Hồn hoang xác ảo - Chương 01 + 02 + 03

Dành
tặng Jan vợ tôi và các con Scott và Jeffrey
.

1

Garland Daniels nhìn ra ngoài cửa sổ văn
phòng mình và thấy cả núi sương mù đang tràn vào từ Thái Bình Dương, che phủ
mọi thứ trừ những ngọn tháp cao nhất của cầu Golden Gate. Hắn biết rằng sắp tới
sẽ là một trong những đợt sương mù dày, ẩm ướt, lạnh tê đập-thẳng-vào-mặt làm
sởn ốc như một cái chăn ẩm ướt hay như một miếng bông nhơn nhớt khổng lồ khi nó
chạm vào da thịt.

Hắn tiếp
tục theo dõi sự chuyển động chậm chạp của bức tường trắng đó khi nó tràn qua
cây cầu và bao phủ Đảo Alcatraz khi tiến vào thành phố bên Vịnh, làm buốt giá
cả đêm San Francisco.

Garland
là người duy nhất không phải gốc châu Á sống trong tòa nhà chung cư xây trước
thế chiến này, trong đây còn có một rạp chiếu phim Trung Hoa và một dịch vụ
cung cấp thức ăn. Căn hộ của hắn nhìn ra con phố chính của khu Chinatown trên
phố Grant. Việc là người thuê nhà không phải gốc châu Á duy nhất khiến hắn cảm
thấy đặc biệt. Về mặt hình thể, Garland hơi có vẻ tầm thường. Thân hình hắn gầy
gò và gương mặt thay đổi như tắc kè trong bức hình chụp so với bức hình khác,
không hề có hai bức nào giống nhau, tùy thuộc vào độ sáng và đổ bóng như thế
nào. Nhưng những gì thiếu hụt ở hình thể lại được hắn bù đắp nhiều hơn ở sự sắc
sảo trong tư duy. Garland là một thiên tài. Người ta không biết chỉ số IQ của
hắn là bao nhiêu vì hắn luôn đạt được 160 điểm trong những bài kiểm tra trí
thông minh Wechsler và đó là số điểm cao nhất có thể đạt được. Không câu hỏi
nào hắn không trả lời được hay bài toán nào mà hắn không tìm được cách giải.
Cho đến giờ, nó là vậy.

Garland
quay khỏi cửa sổ và trở về với vấn đề của mình, một vấn đề mà hắn đã vật lộn
trong nhiều tuần, một vấn đề hoàn toàn không liên quan gì đến công việc mà lẽ
ra hắn phải đang thực hiện.

[Chúc bạn đọc sách vui
vẻ tại www.gacsach.com - gác nhỏ cho người yêu sách.]

Ở tuổi
25, Garland đã khẳng định mình là một trong những chuyên viên an ninh mạng hành
nghề tự do giỏi nhất khu vịnh này. Hầu hết khách hàng của hắn là những doanh
nghiệp nhỏ hoặc những nhân vật giàu có với những hệ thống vô tuyến và băng
thông rộng cần đến tường lửa tinh vi để ngăn dòng tấn công dường như bất tận
của những virus mới, phần mềm xâm nhập, len lỏi, và theo dõi.

Nhưng
thay vì hoàn tất phần việc mà mình đã nhận tiền, Garland đang bối rối trước lần
thứ mười thất bại khi cố gắng viết một chương trình ứng dụng đặc biệt cho niềm
đam mê gần đây của hắn, một trò chơi trí tuệ thực tế ảo mới trên internet tên
Cybersona, do một nhóm năm sinh viên bỏ
ngang Đại học Stanford viết nên.

Sử dụng
những phần mềm trí thông minh nhân tạo và thực tế ảo tinh vi, Cybersona cho phép người chơi không chỉ tạo
những nhân vật ảo cho mình, hay họ còn gọi là “con”, mà còn có thể tạo những
thế giới ảo để nhân vật của mình sống trong đó.

