Hồng lâu mộng - Chương 073
Chương 73: Hồi thứ bảy
mươi ba
A hoàn ngơ ngẩn, nhặt
nhầm túi xuân tình;
Tiểu thư ươn hè bỏ lơ
dây kim phượng.
Dì Triệu đương nói
chuyện với Giả Chính, chợt nghe thấy ầm một tiếng ở bên ngoài, không biết vật
gì rơi, liền hỏi, hóa ra cái cửa sổ nhà ngoài không cài chặt then rơi xuống. Dì
Triệu mắng bọn a hoàn mấy câu, dẫn họ đi đóng lại tử tế rồi vào sửa soạn cho
Giả Chính đi nghỉ.
Trong viện Di Hồng. Bảo
Ngọc vừa mới đi ngủ, bọn a hoàn cũng định đi ngủ, chợt nghe có người đến gõ
cửa, bà già ra mở, thấy a hoàn của dì Triệu là Tiểu Thước đến. Họ hỏi, nó không
trả lời, cứ đi thẳng vào trong nhà tìm Bảo Ngọc. Bảo Ngọc mới đi ngủ; bọn Tình
Văn đương ngồi cười đùa ở cạnh giường, thấy nó đến, đều hỏi:
- Việc gì mà bây giờ còn
chạy đến?
Tiểu Thước vội khẽ nói
với Bảo Ngọc:
- Cháu đến mách cậu cái
tin này, vừa rồi dì Triệu cháu thì thào với ông lớn, không biết nói chuyện gì
về cậu. Cháu chỉ nghe thấy hai tiếng “Bảo Ngọc” thôi. Cháu lại mách cậu, cẩn
thận không ngày mai ông sẽ hỏi đến cậu đấy!
Tập Nhân sai người giữ
nó lại uống nước, nhưng sợ cửa đóng, nó chạy đi ngay.
Bảo Ngọc nghe nói, biết
là dì Triệu xấu bụng, coi mình như quân thù, nhưng không biết dì ấy đã nói
những gì, nên cứ như Tôn Ngộ Không sợ “vành kim cô” ấy, chân tay bủn rủn, gan
ruột bồn chồn. Nghĩ mãi không biết làm thế nào, đành phải học ôn sách, phòng
ngày mai cha có hỏi đến chăng. Cốt sao sách vở không sai nhầm, thì việc gì cũng
có thể che lấp được. Nghĩ vậy, Bảo Ngọc khoác áo đứng dậy, trong bụng băn
khoăn: “Mấy lâu nay mình cho là không ai hỏi đến, cứ bỏ khuấy đi. Nếu biết thì
ngày nào mình cũng đem ra ôn lại ít nhiều mới được. Nay tính nhẩm lại, những
sách có thể đọc thuộc lòng được, chẳng qua chỉ mấy quyển “Đại học”, “Trung
dung” và “Luận ngữ”, “Mạnh Tử thượng” nhớ mang máng độ một nửa, bất chợt cha
hỏi một câu, chắc không thể đọc được. “Mạnh Tử hạ” thì quên gần hết. “Ngũ kinh”
thì vì gần đây làm thơ thường hay lượm lặt ít nhiều trong đó, nên thuộc lõm
bõm, có thể nói qua được. Những sách khác tuy không nhớ hết, nhưng may ngày
thường cha chưa bắt học, dù không biết cũng không sao. Về cổ văn như “Tả
truyện”, “Quốc sách”, “Công dương”, “Cốc lương”, Hán văn, Đường văn, thì mấy
năm trước cũng đã đọc qua, nhưng vài năm nay bỏ nhãng đi, khi cao hứng thì đọc,
đọc rồi lại quên, - mình chưa chịu khó nghiền ngẫm thì nhớ sao được? Việc này
cũng khó che đậy đấy. Lại còn văn bát cổ nữa, vì mình ngày thường rất ghét, cho
đó không phải văn của thánh hiền đặt ra, nên không thể khơi sâu được ý nghĩa,
chẳng qua chỉ là cái bậc thang để câu mồi danh lợi của bọn người sau đó thôi.
Vì khi Giả Chính sắp ra đi, có chọn hơn một trăm bài cho Bảo Ngọc đọc, nhưng
đều là thời văn của người thỉnh thoảng một vài vế trong câu “thừa” hay câu
“khởi” cũng có ý sâu sắc hoặc trôi chảy, hoặc đùa bỡn, hoặc thương cảm làm xúc
động lòng người, tình cờ đọc lên, thấy có hứng thú trong chốc lát, nhưng rút
cục chẳng để tâm nghiền ngẫm được trọn một bài nào. Bây giờ mình ôn tập bài nọ,
sợ ngày mai cha hỏi bài kia; ôn tập bài kia lại lo cha tra bài nọ, dù ôn tập cả
đêm cũng không thể hết được. Bảo Ngọc càng thấy sốt ruột. Việc đọc sách của Bảo
Ngọc chẳng quan trọng gì, nhưng phiền nhất là các a hoàn không ai ngủ được. Tập
Nhân thì đứng bên cạnh cắt ngọn đèn và pha nước, bọn hầu nhỏ thì mệt lử, ngủ gà
ngủ gật.
