaugh nói. “Tôi sẽ quay lại kiểm tra sau.”
Khi bác
sĩ ra khỏi phòng, Suzy tiến đến bên cạnh giường.
“Em nghe
rồi phải không?” Garland hỏi.
“Phải,”
Suzy nói, hạ thấp đầu xuống. “Ôi Chúa ơi, Garland. Em rất tiếc.”
“Ừ, anh
cũng vậy,” Garland nói, gương mặt hắn chuyển từ giận dữ sang buồn bã. Một giọt
nước mắt xuất hiện bên mắt trái và bắt đầu chảy dài xuống má hắn khi Suzy ngồi
xuống ghế cạnh giường và gục đầu lên ngực hắn.
Garland,
không thể cử động, nhìn lên trần nhà, gương mặt hắn đầy cảm xúc cay đắng, mãnh
liệt.
“Suzy,
anh muốn em làm giùm anh một chuyện.”
Cô ngẩng
đầu lên và mỉm cười trong nước mắt. “Chuyện gì cũng được, anh nói đi.”
“Ngắt
điện cho anh đi.”
“Cái gì?”
“Anh
không thể sống như vậy được.”
“Không.”
“Suzy. Em
là người duy nhất...”
“Đừng bắt
em làm như vậy. Xin đừng.” Cô đứng lên và lui khỏi giường.
“Đừng
đi.”
“Đừng bắt
em làm bất cứ chuyện gì giống như vậy. Đừng bao giờ.”
“Anh xin
lỗi,” Garland nói. “Nhưng anh thực sự cần em làm giùm anh một chuyện. Anh cần
máy tính của mình.”
6
Paul Freeman biết rằng anh đang mất sức lôi kéo với
chúng. Hai mươi ba gương mặt nhìn lên anh từ những bàn học bên dưới, đôi mắt
chúng đờ đẫn vì chán nản lẫn thờ ơ. Ôi trời, thậm chí anh còn thấy chán chính
mình. Anh đã thấy chuyện này xảy đến cho những giáo viên khác, yếu tố chán nản,
khi họ cứ phải nhai đi nhai lại một bài giảng hay một ví dụ trên lớp hàng tỉ tỉ
lần. Bạn phải giữ cho nó luôn tươi mới, hoặc ít nhất khiến nó có vẻ mới mẻ vì
bọn trẻ chưa nghe tới nó lần nào.
Ở tuổi
40, Paul đã giảng dạy môn khoa học cho trường trung học Kingsville ở
Kingsville, Texas mười sáu năm. Đây là công việc đầu tiên của anh sau khi tốt
nghiệp. Anh đã lấy bằng thạc sĩ và đủ tín chỉ cho tấm bằng tiến sĩ, nhưng anh
vẫn chưa chọn được đề tài thích hợp cho luận án của mình.
Khi anh
để ý đến những học sinh của lớp khoa học đầu cấp này, một nửa hình như đang ngủ
gục, thì anh nhận ra rằng có lẽ đã đến lúc tiếp tục công việc bỏ dở. Không may
là anh lại cần công việc này để trả tiền thế chấp và hóa đơn thẻ tín dụng mà vợ
anh đã chi tiêu để cải thiện chất lượng cuộc sống của họ.
“Được
rồi,” anh nói hơi lớn tiếng, khiến nhiều học sinh giật mình tỉnh giấc. “Ai có
thể cho tôi biết có bao nhiêu dạng năng lượng tồn tại?”
Paul bắt
đầu đi lại giữa dãy bàn, gõ nhẹ bút chì lên một bên đầu. “Có ai không?” anh
hỏi.
Miễn
cưỡng, một vài học sinh giơ tay lên. Paul ngừng đi lại và gật đầu về phía một
nữ sinh có vẻ chịu khó học.
“Lucinda?”
“Theo
sách giáo khoa, thì có bảy dạng,” Lucinda nói. “Nhưng em nghĩ cuốn sách ấy sai.