Với
Garland, chơi trò Cybersona thì gần như với việc đóng vai
Thượng đế nhất mà hắn từng đạt được. Trong trò Cybersona, Garland
không còn là một con mọt máy tính gầy gò, cận thị nữa. Trong Cybersona,
hắn cao thước tám, với cơ bắp hoàn hảo, và sở hữu những sức mạnh siêu nhiên như
di chuyển đồ vật và khả năng ngoại cảm. Cơ bản là, hắn có thể khiến đồ vật bốc
cháy bằng cách tập trung tinh thần và dự đoán được tương lai. Chính vào một
trong những đợt làm việc căng thẳng hơn bình thường đó mà Garland nảy ra ý
tưởng viết một trình ứng dụng đặc biệt có thể khiến những người khác phải ganh
tị. Nhưng không may, hắn vẫn chưa
nắm bắt được thiết kế chương trình phức tạp cần cho trình ứng dụng đó.

Khẩu hiệu
của trò Cybersona là “Nếu bạn tưởng tượng ra được cái gì,
chúng tôi làm ra được cái đó”.

Nếu đó là
sự thật, Garland nghĩ, vậy sao tụi bây không thể tạo ra cái tao đang tưởng
tượng?

Garland
đang định kiện những người viết ra Cybersona vì tội quảng cáo sai sự thật thì
nhạc chuông điện thoại di động của hắn vang lên giai điệu “Back Door Man
của nhóm The Doors. Hắn nhìn màn hình và nhận ra đó là số của khách hàng phiền
phức mà lẽ ra hắn phải viết xong chương trình cho họ. Hắn để hộp thư thoại trả
lời. Hơn nữa, hắn vẫn chưa trễ hạn đến vậy. Trong khoảng một tiếng nữa hay hơn,
hắn sẽ hoàn thành nó và kiếm được thêm mười ngàn đô.

Một ngày
làm việc quá tốt. Tuy nhiên, nếu hắn có thể bẻ khóa được đoạn mã để có thể tạo
được trình ứng dụng đặc biệt cho Cybersona thì thế giới mà hắn
từng biết trước đây sẽ trở nên một nơi hoàn toàn khác biệt.

Hắn nhìn
đồng hồ và quyết định gác vấn đề Cybersona sang một bên và quay lại với cái máy
chủ chậm chạp mà một công ty phát hành video tin tức đã chi tiền để hắn nâng
cấp. Hắn tính rằng mình có thể xử gọn chuyện này trong một tiếng và đến căn hộ
của Suzy trễ nhất là mười giờ.

Trong lúc
lại bắt tay vào với trang web của khách hàng, Garland tự hỏi liệu có nên mặc
thêm áo khoác trước khi ra ngoài không. Hắn nhận thấy không khí ùa vào qua cửa
sổ mở toang trong căn hộ trên phố Grant của hắn đã giảm mười độ kể từ lúc mặt
trời lặn và có lẽ sẽ giảm thêm mười độ nữa khi sương mù xuống đậm.

Garland
thích sương mù, cái cách mà lớp sương lạnh tẩy sạch không khí bụi bặm thành phố
như một ly rượu pha sô đa khổng lồ. Không khí luôn tươi mới hơn sau khi sương
mù kéo qua và đường phố cũng như vỉa hè đều lấp lánh dưới ánh đèn đường.

2

Ở vùng rìa phía Bắc của khu Chinatown và khu bãi biển
phía bắc San Francisco, những con phố, bình thường thì chen chúc du khách, giờ
đây gần như vắng lặng khi sương mù tràn xuống các ngõ ngách và những con đường
bên sườn đồi.