Tình Văn liền mắng:
- Bọn ranh con này! Ngủ
trương xác suốt ngày suốt đêm không đủ à, giờ mới thức khuya một tí mà đã thế.
Nếu còn thế nữa ta sẽ lấy kim đâm mấy cái cho mà coi!
Bỗng bên ngoài có tiếng
“cộc” một cái, té ra một a hoàn ngồi ngủ gật, đầu va vào vách. Nó bàng hoàng
tỉnh dậy, nghe đúng câu mắng của Tình văn. Nó hoảng hốt tưởng Tình Văn đánh
mình, liền khóc van:
- Thưa chị! Em không dám
ngủ nữa!
Mọi người đều cười ầm
lên.
Bảo Ngọc vội khuyên:
- Thôi tha cho nó. Đáng
lẽ nên bảo chúng nó đi ngủ. Các chị cũng nên thay nhau đi ngủ đi.
Tập Nhân nói:
- Ông trẻ ơi! ông cứ lo
việc của ông đã! Chỉ còn một đêm nay nữa, ông hãy cứ để bụng vào mấy quyển sách
đi. Nếu qua được bước này, thì ông tha hồ, muốn nghĩ gì cũng chẳng sợ lầm lỡ
nữa.
Bảo Ngọc thấy Tập Nhân
nói thiết tha thế, đành lại phải đọc. Đọc được mấy câu, thấy Xạ Nguyệt pha một
chén nước đưa cho nhấp giọng. Bảo Ngọc thấy Xạ Nguyệt chỉ mặc một áo lót, liền
bảo:
- Đêm khuya rồi, trời
lạnh, chị phải mặc áo ngoài vào mới được.
Xạ Nguyệt trỏ vào sách,
cười:
- Cậu thử tạm quên chúng
tôi đi, hãy để bụng vào đây đã.
Nói chưa dứt lời thì
Xuân Yến, Thu Văn từ cửa buồng sau chạy vào, kêu ầm lên:
- Nguy rồi! Có một người
ở trên tường nhảy xuống!
Mọi người hỏi: “Ở đâu?”
Rồi lập tức gọi người đi tìm khắp nơi.
Tình Văn thấy Bảo Ngọc
suốt đêm nghiền ngẫm sách vở vất vả tinh thần, chưa chắc ngày mai đã được yên
thân, nên trong bụng nghĩ ra một kế cho Bảo Ngọc thoát nạn. Chợt gặp việc kinh
khiếp này, liền nói với Bảo Ngọc:
- Gặp dịp này, cậu hãy
giả cách ốm, cứ bảo là vì sợ quá.
Câu nói trúng vào tim
đen, Bảo Ngọc gọi ngay người canh đêm đến bắt họ thắp đèn đi lục lọi các nơi,
nhưng không thấy dấu vết gì cả. Họ đều nói:
- Chắc là các cô bé buồn
ngủ quá, hoa mắt lên, thấy gió đập cành cây lại nhận nhầm là người đấy thôi.
Tình Văn nói:
- Đừng nói bậy! Các
người tra xét không nghiêm ngặt, sợ mang lỗi, nên giở cách để chống đỡ! Vừa rồi
không phải chỉ một người trông thấy, cậu Bảo cùng chúng tôi đi ra xem, đều thấy
rõ cả. Hiện giờ cậu Bảo sợ quá tái hẳn mặt đi, khắp người nóng ran, tôi phải
lên buồng lấy thuốc an thần cho cậu ấy uống đây; nếu bà hỏi, tôi phải trình rõ,
chẳng nhẽ theo lời các người rồi bỏ qua đi hay sao?
Mọi người nghe xong, sợ
quá, không dám nói gì, đành phải đi tìm các ngả. Tình Văn và Thu Văn cùng đi ra
xin thuốc, cố ý làm ầm lên cho mọi người biết là Bảo Ngọc sợ quá đâm ốm. Vương
phu nhân sai người đến thăm và cho thuốc, dặn dò các người canh đêm phải tra
xét cấn thận; lại cho tra hỏi bọn canh đêm ở cửa thứ hai vườn bên cạnh. Vì thế
đèn đuốc khắp vườn, nhộn lên cả đêm. Đến trống canh năm, lại truyền cho bọn
quản gia xét hỏi lại kỹ càng.
