Cô đơn trên mạng - Chương 06 phần 1

ANH: Anh mừng vì đã đặt được phòng ở đúng khách sạn này. Đây
đã từng là khách sạn của anh ở New
Orleans.

Hôm qua, lúc từ sân bay về đây, bước ra khỏi taxi và sau
ngần ấy năm lại được đứng cùng với cái vali của mình trước cánh cửa lùa màu
trắng có tay cầm bằng đồng sáng loáng quen thuộc, anh thấy tim mình đập rộn
lên. Khách sạn này, theo một nghĩa nào đấy, là biểu tượng của tất cả những gì
đã làm thay đổi cuộc đời anh, thay đổi bản thân anh nhiều đến thế.

Chính tại nơi đây hơn một chục năm về trước, cái hồi làm
tiến sĩ, vào ban đêm, anh thường bứt khỏi những cái máy tính, những cuốn sách,
những tạp chí khoa học và những ý nghĩ, những ý tưởng, những kế hoạch luôn quay
cuồng trong đầu mình. Cùng với những nhà khoa học khác trong nhóm, cũng trẻ,
cũng cực kỳ gàn dở như anh, đang đêm gọi taxi đi đến khách sạn này, để uống bia
hoặc rượu vang và nghe loại nhạc blues mê hồn của người da đen bên những cái
bàn đá trắng ngoài sân trời, tranh luận đầy hưng phấn về tất cả những gì dính
dáng đến việc sắp xếp chuỗi gien hoặc tưởng tượng ra những gì họ sẽ làm nếu
chuyển được những gien này thành những protein tương ứng, và đến lượt chúng,
những protein này thành cảm xúc, hành vi ứng xử hoặc ý nghĩ của con người. Họ
gọi những lúc này một cách đầy tưởng tượng, phù hợp với địa điểm và tình huống,
là "ADN breaks", mà một số thì giải thích như là "giờ giải lao
ban đêm để uống rượu ở Dauphine", còn số khác thì là "đứt gãy
ADN".

Khi ấy họ là một nhóm những thanh niên ồn ào và tin tưởng
vào sự không thể nhầm lẫn của mình, vào sự khác thường và đặc biệt của cái họ
đang làm, và tuyệt đối chắc chắn rằng chính họ sẽ đánh dấu những đường chân
trời trong khoa học. Nhưng cái mà anh nhớ nhất trong những ngày ở New Orleans ấy là lòng
hăng say đến mức tham lam. Nếu như thời gian có thể trở lại và anh lại được ở
đây, thì với những gì giờ đây anh biết, anh sẽ giành nhiều thời gian nhất để
học thuộc lòng như học một bài thơ, chính là lòng hăng say ấy. Khi ấy họ như
những chú sư tử non. Họ tin rằng thế giới sẽ là của họ, và khi ấy sao họ ở gần
các vì sao trên khoảng trời đêm trên sân thượng của khách sạn Dauphine New
Orleans đến thế. Cho nên hôm qua, khi lại đứng trước khách sạn này, cho dù mới
là buổi sáng và mặt trời còn đang rực rỡ, anh vẫn chói cảm thấy mình ở gần với
các vì sao hơn. Có sao đâu, nếu giờ đây chúng không còn sáng lấp lánh giống như
những ngày xưa nữa.

Chẳng phải những vì sao cũng cháy đấy thôi.

Anh dừng lại một lát trước khi bước qua cánh cửa quá quen
thuộc đối với anh để vào quầy lễ tân. Anh nghĩ nếu phải kể cho cô anh cảm thấy
gì khi vào đây - mà anh thừa biết là cô sẽ hỏi - thì anh sẽ nói rằng anh cảm
thấy buồn và tự hào xen lẫn. Tự hào vì khi anh đến thành phố này, nơi anh bắt
đầu còn là một nghiên cứu sinh Ba Lan vô danh tiểu tốt, có cái họ mà ít ai đọc
nổi, được mời như một gương mặt không cần bàn cãi đến một hội nghị quốc tế quan
trọng nhất trong lĩnh vực này, để đọc một bản tham luận mà tất cả những nhân
vật quan trọng khác trong lĩnh vực của anh đều muốn nghe. Còn buồn vì anh bỗng
hiểu ràng với tất cả những gì anh đã đạt được, tất cả sự thừa nhận và ngưỡng
mộ, thì anh vẫn sẽ không bao giờ còn được hưng phấn, tự hào về bản thân mình và
toại nguyện như hồi đó, mười mấy năm trước đây khi đang nghiên cứu về sự sắp
xếp chuỗi gien của một loại vi khuẩn gây nên bệnh sất Rickettsia, anh đã tin
rằng mình đang nhìn vào những con bài của chính Tạo hóa.