Ý em là, có thể có, chẳng hạn, vô số những dạng năng lượng chăng?”
Paul chỉ
nghe chữ được chữ mất vì anh đang nhìn một học sinh khác đeo một cặp kính mát
khác thường. Paul bước về phía cậu học sinh và khi nhìn kỹ anh nhận ra cặp kính
có gắn kèm tai nghe và chiếc kính hình như được kết nối với một máy tính xách
tay nhỏ, đang nhấp nháy đèn màu xanh lục.
“Vô số
dạng năng lượng à. Thú vị đó,” Paul nói khi giật dây nối tai nghe với máy tính
và gỡ cặp kính khỏi đầu anh học sinh. “Em nghĩ sao, Bo?”
“À à,” Bo
nói. “Câu hỏi là gì vậy, thầy Freeman?”
“Em đang
làm gì vậy?”
Paul ngắm
nghía cặp kính và nhìn vào màn hình. Trên màn hình anh nhìn thấy dòng chữ: “Cybersona,
nếu bạn tưởng tượng được cái gì, thì chúng tôi có thể tạo ra được cái đó.”
“Đây là
một trò thú vị đó, thầy Freeman,” Bo nói. “Nó có trí thông minh nhân tạo nên
thầy có thể tạo nhân vật cho riêng mình. Và thầy có thể...”
“Tắt đi,
Bo.”
Bo tắt
máy tính. “Em xin lại cặp kính được không?”
“Tôi sẽ
tịch thu cái này,” Paul nói lúc bước lên trước lớp với cặp kính.
“Ôi, thôi
mà, thầy Freeman.”
Paul
nghiên cứu cái kính. “Kính thực tế ảo hả?”
“Dạ,” Bo
nói. “Đôi khi em quên mình đang đeo nó.”
Paul bỏ
chiếc kính vào ngăn kéo bàn. “Vậy là giải quyết xong vấn đề.”
“Em còn
cái khác,” Bo nói.
“Vậy đừng
đeo trong lớp học,” Paul nói. “Được rồi. Mọi người lấy ra một tờ giấy. Tôi muốn
các em viết ra càng nhiều dạng năng lượng mà các em nghĩ ra càng tốt. Ai viết
được nhiều nhất sẽ tự động nhận được một điểm A cho bài kiểm tra sắp tới.”
Cả lớp
hầu như chuyển động cùng lúc và bắt đầu viết.
“Tôi nghĩ
rằng chúng ta vừa chứng kiến một dạng năng lượng mới. Động lực.”
Trong khi
những học sinh đang viết ra danh sách của mình, thì Paul thấy có bóng chuyển
động bên ngoài cửa lớp. Anh bước ra mở cửa và thấy thầy hiệu trưởng đang đứng ở
hành lang kế bên cửa lớp.
“Tiến sĩ
Rathbone,” Paul nói. “Ông có muốn vào trong không?”
“Tôi cần
nói chuyện với anh. Nhưng tôi có thể chờ đến khi hết giờ.”
“Chuyện
nghe nghiêm trọng vậy. Có lẽ ông nên cho tôi biết ngay bây giờ đi.”
Paul bước
ra hành lang với thầy hiệu trưởng.
“Tôi vừa
nhận được quyết định từ hội đồng nhà trường,” tiến sĩ Rathbone nói. “Nguồn quỹ
của chúng ta vừa bị cắt giảm. Vậy đó, chuyện này có thể để đến sau giờ dạy.”
“Chuyện
này nghĩa là sao? Cắt giảm quỹ?”
“Tôi e
rằng chúng tôi phải để một số giáo viên ra đi. Ngay lúc này, tôi e là vậy.
Chúng tôi sẽ gộp lớp của anh với lớp cô Hosteller.”
“Ông sẽ
không sa thải cô Hosteller chứ?”
“À -
không. Đây không phải là sa thải, Paul. Đây là giảm biên chế.”