Giả mẫu nghe nói Bảo
Ngọc bị kinh khiếp, hỏi kỹ ngọn ngành, mọi người không dám giấu, đành phải
trình rõ, Giả mẫu nói:
- Ta không ngờ có việc
này. Lâu nay bọn canh đêm không được cẩn thận, nhưng đó còn là việc nhỏ, chỉ sợ
chính chúng nó lại là trộm cướp cũng chưa biết chừng!
Hình phu nhân và Vưu thị
đều đến hỏi thăm. Lý Hoàn, Phượng Thư cũng đứng hầu đấy, nghe Giả mẫu nói thế,
đều lặng thinh cả. Chỉ có Thám Xuân đứng ra cười nói:
- Gần đây chị Phượng
cháu không được khỏe, nên những người trong vườn ngông cuồng hơn trước nhiều.
Lúc đầu chẳng qua họ lén lút, một chốc một lát hoặc khi canh đêm, ba bốn người
họp nhau gieo xúc xắc, đánh bài chơi đùa, chỉ cốt đỡ buồn ngủ thôi. Nhưng bây
giờ càng ngày họ càng bừa bãi, mở hẳn sòng bạc, thậm chí có người chứa gá,
người làm cái, được thua hàng dăm, ba chục quan. Trước đây nửa tháng đã xảy ra
việc tranh giành đánh nhau.
Giả mẫu nghe thế, liền
nói:
- Cháu đã biết rõ, sao
không đến trình
- Cháu thấy mẹ cháu bận
việc, lại mấy hôm nay không được khỏe, nên cháu chưa dám trình, chỉ mách chị Cả
và những người coi việc, đã dặn bảo họ mấy lần, bây giờ cũng đã đỡ rồi.
Giả mẫu nói:
- Các cô biết đâu được
những chuyện tai hại trong đó. Cháu tưởng đánh bạc là việc thường, chỉ có thể
xảy ra tranh cãi nhau là cùng; chứ biết đâu ban đêm đã đánh bạc thì tất phải
uống rượu, đã uống rượu thì tha hồ mở cửa hoặc đi mua thức ăn, tìm người này
người nọ, trong lúc đêm khuya vắng người, thôi thì đủ cả giấu trộm, dắt cướp,
chẳng từ việc gì. Vả chăng những người ở cùng với các cháu trong vườn đều là
bọn bàn bà con gái, kẻ hay người dở lẫn lộn, trộm cướp còn là việc nhổ, chứ nếu
xảy ra chuyện gì không hay, lỡ có dính líu đến, thì không phải chuyện chơi!
Việc này bỏ qua sao được?
Thám Xuân nghe nói lẳng
lặng về chỗ ngồi. Phượng Thư tuy chưa khỏi hẳn, nhưng tinh thần vẫn còn tỉnh
táo, thấy vậy liền nói:
- Khốn nỗi cháu lại
đương ốm!
Rồi quay ra sai người đi
gọi ngay bốn người đàn bà tổng lý trong nhà là bọn vợ Lâm Chi Hiếu đến, quở
trách họ ngay trước mặt Giả mẫu. Giả mẫu truyền đi tra xét ngay những nhà chứa
bạc. Người nào ra thú trước thì được thưởng, kẻ nào cố giấu thì phải phạt. Vợ
Lâm Chi Hiếu thấy Giả mẫu nổi giận, không dám thiên vị một ai, liền vào trong
vườn tra hỏi hết lượt. Mọi người đều chối quanh nhưng “cháy nhà ra mặt chuột”,
lúc lâu rồi cũng tra ra được ba sòng to, tám sòng nhỏ, tất cả có hơn hai mươi
con bạc. Bà ta dẫn đến trình Giả mẫu. Họ đều quỳ cả ở ngoài sân, lạy lục xin
tha.
Trước hết Giả mẫu hỏi
tên họ ba chủ sòng bạc lớn và số bạc có bao nhiêu? Trong số ba chủ sòng lớn có
một người là đôi con dì với vợ Lâm Chi Hiếu; một người là em gái nàng dâu thím
Liễu hiện làm bếp ở trong vườn; một người nữa là vú nuôi của Nghênh Xuân. Ba
người này đứng đầu, còn nữa không thể kể hết được. Giả mẫu sai đốt hết xúc xắc
và cỗ bài, tịch thu hết tiền đánh bạc đem chia cho mọi người; đánh mỗi người
đứng đầu bốn mươi gậy rồi đuổi cổ đi, nhất thiết không cho vào làm nữa; những
người theo hùa thì đánh hai mươi gậy, phạt ba tháng lương, bắt vào quét dọn nhà
xí. Lại quở trách vợ Lâm Chi Hiếu một trận.