Đây là
kiểu đêm mà Raymond Lee thích nhất. Raymond là đại ca của băng Mãnh Long phố
Street và sương mù là bạn gã. Không như Garland, người thích sương mù vì khả
năng tẩy rửa của nó, Raymond đánh giá cao những đặc tính khác. Chẳng hạn, sương
mù làm giảm bớt khách bộ hành và là lớp màn che lý tưởng những khi cần thiết.
Những lúc đó thường là khi Raymond và đàn em cần trốn khỏi những đợt truy bắt
vì tiêu thụ hàng gian.

Ở tuổi
22, Raymond là đứa lớn nhất và nhiều kinh nghiệm nhất băng Mãnh Long, gồm tám
thằng gốc châu Á trưởng thành trong bán kính hai khu nhà tính từ đường hẻm hắn
đang đứng. Đứa nhỏ nhất 14 tuổi. Raymond trở thành đại ca của tụi nó từ năm
ngoái, thừa hưởng từ Jackie Lee (không có họ hàng với Raymond) nằm khám bảy tới
mười năm ở Chino vì tội tàng trữ và mua bán một lô hàng, khoảng nửa ký hàng
trắng có tên là China White.

Một chiếc
Chavy Impala mới đánh bóng lại, màu đen, được “độ” lại thành gầm thấp, thân xe
bóng loáng của nó chỉ cao hơn lề đường khoảng năm phân, chậm chạp bò theo đường
Broadway tới ngã tư cắt phố Grant. Mấy cửa kính trên chiếc xe dài, bóng loáng
đó được nhuộm tối đến mức bạn tự hỏi làm sao tài xế thấy đường mà chạy. Chiếc
xe dừng lại ngay ngã tư, rồi quẹo trái vào phố Grant, chầm chậm chạy qua con
hẻm nơi Raymond và đàn em đang ẩn trong bóng tối và sương mù.

Lớp sơn
bóng còn mới đến nỗi Raymond có thể nghe thoang thoảng mùi dầu chùi rửa Turtle
Wax khi chiếc gầm thấp chạy qua. Gã quan sát chiếc xe trong khi dùng tay ra
hiệu sau lưng cho đám đàn em đứng yên. Khi chiếc xe đã chạy qua, Raymond hạ tay
xuống và những tên châu Á còn lại tiếp tục kiểm tra lại mấy khẩu tự động.

Khi lần
đầu nghe tin một băng Mỹ Latinh nói đến chuyện dời sang khu North Beach, gã
không tin. Nhưng chuyện đó đang từ từ diễn ra, khi những băng nhóm gia đình Ý
kiểu cũ đã rời khỏi khu quanh đây và tụi Trung Quốc, cùng với một đám những
thằng trẻ măng, dị hợm không rõ gốc gác, kéo đến chiếm đóng. Chúng không quan
tâm ai bán thứ ma túy của chúng.

Vấn đề
là, theo Raymond Lee thấy, là tụi Mỹ Latinh có vấn đề về lãnh địa và do đó
không hài lòng với việc bán ma túy trên phố Grant đoạn ở phía bắc đại lộ
Telegraph. Người ta thấy hai thằng Mỹ Latinh làm ăn ở tuốt phía nam tới tận
Stockton. Đêm nay, Raymond Lee sẽ dạy cho
mấy cái thằng gốc Mỹ lấn sân này một bài học địa lý khó quên.

Phía bên
kia đường đối diện con hẻm, Floyd Harrison ngồi sau tay lái chiếc bốn chỗ màu
đen của nhà nước tự hỏi khu Chinatown đã phát triển ở bắc Broadway như thế nào.
Khi đồn trú ở Đảo Treasure vào giữa thập niên 1970, Harrison và đám bạn thủy
thủ thường la cà vào buổi tối và những ngày cuối tuần trong những hộp đêm ngực
trần và quán cà phê híppy nằm dọc theo phố Broadway và phố Grant. Thời đó khu
Chinatown còn chưa lan tới Broadway. Và phố Broadway là chỗ bắt đầu khu North
Beach và nó vẫy gọi những đám thủy thủ cô đơn ra ngoài chơi một đêm ở quán
R&R, mà họ thích gọi là, S&T - say và tình. Giờ đây, cả những quán rượu
ngực trần lẫn những quán cà phê đều dẹp hết, thay vào đó là các khu chợ Tàu,
những quán cà phê internet, và cửa hàng điện thoại di động.