“Nhưng mà
cô ta đã làm việc ở đây suốt hai mươi năm.”
“Ừ, Paul.
Cô ấy sẽ không phải ra đi.”
“Ồ, tốt.”
“Mà là
anh.”
“Ông chắc
đang đùa.”
“Tôi xin
lỗi. Nghe nè, giờ dạy của anh sắp hết rồi. Vào mà dạy cho xong đi. Tôi sẽ quay
lại sau, khi các học sinh ra về lúc 3 giờ.”
Paul
trông ỉu xìu và chán nản, như một người bị mất sinh khí, khi anh quay lại lớp
học. May thay, không học sinh nào chú ý đến sự thay đổi sắc thái này; anh cố đi
tới bàn giáo viên và chống tay xuống bàn. Tựa người vào bàn, anh nhìn lên và
thấy một học sinh, một cô gái ngồi hàng đầu, đang nhìn anh.
“Thầy có
sao không, thầy Freeman?” cô hỏi.
Ngay lúc
đó chuông reng.
Khi học
sinh dọn dẹp bàn học và nộp lại tờ giấy kê danh sách của mình thì Paul giơ tay
lên.
“Trước
khi các em đi. Tôi muốn thông báo một chuyện.”
Các học
sinh dừng lại và nhìn lên anh.
“Đây là
buổi cuối tôi dạy các học sinh tuyệt vời ở đây. Tôi vừa bị giảm biên chế.”
Hầu hết
các học sinh chỉ nhìn anh, bất động. Nhưng có một cậu ở cuối lớp giơ tay lên.
“Sao
Steven?”
“Vậy có
phải là tuần sau không có bài kiểm tra không ạ?”
Tiếng
chuông vào tiết mới vang lên trước khi Paul kịp trả lời.
Với Paul,
cả ngày hôm đó trôi qua trong hoang mang. Nếu có ai hỏi anh nhớ lại một bài
giảng trong hai lớp còn lại buổi chiều, thì hẳn anh sẽ không thể nhớ được. Tất
cả những gì anh nghĩ đến là chuyện anh đã bị đuổi việc. Đuổi việc! Sau mười sáu
năm ngày nào cũng đến ngôi trường này và dạy tại lớp học này, người ta đã không
còn cần anh nữa. Cám ơn rất nhiều.
Khi đồng
hồ treo tường điểm ba giờ và giờ dạy cuối cùng trong ngày kết thúc, và nhóm 29
học sinh cuối cùng rời phòng, Paul Freeman ngồi xuống sau bàn giáo viên có lẽ
là lần sau cùng, chiếc bàn có lẽ gần như là nhà của anh.
Anh bắt
đầu nhớ lại những ngày đầu mình đi dạy nhưng đoạn hồi tưởng đó bị cắt ngang
ngay tức khắc vì ngay khi học sinh cuối cùng rời khỏi phòng, thì tiến sĩ
Rathbone đã quay lại.
“Quay lại
để áp tải tôi ra hả?” Paul hỏi. “Bảo vệ đâu?”
“Chuyện
đó đâu cần thiết, phải không?”
Paul ghi
vội điều gì đó lên một mẩu giấy trên bàn, gấp nó lại, rồi bắt đầu kéo các ngăn
kéo ra rồi cho mọi thứ trong đó vào một túi mua hàng siêu thị cỡ lớn.
“Tôi chưa
từng hình dung nó sẽ xảy ra. Mười sáu năm,” Paul nói.
“Anh nói
gì?” tiến sĩ Rathbone nói.
“Tôi đã
giảng dạy ở đây suốt mười sáu năm. Đây là công việc duy nhất tôi từng có.”
“Đây
không phải lệnh của tôi, Paul. Hội đồng bỏ phiếu.”
“Thôi đi.
Ông đã trông chờ chuyện này từ khi được cất nhắc lên làm hiệu trưởng. Ông chưa
bao giờ ưa tôi. Tôi biết điều đó mà.”