Vợ Lâm Chi Hiếu thấy
người bà con làm mình mặt, đâm ra cụt hứng. Nghênh Xuân ngồi đấy cũng thấy
ngượng ngùng. Bọn Đại Ngọc, Bảo Thoa, Thám Xuân thấy vú nuôi Nghênh Xuân như
thế, cũng có ý thương tình, đều đứng dậy cười xin Giả mẫu:
- Bà vú này, xưa nay
không đánh bạc, không biết sao bây giờ lại tự nhiên thích vui thế. Xin bà nể
mặt cô H tha cho bà ấy một lần.
Giả mẫu nói:
- Các cháu không biết!
Những bọn vú này, người nào cũng cậy mình nuôi các cô các cậu, có chút thể diện
hơn người khác nên cứ hay so bì, càng đáng ghét hơn. Họ chỉ biết ton hót chủ
nhà che lỗi, thiên vị cho họ. Ta đã biết cả rồi. Ta vẫn muốn trị một đứa để làm
gương, thì vừa hay gặp ngay con mụ này. Các cháu đừng dây vào, ta đã có cách.
Bọn Bảo Thoa nghe nói
thế, đành phải thôi.
Một lúc, Giả mẫu đi nghỉ
trưa. Mọi người lui ra. Thấy Giả mẫu nổi giận, chưa ai đám về nhà, cứ phải ở
lại đấy chực chầu. Vưu thị đến nhà Phượng Thư nói chuyện phiếm một lúc nhưng vì
thấy chị ta cũng khó ở đành vào trong vườn nói chuyện phiếm với các chị em.
Hình phu nhân ngồi ở nhà
Vương phu nhân một lúc, rồi cũng vào chơi trong vườn. Vừa tới nơi, thấy a hoàn
nhỏ của Giả mẫu, tên là con Ngốc, đương tươi cười hí hớn đi lại, trong tay cầm
một vật gì xanh đỏ, cúi đầu vừa ngắm vừa chạy, không ngờ **ng phải Hình phu
nhân, nó ngẩng lên, thấy vậy, mới đứng lại.
Hình phu nhân nói:
- Con Ngốc kia, mày bắt
được cái gì mà thích thế? Đưa lại đây ta xem nào.
Con Ngốc mười bốn tuổi,
mới được tuyển vào làm những việc gánh nước, quét nhà ở trong nhà Giả mẫu. Giả
mẫu thấy người nó vạm vỡ, hai chân lại to, làm việc rất nhanh nhẹn gọn gàng,
tính lại ngu đần không biết gì cả, hễ nói ra là ai cũng bật cười. Giả mẫu thích
nó lắm, liền đặt tên cho nó là con Ngốc. Nó có lầm lỗi điều gì, được Giả mẫu
vui, nên cũng không bị trách mắng. Lúc rỗi việc, nó hay vào trong vườn chơi
đùa. Bấy giờ nó đương tìm bắt dế mèn ở sau núi đá, chợt trông thấy một cái túi
thơm(1) thêu chỉ ngũ sắc, không phải con chim cành hoa gì cả, mà là hai người
trần truồng đương ôm nhau, với mấy chữ đề. Con bé Ngốc này không biết đó là lối
khêu gợi xuân tình, trong bụng đắn đo: “Chắc là hai con yêu tinh đánh nhau
chăng? Nếu không, hẳn là hai người đánh nhau gì đây?” Nó đoán mãi không ra,
định mang về đưa Giả mẫu xem. Vì thế nó hí hửng chạy về. Thấy Hình phu nhân
hỏi, nó cười nói:
(1). Túi có ướp chất thơm.
- Bà nói rất đúng, thực
là một vật đáng yêu! Bà thử xem đây.
Nói xong nó đưa ra.
Hình phu nhân cầm xem,
sợ quá, vội nắm chặt lấy nó, hỏi ngay:
- Mày nhặt được cái này
ở đâu?
- Cháu đi bắt dế, nhặt
được ở sau núi đá
- Mày không được nói cho
ai biết. Cái này không đẹp đâu. Cả mày cũng đáng đánh chết nữa. Nhưng vì mày
vốn là con ngốc, từ nay không được nhắc đến nữa.
Nghe xong nó sợ tái mặt
đi, thưa: “vâng” rồi gục đầu tạ, ngơ ngẩn chạy đi.
Hình phu nhân quay lại
nhìn, theo sau đều là bọn hầu gái cả, không tiện đưa cho chúng, liền tự mình bỏ
vào ống tay áo, trong bụng rất lấy làm lạ, đoán mãi không biết cái này ở đâu
đến đây, nhưng không lộ ra nét mặt, đi thẳng vào buồng Nghênh Xuân. Vì vú nuôi
bị tội, Nghênh Xuân trong bụng khó chịu, thấy mẹ đến, liền ra mời vào. Uống
nước xong, Hình phu nhân nói:
- Con đã lớn rồi, vú
nuôi của con làm bậy như thế, sao con không răn bảo. Hiện giờ người ta đều tử
tế cả, riêng người nhà mình là xấu thôi. Thế là nghĩa thế nào?