Harrison
đã bước sang tuổi 50 khi ông chấp nhận thuyên chuyển đến San Francisco. Đây là
chuyến đi tuần đầu hôm của ông với Cục Phòng Chống Ma Túy (DEA). Hai mươi năm
phục vụ Hải quân đồng nghĩa với việc ông sẽ về hưu ăn lương của DEA sau mười
năm. Giờ này năm sau, Floyd Harrison có lẽ đã là một gã tự do thoải mái. Không
còn những đêm nhàm chán với việc theo dõi phí công, dù rằng ca theo dõi đêm nay
có thể gặt hái được gì đó. Thực ra, nó phải gặt hái cái gì đó vì chính Harrison
là người thuyết phục được viên chỉ huy đơn vị cho ông lấy thêm sáu nhân viên
nữa để phòng khi có tình huống cần bắt giữ. Một thằng nghiện ma túy tổng hợp đã
mách cho Harrison biết có thể có một vụ giao hàng giữa hai băng nhóm thù địch,
đó là lý do khiến ông đậu xe bên kia đường đối diện con hẻm nơi băng Mãnh Long
phố Grant đang tụ tập. Harrison đã từng dùng thông tin của tên nghiện này trước
đây và thường thì tin tức đáng tin cậy. Ông cần một vụ bắt giữ ra trò. Có tin
đồn rằng những nhân viên thiếu năng lực sẽ bị giảm biên chế, bị chuyển khỏi
ngành với mức trợ cấp giảm một nửa hoặc ba phần tư. Chuyện chó chết, Harrison
nghĩ. Đêm nay sẽ có người bị gục. Nhưng trước hết ông phải bắt quả tang được
nghi phạm, có băng ghi hình, và với chất lượng độ nét cao.

Harrison
xem đồng hồ đến lần thứ một trăm và cố gắng trông có vẻ kín đáo trong cái áo
khoác xanh với hàng chữ DEA màu vàng nằm trong vòng tròn trên ngực như một đích
ngắm. Ông cầm ống nhòm hồng ngoại ban đêm mà các tay bắn tỉa thường lắp vào
súng và đặt nó lên mắt trái. Qua ống ngắm, ông có thể thấy tám bóng người trong
con hẻm tối kế bên khu chợ Tàu. Cho dù có ống nhòm ban đêm, nhưng cũng khó mà
nhìn vào trong hẻm do sương mù, nếu đó là nơi mà có bất kỳ vụ làm ăn nào sắp
diễn ra.

Harrison
hạ ống nhòm xuống và bắt đầu tự hỏi liệu mình có chọn nhầm chỗ đậu xe không.
Nhưng bây giờ có làm gì thì cũng đã quá trễ. Bất cứ chuyển động nào lúc này
cũng sẽ làm lộ vị trí của ông và toàn bộ chiến dịch này sẽ tiêu tan. Ông đã bố
trí các nhân viên ở bốn địa điểm quanh con hẻm, chờ lệnh của ông.

Ông chĩa
ống nhòm vào chiếc xe gầm thấp màu đen vừa mới quẹo vào phố Grant.

Harrison
bấm vào bộ đàm.

“Tôi nghĩ
nó sắp bắt đầu,” ông thì thào. “Giữ nguyên vị trí đến khi tôi ra lệnh.”

“Tôi thấy
một chiếc xe đang tiến đến,” giọng nói trong bộ đàm rọt rẹt vang lên.

“Đó chắc
là đội khách,” Harrison nói.

“Anh có
chắc tụi này sẽ chơi đẹp với nhau không?” một giọng khác hỏi. “Tôi không bao
giờ nghĩ băng Mãnh Long sẽ chịu chia lãnh địa.”