“Anh
không thể coi chuyện này là thù riêng,” tiến sĩ Rathbone nói. “Toàn bộ hệ thống
giáo dục của bang đều bị ảnh hưởng của việc giảm biên chế. Nếu anh muốn đổ lỗi,
hãy đổ lỗi cho nền kinh tế.”
Paul đã
thu dọn xong bàn làm việc, đứng dậy, ôm túi mua hàng và cặp táp, và bắt đầu đi
ra cửa.
“Mười sáu
năm,” tiến sĩ Rathbone nói. “Anh chắc là nhận được khoản trợ cấp giảm biên chế
kha khá.”
Paul dừng
lại ở cửa lớp. Anh quay lại và mở miệng định nói điều gì đó nhưng thôi, và bước
ra ngoài.
“Tôi đoán
là vậy,” tiến sĩ Rathbone tự nhủ. Rồi ông nhìn xuống bàn giáo viên và thấy một
mẩu giấy ghi tên ông trên đó. Ông với lấy và mở ra đọc.
Một đoạn
thư ngắn ghi:
“Nếu
có những người không thể,
Dạy
học,
Thì
dường như có lý
Khi
những người không thể dạy học,
Trở
thành hiệu trưởng.”
Bãi giữ
xe trường mau chóng sạch bóng học sinh và giáo viên khi Paul đi đến chiếc Acura
Legend cũ đời 1994. Anh mở cửa phía tài xế và ném cặp táp và túi mua hàng lên
ghế hành khách. Vừa làm vậy, anh nhận ra sự cẩu thả của mình khi cái túi lật
nghiêng ra rồi đổ tung những thứ nhét đầy tới miệng túi ra sàn xe.
“Hôm nay
không phải ngày may mắn của mình,” Paul lẩm bẩm, khi anh cúi xuống và bắt đầu
nhét mọi thứ vào túi. Anh làm được nửa chừng thì nhặt lên cặp kính thực tế ảo
đã tịch thu của học sinh. Anh định cầm nó ra khỏi xe thì nhớ đến lời cậu học
sinh: “Em còn cái khác.”
Paul thực
sự không muốn quay trở vào trong trường. Anh nhìn kỹ cặp kính, nhún vai, và để
trở lại vào túi mua hàng.
7
Kingsville, Texas là một vùng rộng không tới
hai dặm nên Paul không mất nhiều thời gian để lái xe từ trường về nhà. Khi anh
đang quẹo xe lên đường vào hông nhà, anh cau mày khi thấy chiếc xe tải trắng
đậu ở lối vào, chắn mất đường vào gara của anh. Anh tắt máy và ra khỏi xe và
bước về phía gara vì cửa đang mở lên.
“Hệ thống
nước A-One” được in lên bên hông chiếc xe tải.
“Mình nhớ
là đường ống nước vừa được kiểm tra mà,” Paul nghĩ, đi vào gara và đến cửa
thông vào nhà. Anh nhìn vào một căn phòng nhỏ tách biệt với gara trong đó đặt
thiết bị xử lý nước. Căn phòng trống trơn.
Anh tiếp
tục vào phòng giặt đồ và bước lên bậc thang vào nhà bếp.
Paul và
Denise vợ anh đã mua một nhà trang trại hai tầng vì vị trí gần trường hơn là
tòa kiến trúc, cái mà Denise ghét cay ghét đắng.
Cô ghét
kiểu thiết kế chia tầng so le, nói rằng nó buộc mình phải quyết định lên trước
hay xuống trước các bậc thang mỗi khi muốn vào nhà. Paul không bao giờ bận tâm
đến chuyện đó vì anh luôn vào nhà bằng đường gara, mà nó luôn nằm ở tầng dưới
cho nên không cần phải ra quyết định nào.
Khi bước
vào nhà bếp, anh tưởng sẽ thấy tay thợ ống nước đang kiểm tra đường nước ở bồn
rửa chén với cả lô hóa chất của hắn. Nhưng nhà bếp không có ai.