Nghênh Xuân cúi đầu mân
mê tà áo, một lúc mới thưa:
- Con đã bảo bà ấy hai
lần, nhưng bà ấy không nghe, con cũng chẳng biết làm thế nào cả. Vả chăng bà ấy
là vú nuôi, chỉ có bà ấy bảo được con thôi, chứ con không thể bảo được bà ấy.
Hình phu nhân nói:
- Nói nhảm! Con có điều
không phải thì vú ấy bảo con; nhưng vú ấy phạm pháp, thì con phải lấy tư cách
là cô mà răn bảo. Nếu vú ấy không nghe, con trình mẹ biết mới phải. Bây giờ vỡ
lở ra, người ngoài biết, còn ra làm sao nữa! Hơn nữa vú ấy là nhà gá bạc, cũng
đã nói khôn nói khéo, mượn trâm vòng quần áo của con đi cầm để làm tiền vốn.
Con là người nhẹ dạ cả nể, chắc đâu không giúp đỡ ít nhiều. Nếu bị vú ấy lừa
mất, thì ta một đồng không có, rồi đây ngày tết, con ấy gì mà ăn mặc?
Nghênh Xuân cúi đầu mân
mê tà áo không nói gì cả. Hình phu nhân thấy vậy cười nhạt:
- Rút cuộc, chỉ có anh
con, chị dâu con là tiếng tăm lừng lẫy thôi! Cậu hai Liễn! Mợ Phượng! Cả hai
làm trời làm đất, việc gì cũng thu xếp đâu vào đấy, nhưng có một cô em thì lại
chả để ý gì đến. Nếu như con ta đẻ ra, thôi thì mặc kệ chúng. Nhưng con lại
không phải con đẻ của ta. Con với anh con, dù khác mẹ, vẫn là cùng cha, phải
nên chăm sóc lẫn nhau một chút, đừng để người ngoài chê cười. Ta nghĩ, việc đời
khó mà liệu định được. Con là con nàng hầu của ông Cả, con Thám Xuân là con
nàng hầu của ông Hai. Hai đứa đều như nhau cả. Mẹ con đã chết rồi. Nhưng kể ra,
mẹ con còn giỏi gấp mười dì Triệu, đáng lẽ con cũng phải hơn con Thám Xuân mới
phải.
Một người đứng hầu bên
cạnh thừa dịp nói:
- Cô tôi hiền lành phúc
hậu, có đâu như cô à người mồm mép láu lỉnh, làm em lại cứ đành hanh. Biết chị
như vậy, cô ấy chẳng vị nể chút nào.
Hình phu nhân nói:
- Anh chị ruột còn như
vậy, trách gì người ngoài.
Lúc đó có người vào
trình:
- Mợ Liễn sang hầu.
Hình phu nhân nghe nói,
cười nhạt mấy tiếng, rồi sai người ra bảo: “Mời mợ ấy về nhà nghỉ ngơi cho
khoe, ta không cần mợ ấy vào hầu.”
Sau lại có a hoàn coi
việc dò tin đến báo: “Cụ đã dậy rồi”. Hình phu nhân mới đứng dậy sang bên nhà
Giả mẫu.
Nghênh Xuân tiễn ra đến
ngoài sân mới vào, Tú Quất hỏi ngay:
- Thế nào? Hôm nọ cháu
đã trình cô cái dây vàng dát hạt châu buộc mũ không thấy đâu, cô cũng không nói
gì cả. Cháu đoán là bà vú đem cầm lấy tiền gá bạc, cô không tin cứ bảo là Tư Kỳ
cất, sai cháu đi hỏi Tư Kỳ, Tư Kỳ tuy ốm, vẫn nhớ rõ ràng. Nó nói là không cất,
vẫn để ở trong cái tráp trên giá sách, định để đến rằm tháng tám cho cô đội, cô
nên cho hỏi bà vú một tiếng xem.
- Hỏi làm gì? Chắc bà ấy
mang đi trang trải công nợ rồi. Tôi nghĩ bà ấy có vụng trộm lấy, cũng chỉ ít
lâu sẽ lại vụng trộm đem trả, ai ngờ bà ấy lại quên. Hôm nay xảy ra chuyện, có
hỏi bà ấy cũng vô ích.
- Khi nào lại quên? Bà
ấy biết tính nết của cô mới dám làm như thế. Cháu nghĩ, nên đến nhà mợ Hai
trình rõ việc này, rồi cho người đi hỏi bà ấy; hay là bỏ ít tiền ra chuộc cho
bà ấy để bớt việc đi, cô nghĩ thế nào?