“Chúng ta
đang trong nền kinh tế toàn cầu mà. Chuyện buôn bán xuyên biên giới diễn ra ở
khắp nơi,” Harrison nói.

“Anh là
sếp ở đây đó, Harrison,” giọng thứ ba cất lên. “Chỉ hy vọng tin tình báo của
anh là chính xác.”

Harrison
định trả lời thì ông để ý thấy có chuyển động từ con hẻm hướng ra đường. Ông
nhìn qua ống nhòm lần nữa và thấy cửa tòa nhà cách con hẻm nửa khu nhà mở ra.
Một thanh niên, vai mang túi xách vi tính, đóng rồi khóa cửa trước khi bước dọc
con đường đi về phía con hẻm.

“Ôi
trời,” Harrison nói.

“Chuyện
gì vậy?” bộ đàm lách cách.

“Một
thường dân. Hắn ta đang bước thẳng về chỗ lộn xộn này,” Harrison nói.

“Anh ngăn
hắn lại được không?”

“Chặn thì
được nhưng như vậy sẽ làm hỏng cả chiến dịch này luôn.”

Harrison
dõi ống nhòm dọc con đường và nhìn theo chiếc xe gầm thấp lúc nó vượt qua chàng
thanh niên đang đi tới con hẻm. Đèn thắng của chiếc xe sáng lên khi nó dừng lại
và chuyển bánh để quẹo chữ U.

“Cứ đi
tiếp đi, anh bạn,” Harrison thì thầm với chính mình.

Sau đó
ông nâng ống nhòm lên và thấy chiếc xe gầm thấp đã trở đầu xong và bắt đầu đi
ngược đường một chiều để quay trở lại con hẻm.

3

Không để ý đến màn kịch sắp diễn ra xung quanh, Garland Daniels xốc túi xách của mình
vào vị trí dễ chịu hơn khi đang đi bộ theo phố Grant tới Broadway và cửa hàng
video ưa thích. Hắn hít thở bầu không khí lạnh ẩm trong khi bước đi, miệng tạo
ra âm thanh póc póc.

Ngay lúc
đó thì điện thoại di động của hắn đổ chuông. Hắn lôi ra và nhìn số đang gọi.
Lần này hắn quyết định trả lời.

“A lô. Ừ,
tôi nhận được tin nhắn của anh rồi. Hơi tốn thời gian hơn tôi tính một chút,
nhưng mà xong hết rồi. Tôi kết nối server của anh để phòng khi bị nghẽn mạng,
thì người sử dụng sẽ được chuyển ngay sang đường truyền khác. Ngoài ra tôi còn
tăng RAM thêm một gig và thêm hai ổ cứng phụ 300 gig nữa. Như vậy sẽ bảo đảm
tải bất kỳ đoạn phim nào. Tôi cũng gỡ bỏ hai phần mềm ăn cắp và mấy con virus
khó chịu. Hãy nâng cấp hệ thống của anh liên tục và gọi cho tôi nếu có nghi ngờ
bị xâm nhập. Tôi đã e-mail hóa đơn cho anh rồi. Gặp lại sau.”

Garland
đã định cất điện thoại. Thay vì vậy, hắn gọi số khác bằng một phím - chế độ gọi
nhanh.

“Chào
Suze. Anh biết. Nhưng mà chưa trễ lắm mà. Tụi mình vẫn kịp xem phim hay làm gì
đó mà. Anh vừa mới kiếm được chút đỉnh. Anh muốn ăn mừng. Anh sẽ mang theo món
em thích nhé, vài món Thái và một DVD phim. Nửa tiếng nữa anh tới. Tuyệt.”