Lúc đó
anh nghe tiếng cười nói, cùng với tiếng người đang làm gì đó.
Có lẽ có
sự cố trong phòng tắm, anh tự nhủ khi bước dọc hành lang hướng về nơi phát ra
tiếng động.
Âm thanh
phát ra từ phòng ngủ chính, nơi có phòng tắm riêng.
Cửa chỉ
khép hờ khi anh mở toang nó ra. Paul bước vào phòng ngủ thì thấy vợ mình và một
thằng đàn ông, trần truồng, đang trên giường ngủ cỡ lớn của hai vợ chồng, chân
đan quấn vào nhau và rên rỉ.
Một tảng
băng như đè lên vai Paul khi anh lui khỏi cửa và dựa vào tường ở hành lang.
“Denise!”
Paul hét lên.
Denise mở
mắt và trông bối rối. Đó là khi cô nhận ra cửa phòng ngủ đã mở rộng. Paul đã về
nhà và bắt gặp cô. Từ bên dưới cô chuồi người ra khỏi gã đàn ông bên trên.
“Ê,” hắn
nói.
“Mặc quần
áo vào. Nhanh lên. Chồng tôi về tới rồi.”
“Ổng có
súng không?”
Denise
mặc áo ngủ vào. “Mặc đồ vào đi, được không? Tôi sẽ thu xếp ông chồng tôi.”
Cô bước
khỏi phòng ngủ ra hành lang, giờ đây đã trống trơn. Cô nghe tiếng động từ phía
nhà bếp.
“Paul?”
cô gọi khi hít một hơi sâu và bước vào nhà bếp.
Paul đang
ngồi ở bàn uống một lon bia khi cô vào và anh nhìn lên. “Thằng cha xử lý nước
sao?”
“Anh đừng
kiếm chuyện. Tôi tưởng anh phải ở lại trông chừng buổi cấm túc,” Denise nói.
“Tôi không nghĩ anh về nhà trước năm giờ.”
“Tôi bị
tống cổ.”
“Tôi bị
đè cổ.”
“Chẳng
hài hước chút nào.”
“Đúng,”
Denise nói. “Tôi xin lỗi.” Cô đưa tay về phía anh nhưng anh tránh ra chỗ khác.
“Anh không nghĩ mình phải bàn về chuyện này sao?”
“Có gì để
nói đâu? Tôi sẽ đi thu dọn đồ đạc,” Paul nói.
“Không.
Không. Tôi sẽ dọn đi,” Denise cương quyết. “Gần đây tôi cũng đã nghĩ đến chuyện
dọn đi rồi.”
“Cô lựa
thời điểm thật thích hợp, như mọi khi.”
Đúng lúc
đó tay thợ xử lý nước, giờ đây trong bộ áo liền quần hệ thống nước A-One, bước
vào cửa nhà bếp, trông ngượng nghịu.
Paul và
Denise nhìn hắn ta. “Chuyện gì?” họ cùng nói.
“Ờ...”
“Tao nghĩ
mày nên cút khỏi đây,” Paul nói. “Ngay lập tức!”
“Tôi sẽ
đi. Chắc mà. Nhưng ông chắn đường rồi. Ông phải dời xe đi chỗ khác.”
Đã hai
ngày đêm kể từ khi Denise bỏ đi và Paul vẫn không chắc anh cảm thấy thế nào
hoặc cái gì khiến anh phiền lòng hơn, mất việc hay mất vợ. Hai cú liên hoàn. Và
anh vẫn còn choáng váng. Anh biết cuộc hôn nhân đã gặp rắc rối khi anh không
được tăng lương và vợ anh quyết định đi nghỉ mát hai tuần với mấy bà bạn chứ
không phải với anh.
Anh cũng
nghi ngờ vợ mình lừa dối, nhưng anh chưa có bằng chứng nào hết, ngoài chuyện cô
không ăn nằm với anh nữa.