- Thôi thôi! Bớt việc đi
là phải. Thà không có cái ấy thì thôi, còn sinh sự làm gì?
- Sao cô nhút nhát thế?
Cái gì cũng muốn bớt việc, thì sau này họ lừa cả cô nữa đấy! Cháu đi đây.
Tú Quất đi ngay. Nghênh
Xuân cũng không nói gì, mặc cho nó đi.
Ngờ đâu nàng dâu vú nuôi
Nghênh Xuân là vợ Ngọc Trụ, vì mẹ chồng có tội, đến nhờ Nghênh Xuân xin hộ.
Thấy họ đương nói chuyện mất dây vàng, nên chưa vào vội. Biết Nghênh Xuân ngày
thường là người nhu nhược, nên chúng không coi vào đâu. Giờ thấy Tú Quất nhất
định đi trình Phượng Thư, xem việc này khó lòng thoát tội, vợ Ngọc Trụ có ý kêu
van Nghênh Xuân, nên phải đi vào, trước hết cười nói với Tú Quất:
- Chị ơi, chị đừng sinh
sự nữa. Và thưa cô, dây vàng của cô là do mẹ chồng tôi già lẫn, đánh bạc thua,
không có tiền gỡ, đã mượn đem đi cầm, cũng ngày hai sẽ chuộc lại, nhưng chưa gỡ
được, nên phải để chậm, ngờ đâu lại xảy ra chuyện này. Dù sao cũng là đồ của
chủ, chúng tôi không dám để lâu, thế nào cũng phải chuộc về trả. Mong cô nghĩ
đến tình bú mớm từ nhỏ, đến xin với cụ, cứu vớt mẹ chồng tôi.
Nghênh Xuân nói:
- Chị ơi, chị đừng có
nghĩ mơ hồ như thế! Nếu đợi tôi đi xin hộ, thì chờ đến sang năm cũng chẳng ăn
thua gì. Vừa rồi chính chị Bảo và cô Lâm đến xin hộ, cụ còn chẳng nghe nữa là
nữa tôi. Tự tôi đã thấy ngượng rồi, lại đi mua thêm lấy cái ngượng nữa sao?
Tú Quất nói:
- Chuộc dây vàng là một
việc, đi xin hộ là một việc, không thể kéo cái nọ vào cái kia được. Chẳng lẽ cô
tôi không đi nói hộ, thì chị không chịu đền hay sao? Chị hãy đi lấy dây vàng về
đây đã rồi sẽ liệu.
Vợ Ngọc Trụ thấy Nghênh
Xuân dứt khoát từ chối, Tú Quất nói lại đanh thép, không biết trả lời ra sao,
bị bẽ mặt quá, nhưng biết rõ Nghênh Xuân xưa nay là người dễ dãi, liền quay lại
bảo Tú Quất:
- Chị ơi, chị đừng làm
ồn lên nữa, chị xem khắp phủ này, người vú nuôi nào chẳng nhờ thế các cô các
cậu kiếm ít nhiều lợi lộc? Chỉ có chúng tôi đây một là một hai là hai thôi, còn
các chị thì tha hồ mà lừa gạt người ta. Từ ngày cô Hình đến đây, bà Cả bắt phải
bớt tiền lương của cô ấy mỗi tháng một lạng để gửi cho bà mợ, như thế nhà này
vẫn phải sắm sửa những món cần dùng cho cô Hình, lại hụt đi một lạng. Thường
khi thiếu cái này, thiếu cái nọ, chẳng phải chúng tôi bỏ tiền ra bù, thì còn đi
hỏi ai nữa? Chẳng qua chúng tôi cũng xuề xòa cho xong đấy thôi. Tính đến bây
giờ, ít ra cũng phải bù mất ba mươi lạng rồi! Thế thì món tiền ấy của chúng tôi
mất toi à?
Tú Quất không chờ nói
hết, nhổ toẹt một cái nói:
- Chị làm gì mà phải mất
toi ba mươi lạng? Tôi hãy tính sổ cho chị xem. Cô đòi những món gì?
Nghênh Xuân nghe thấy vợ
Ngọc Trụ nói lộ việc riêng của Hình phu nhân, liền gạt đi, nói:
- Thôi, thôi! Không đòi
được dây vàng về thì thôi, chị đừng có vơ quàng vơ xiên làm ầm lên nữa. Tôi
cũng chẳng cần đến dây vàng. Nếu các bà có hỏi, tôi chỉ nói là đánh mất, cũng
chẳng can hệ gì đến chị. Chị về nghỉ thôi.