Garland
cắn môi dưới và tắt điện thoại. Ôi Suzy, sao mình may mắn vậy nhỉ? Mình gặp cô
ấy ở Đại học San Francisco. Cô đang theo học lớp tâm lý học quái dị và hai
người tâm đầu ý hợp, ban đầu là bạn bè, rồi khi bạn trai Suzy, một gã tốt
nghiệp Berkeley, đánh cô thâm tím mắt, thì Garland có mặt để xoa dịu cơn đau.
Garland biết rằng cô hoàn toàn ngoài tầm của mình xét về mặt diện mạo, nhưng
những thiếu sót về hình thể của hắn, lại được bù đắp bằng sự hóm hỉnh và trí
thông minh. Suzy nể phục tài nghệ vi tính của hắn. Trong việc lập trình sáng
tạo thì hắn đã đạt tới đai đen. Và chuyện này khiến cô thấy hấp dẫn hơn bất kỳ
cơ bụng sáu múi nào.

Từ trong
xe nhìn ra, Floyd Harrison có cảm giác như thế giới đang chuyển động chậm lại.
Ông nhớ lại lời chỉ dẫn có được từ những tháng làm cảnh sát chìm và thu thập
tin tình báo để từ đó cho ông thông tin cần thiết để hình thành chiến dịch này.
Ông nhớ đến lời một trong những đặc vụ đã nói, rằng thật vô lý khi hai băng
nhóm thù địch lại đột nhiên bỏ qua hàng thập kỷ thù địch và bắt đầu làm ăn
chung với nhau. Có thể lần này người chỉ điểm của ông hiểu sai thông tin. Một
thằng nghiện ma túy tổng hợp thì đáng tin cậy cỡ nào? Có chuyện tồi tệ gì đó
sắp xảy ra. Harrison có thể cảm thấy điều đó. Tuy nhiên, ông cũng cảm thấy chắc
chắn rằng sắp tới sẽ có chuyện còn lớn hơn nữa và vấn đề chính là ở đó. Tối nay
sẽ có vụ bắt bớ đây.

Ông quan
sát kỹ chiếc xe đen gầm thấp khi nó chầm chậm bò dọc con đường, vẫn ở phía sau
anh chàng đi bộ trên lề đường. Có thể chúng sẽ đợi đến khi mọi thứ chắc ăn. Ông
chỉ có thể hy vọng vậy. Ông đã từng trong những tình huống như vậy rồi, khi mọi
chuyện hóa ra hỏng bét vì một nguyên nhân không thể đoán trước được. Sự tự tin
của ông bắt đầu tan đi khi những câu hỏi xoay vòng trong đầu. Lỡ đây không phải
là một vụ giao dịch làm ăn thì sao? Lỡ đây là một cuộc chiến thì sao?

Garland
đang nghĩ xem nên chọn DVD phim nào thì nghe tiếng xe sau lưng. Hắn ngừng lại
và quay ra đường, thấy chiếc xe màu đen đang chạy ngược con đường một chiều
này.

“Ê,”
Garland la lên. “Đang đi ngược chiều đó.”

Tài xế xe
giảm tốc độ xuống còn khoảng năm dặm một giờ và một bên cửa kính đen từ từ hạ
xuống khi chiếc xe tiến đến Garland, người đang đứng giữa chiếc xe và con hẻm.

“Phố Grant
là đường một chiều, chiều này nè,” Garland nói, chỉ về phía bắc.

Có chuyển
động trong con hẻm phía bên phải khiến hắn chú ý. Hắn quay lại thì thấy tám
bóng người từ trong hẻm phủ sương mù đang đi về phía mình. Chúng hình như có
mang vũ khí.

Chuyện
này không ổn rồi, Garland nghĩ.

Khu chợ.
Có thể hắn sẽ kịp chạy đến khu chợ.

Harrison
đang thò tay tới nắm cửa thì thấy một thằng gốc Latinh, quàng một cái khăn ca
rô quanh cổ, đang nhắm khẩu Uzi tự động qua kính sau của chiếc xe gầm thấp.

“Ôi
không,” Harrison la lên khi dịch người mở cửa.