Từ khi cô
bỏ đi, Paul gần như suốt ngày ở trong phòng riêng của mình, nơi mà anh xem như
là nơi làm việc của mình. Anh ngồi đó trước màn hình đi dạo trên mạng, tìm kiếm
sự cứu giúp và ai biết được cái gì khác - lang thang từ trang web này đến trang
kia, dừng ở bất kỳ trang nào khiến anh chú ý.
Việc anh
làm là gõ vài tiêu đề vào công cụ tìm kiếm như Yahoo!®, hay Google™,
và anh lên đường. Anh không rõ làm sao mình tìm thấy Cybersona hay
thậm chí từ khóa nào đã dẫn anh tới đó. Anh nhớ có một học sinh đã nhắc tới nó.
Học sinh với cặp kính thực tế ảo. Ngay khi Paul vào trang đó, anh biết mình đã
tìm thấy một điều tuyệt diệu. Và ngay khi vào đó, anh không thể dứt ra được.
Cơ
bản, Cybersona là một phiên bản phức tạp hơn của SimCity™, một
trò chơi trực tuyến mà hàng triệu người đã chơi.
Nhưng trò
này khác. Anh không những phải tạo nhân vật thế thân ảo, mà còn phải tạo những
nhân vật khác và nơi chốn nữa, và sau đó tương tác với chúng.
Và khi
anh dùng chiếc kính thực tế ảo tịch thu của học sinh, thì cảm giác còn mạnh hơn
nữa.
Paul uống
hết một lon bia nữa và quay trở lại công chuyện dang dở. Anh đã say. Anh sẽ
nhận điều này, nếu ai đó có hỏi. Nhưng không có ai ngoài Paul, con mèo, và máy
vi tính của anh.
Có một
bức hình phụ nữ trên màn hình và cô có nét trông giống Denise. Chỉ có một vẻ
giả tạo, xa lạ ở cô ấy, không hề giống người thật.
“Denise,”
Paul nói. “Cô làm tôi thất vọng. Thực sự thất vọng.”
“Tôi có
thể làm gì để anh đổi ý, Paul?” người phụ nữ trên màn hình trả lời.
“Vấn đề
là ở đó, Denise. Tôi không biết nữa. Tôi chỉ biết là cô không còn như xưa nữa.
Có cái gì đó bị thiếu mất.”
Những tấm
ảnh của Denise thật ngoài đời nằm rải rác xung quanh bàn máy tính. Một số tấm
từ thuở Paul và Denise còn hạnh phúc bên nhau. Một trong những tấm lớn hơn đang
nằm trên máy scan hình.
“Để thêm
hoặc bỏ bớt đặc điểm ngoại hình hay tính cách, bạn chỉ cần nhấn nút shift
control và click vào lựa chọn phù hợp,” người phụ nữ trên máy nói.
Paul nhấn
nút shift control. Tấm hình trên màn hình thay đổi và chữ Cybersona xuất
hiện trên góc màn hình với bảng lựa chọn bên dưới.
“Để thay
đổi đặc điểm ngoại hình, ấn phím 1,” giọng phụ nữ ra lệnh. “Để đổi đặc điểm
tính cách, ấn phím 2.”
Paul nhấn
2.
“Bạn đã
vào kho dữ liệu tính cách của Cybersona. Bạn có thể đánh máy hoặc
nói lên đặc điểm tính cách bạn muốn thêm vào. Bạn có thể chọn một trong những
tính cách chung của chúng tôi hoặc tự tạo tính cách riêng cho mình.”
Paul gõ
vào bàn phím từ “c-o-n-đ-i-ế-m.”
“Xin lỗi.
Chúng tôi không tìm thấy đặc điểm tích cách này,” máy tính nói.
“Không có
à,” Paul nói. “Vậy còn con khốn tự cho mình là trung tâm thì sao?”