Rồi cô ta sai Tú Quất đi
pha nước. Tú Quất tức giận, nói:
- Cô tuy không sợ, nhưng
còn cháu đây để làm gì? Họ đã làm mất đồ vật của cô, lại còn nói bậy là cô tiêu
tiền của họ, bây giờ phải khấu trừ đi. Nếu bà Hai hỏi cô tại sao bấy nhiêu tiền
và cho là chúng cháu nhờ bão bẻ măng, ăn bớt xén gì chăng? Như vậy sao được.
Tú Quất vừa nói vừa
khóc. Tư Kỳ nghe thấy không chịu được cố gượng dậy, bênh vực Tú Quất, hỏi vặn
lại vợ Ngọc Trụ. Nghênh Xuân không can nổi, đi lấy quyển “Thái thượng cảm ứng
thiên”(2) ra xem.
(2). Sách dạy người làm điều lành, răn điều ác.
Bảo Thoa, Bảo Cầm, Đại
Ngọc, Thám Xuân, nghe Nghênh Xuân hôm nay khó chịu, bèn hẹn nhau đến an ủi. Họ
vừa vào sân, thấy mấy người đương đấu khẩu nhau. Thám Xuân nhìn qua cửa sổ,
thấy Nghênh Xuân ngồi tựa trên giường xem sách, như không nghe thấy gì. Thám
Xuân cũng buồn cười. Bọn a hoàn nhỏ vội vén rèm vào trình: “Các cô đến chơi
đấy”. Nghênh Xuân bỏ sách đứng dậy. Vợ Ngọc Trụ thấy người đến, có cả Thám Xuân
nữa, nên không ai ngăn cũng phải thôi, lẻn đi mất.
Thám Xuân ngồi xuống,
hỏi:
- Vừa rồi ai nói gì ở
trong này như là cãi nhau ấy?
Nghênh Xuân nói:
- Có gì đâu, chẳng qua
việc bé xé ra to, hỏi họ làm gì?
- Tôi vừa nghe thấy nói
nào là “dây vàng” nào là “không có tiền phải tiêu của bọn đầy tớ”. Vậy ai là
người tiêu tiền của đầy tớ? Có nhẽ nào chị lại phải tiêu tiền của họ à?
Tư Kỳ, Tú Quất đều nói:
- Cô nói phải đấy! Khi
nào cô tôi lại tiêu tiền của bọn họ?
Thám Xuân cười nói:
- Chị đã không tiêu tiền
của họ, thì chắc là chúng tôi tiêu của họ chứ gì? Gọi chị ta vào đây, tôi cần
hỏi một việc!
Nghênh Xuân cười nói:
- Thế mới buồn cười chứ!
Việc này có dính dáng gì đến các cô, lôi thôi với họ làm gì.
Thám Xuân nói:
- Như thế không đúng. Em
cũng như chị. Việc của chị cũng như việc của em. Người ta nói chị tức là nói
em. Nếu ở bên nhà em có ai oán trách em, chị nghe thấy cũng coi như là người ta
oán trách chị vậy. Chúng ta là chủ, tất nhiên không nghĩ gì đến việc tiền tài
lặt vặt, chỉ biết cần món nào lấy món ấy, đó là việc thường. Nhưng không biết
tại sao lại nói kèm cả việc dây vàng vào đấy?
Vợ Ngọc Trụ sợ bọn Tú
Quất tố giác việc mình ra, vội chạy vào tìm lời che giấu. Thám Xuân biết ý,
cười nói:
- Các chị thế mới lẩn
thẩn chứ! Mẹ chồng chị đã mắc lỗi lúc này, chị đến xin với mợ Hai, trích một ít
trong số tiền chưa kịp chia cho người ta đem đi chuộc về là xong. Như vậymọi
người đều giữ được thể diện, việc gì cứ phải làm ầm lên. Giờ đã trót làm mất thể
diện, thì dù có mười tội, cũng chỉ một người chịu thôi, lẽ nào lại để lây đến
người khác. Chị cứ nghe lời tôi đi nói với mợ Hai. Chứ cãi vã nhau ở đây thì
xong việc thếnào được!
Vợ Ngọc Trụ bị Thám Xuân
vạch trần chân tướng, không chối vào đâu được, nhưng vẫn không dám đến thú tội
với Phượng Thư.
Thám Xuân cười nói:
- Tôi không nghe thấy
thì thôi, đã nghe thấy, thế nào cũng phải phân giải giúp các chị.
Thám Xuân đưa mắt cho
Thị Thư, Thị Thư đi ra ngay. Họ đương nói chuyện, thấy Bình Nhi đến. Bảo Cầm vỗ
tay cười nói:
- Chắc là chị Ba có phép
“hô thần triệu tướng” gì đây?