“Chuyện
gì vậy?” điện đàm kêu rọt rẹt.

“Một
thường dân đang đi vào giữa đám chúng nó,” Harrison la lên.

“Đây là
vụ của anh đó. Anh nói vậy mà.”

Harrison
đang định can thiệp thì thấy Garland quay mình chạy vào khu chợ Tàu. Ông nhắm
mắt, thở ra một hơi rồi thu cái tay run rẩy của mình khỏi tay nắm cửa xe.

“Ơn trời.
Cha đó sẽ vào được khu chợ rồi.”

Garland
bắt đầu đi tới khu chợ thì thấy một bàn tay bên trong cửa kính quay bảng “Mở
cửa” thành ra “Đóng cửa”.

Hắn chạy
lao tới cửa và la lên, “Ê. Mở cửa ra. Giúp tôi với! Làm ơn! Có chuyện khẩn
cấp!”

Hắn nhìn
qua cửa sổ và thấy có người ở cuối chợ đang tắt đèn, bước ra nhà sau, và đóng
cửa.

“Ê,”
Garland gào lên trong khi tay vặn nắm cửa, rồi biết chắc rằng nó đã khóa trái.
“Không!”

Bước lui
khỏi cánh cửa chính, Garland thấy tim mình bắt đầu dồn dập. Hắn lập tức móc
điện thoại ra. Ngay lúc đó hắn nghe một loạt tiếng kim loại lách tách. Nếu từng
trải một chút, hắn hẳn sẽ nhận ra đó là tiếng lên đạn của súng.

Garland
đang giơ điện thoại lên giữa chừng thì thấy khuôn mặt giận dữ của Raymond Lee
hiện ra từ bóng tối của con hẻm.

“Ôi Chúa
ơi!” Harrison la lên, khi ông vươn người tới cửa xe.

“Chuyện
gì vậy?” giọng từ điện đàm vang lên.

“Anh ta
bị kẹt giữa bọn chúng. Tôi vào đây.”

“Vụ này
của ông đó, Harrison.”

Harrison
kéo chốt an toàn khẩu Sig Sauer chín li rồi bước ra khỏi xe.

Garland
từ từ bước lui khỏi con hẻm và bắt đầu bấm số 911 trên điện thoại trong khi
đứng chôn chân giữa đám sát thủ trong hẻm với chiếc xe ngoài đường.

Họng của
ba khẩu tự động ló ra khỏi lớp sương mù, chĩa về chiếc xe khi Harrison chạy lao
qua con đường, ban đầu ông chĩa súng vào chiếc xe gầm thấp, sau đó chĩa vào
trong hẻm.

“Bỏ vũ
khí xuống!” ông la lên.
“Đừng bắn!”

Họng súng
trong xe chuyển hướng qua Harrison và một phát đạn nổ ra từ họng súng ló ra ở
cửa sau chiếc gầm thấp. Harrison cúi người né khi viên đạn bay ngang qua mặt
ông, phả luồng hơi nóng lên má ông. Ông nhắm và bắn lại chiếc xe cũng vừa lúc. Garland, trong tình trạng hoàn
toàn bối rối, ra khỏi đường đạn giữa băng trong xe và băng trong hẻm và bước
ngay vào giữa Harrison và chiếc gầm thấp.

Garland
lập tức cúi người khi nghe tiếng nổ từ đâu đó sau lưng. Đó là âm thanh cuối
cùng mà Garland nghe được khi cảm thấy mình bị đập trúng gáy bởi một lực kinh
khủng nóng hổi quăng mặt hắn xuống lề đường. Mấy ngón tay của hắn nắm chặt lấy
điện thoại di động khi bàn tay hắn đập xuống lề đường. Một sức nóng thiêu đốt
lan ra từ gáy hắn và chìm vào đâu đó sau ót. Rồi hắn không còn cảm thấy gì nữa
khi màn đêm bao phủ lấy hắn.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.