Đại Ngọc cười nói:
- Đó không phải là phép
thuật của nhà tu hành, mà là cách tinh vi của nhà binh, đúng như diệu kế đánh
địch bất ngờ: “Lúc thế thủ như cô gái cấm cung, khi lọt vòng nhanh như thỏ
chạy” vậy.
Hai người cùng cười. Bảo
Thoa đưa mắt cho họ rồi nói lảng ra chuyện khác.
Thám Xuân thấy Bình Nhi
đến, liền hỏi:
- Mợ chị đã đỡ chưa?
Thực là ốm mê ốm mẩn, chẳng thèm để ý đến việc gì, làm chúng tôi phải bực tức
thế này.
Bình Nhi nói:
- Cô làm sao mà bực? Ai
dám làm cô bực? Xin cô cứ dạy rõ.
Vợ Ngọc Trụ cuống lên,
chạy ngay đến van xin với Bình Nhi: “Mời cô ngồi xuống đây để tôi nói đầu đuôi
cho cô nghe”.
Bình Nhi nghiêm nét mặt
nói:
- Các cô đương nói
chuyện ở đây, chị lại dám đến nói leo à? Chị là người biết lễ phép, phải ra
ngoài kia đứng hầu. Không ai gọi chị không được vào. Đâu có đàn bà hầu bên
ngoài, không có việc gì lại dám vào thẳng trong nhà các cô bao giờ?
Tú Quất nói:
- Chị chưa biết trong
nhà chúng tôi đây không có lễ phép gì cả, ai muốn vào thì vào.
Bình Nhi nói:
- Đó là lỗi ở các chị em
cả. Cô dù dễ tính, các chị em cũnguổi họ ra, rồi sau đi trình bà Hai mới phải.
Vợ Ngọc Trụ thấy Bình
Nhi lên tiếng, đỏ mặt lên, đi ra. Thám Xuân nói:
- Tôi nói cho các chị
nghe: người khác có lỗi với tôi thì thôi, nhưng nay vợ Ngọc Trụ cùng mẹ chồng
nó cậy thế là u nuôi, lại thấy chị Hai dễ tính, lấy cắp đồ trang sức của chị ấy
đi đánh bạc, lại bịa ra chuyện công nợ và bắt phải đi xin hộ, rồi cãi nhau ầm ĩ
với hai a hoàn ở trong buồng chị Hai. Chị Hai cũng không thể ngăn cản được. Tôi
khó chịu quá, phải mời chị đến đây hỏi xem có phải chị ta là người ở lỗ nẻ chui
lên đâu mà không biết lẽ phải? Hay là có ai cầm nọc cho chị ta làm như thế?
Trước hết định áp lép chị Hai rồi tìm cách trị tôi và cô Tư chứ gì?
Bình Nhi vội cười nói:
- Sao hôm nay cô lại nói
những câu như thế? Mợ tôi chịu làm sao nổi?
Thám Xuân cười nhạt:
- Tục ngữ có câu: “Máu
chảy ruột mềm, môi hở răng lạnh”, nên tự nhiên tôi đâm ra lo sợ.
Bình Nhi hỏi Nghênh
Xuân:
- Việc này có to tát gì,
cũng dễ xử thôi, nhưng vì bà ấy là u nuôi của cô, thì cô nghĩ thế nào cho phải?
Nghênh Xuân vẫn ngồi xem
“Thiên cảm ứng” với Bảo Thoa, không để ý đến những câu nói của Thám Xuân. Thấy
Bình Nhi nói thế, liền cười:
- Chị hỏi tôi à, tôi
cũng chẳng có cách gì cả. Họ làm bậy thì họ phải chịu lấy tội, tôi không thể
xin hộ được. Tôi chẳng đi xin ai và cũng chẳng trách họ là được rồi. Những vật
ăn cắp, đưa trả thì tôi nhận, nếu không trả tôi cũng chẳng cần. Các bà có hỏi,
tôi che chở được thì phúc cho họ, nếu không giấu nổi, tôi cũng không biết làm
sao được. Không có nhẽ vì họ mà tôi lại dối trá các bà, tất là phải nói thẳng
ra. Các chị cho tôi là dễ tính, không biết quyết đoán, có cách gì chu toàn được
mọi mặt, không để các bà giận thì tùy các chị định liệu, tôi cũng thây kệ.
Mọi người nghe nói đều
bật cười. Đại Ngọc cười nói:
- Thật là “hùm sói đã
ngồi trên thềm nhà vẫn còn nói chuyện nhân quả”. Nếu chị Hai là đàn ông thì
những người trong nhà này cai quản thế nào được họ?
Nghênh Xuân cười:
- Đúng đấy! Biết bao
nhiêu là đàn ông cũng còn như thế, huống chi là tôi.