Dauphin New Orleans, với sự giản dị và ấm cúng của mình, ở
giữa trung tâm phố cổ của New Orleans, có một không khí mà cái khách sạn Hilton
cao ngất, là khách sạn mà các nhà tổ chức hội nghị muốn đưa anh tới, chưa bao
giờ và sẽ không bao giờ có được. Hôm qua, khi đến đây, nhận chìa khóa phòng từ
người phụ nữ ở quay lễ tân tươi cười và đẹp không thể tả được, anh phân vân,
không biết trong khách sạn này, các phòng trông như thế nào. Bởi anh chưa bao
giờ nghỉ lại ở đây. Nhiều nhất cũng chỉ là những đêm trên sàn thượng. Cho nên
khi mở cửa phòng số 409 trên tầng ba, anh đã sững người vì ngạc nhiên. Căn phòng
rộng hơn toàn bộ căn hộ của anh ở Munich,
có phòng ngủ, phòng khách và khu làm việc cùng với điện thoại, máy tính và máy
fax. Trong phòng khách, trên cái giá cạnh vô tuyến là một cái kệ bạc, trong đó
là một chai champagne được quấn khăn trắng, và bên cạnh có hai cái ly. Bước vào
phòng ngủ, anh nhận thấy ngay là dưới cửa sổ, trên một cái bàn đá đen có một
bình thủy tinh tròn với những bông lili. Anh nhớ rất rõ những bông lili này.
Anh gọi điện xuống lễ tân hỏi liệu có sự nhầm lẫn nào chăng, vì ở Munich, qua Internet, anh
chỉ đặt một phòng đơn bình thường thôi cơ mà. Người phụ nữ ở quầy lễ tân, người
đã đưa chìa khóa cho anh chỉ cười mà nói:

- Tôi nhận ra anh ngay khi anh bước vào. Anh chính là người
cách đây hơn chục năm đã đi quyên tiền cho một cô bé ở Ba Lan hay Hà Lan gì đó.
Tôi không còn nhớ chính xác nữa. Nhưng anh đã cứu sống cô bé, đúng không? Con
gái tôi hồi ấy cũng lên tám, đúng như cô bé kia. Hồi ấy, khi đọc báo nói về cô
bé, tôi đã sởn cả gai ốc khi nghĩ rằng mẹ của cô bé sẽ phải kính phục anh như
thế nào. Tôi nghĩ là anh sẽ thích căn phòng này. Nó là phòng tốt nhất của chúng
tôi đấy. Bao giờ John Lee Hooker cũng ở đúng phòng ấy mỗi khi đến đây để biểu
diễn ở Preservation HAll. Anh có biết anh ấy không?

Đặt ống nghe xuống, anh phân vân, làm sao mà ai đó lại có
thể còn nhớ những gì mình đã cảm thấy khi đọc một cái gì đó trên báo từ hơn một
chục năm trước đây nhỉ. Có thể đến một lúc nào đó anh sẽ có con gái và anh sẽ
hiểu dù sao, điều đó là có thể. Nhưng đấy là hôm qua: Hôm nay thì anh không còn
nghi ngờ gì là chị lễ tân ấy không là một ngoại lệ.

Nhớ, đó là một chức năng của cảm xúc.

Những cảm xúc, mà lại là đặc biệt khác thường, đã bắt đầu từ
sáng sớm. Anh xuống sân trời cạnh bể bơi, mà sáng nào cũng được trang hoàng như
một phòng của nhà hàng để ăn sáng. Ngồi uống thứ cà phê Mỹ chẳng ngon lành gì
trong tiếng nhạc Mozart được phát ra từ những chiếc loa, anh vừa chờ xuất bánh
dù của mình vừa kiểm tra hộp thư điện thử trên server tại Munich. Ông chủ sáng suốt của khách sạn, nắm
bắt được tinh thần của thời đại đã cho lắp trên mỗi bàn trong phòng ăn sáng một
ổ điện thoại đôi. Hai người có thể đồng thời kết nối latop của mình với
Internet. Một sáng kiến đơn giản và hoàn hảo trong bản chất của nó. Liệu còn có
gì dễ thương hơn một bức e-mail buổi sáng bên cạnh một tờ báo mới? Tờ báo giấy
nằm bên li cà phê, và tờ điện tử yêu thích từ đâu đó: Nhật Bản, Australia,
Đức hay Ba Lan.

Anh mở e-mail của cô và bỗng hét toáng lên vì vui sướng. Tất
cả mọi người đang ăn sáng ở những bàn bên đều nhìn anh ngạc nhiên, nhưng chỉ
một lát sau họ lại quay về với những tờ báo hay hộp thư điện tử của mình.

Anh đọc đoạn này thêm một lần nữa, cho chắc chắn.

Khi đi qua phía ấy, anh hãy đi chậm lại một chút! Em sẽ đứng
chờ anh ở đó.

Tin này làm anh choáng váng. Đẹp quá. Không thể tin được.
Đầy hưng phấn. Cô ấy sẽ đến Paris!
Sẽ chờ anh ở sân bay! Anh phải liên hệ ngay với TWA để hoãn chuyến bay từ Paris
đi Munich. Bánh mì đã được đưa đến. Anh phết mứt phúc bồn tử lên bánh mì và gọi
chương trình tìm kiếm. Anh vào trang web của hãng hàng không TWA. Anh gõ mật
khẩu của mình và số đăng ký chuyến bay từ New York đi Munich qua Paris. Và anh hoãn chuyến
bay đi Munich từ Pans một ngày chẳng khó khăn gì. Anh sẽ đến Paris
vào khoảng tám giờ sáng ngày 18 tháng bảy, vào thứ năm và sẽ bay đi Munich vào tối thứ sáu. Họ
sẽ có cả một ngày giành cho nhau. Và cả một đêm. Đằng nào thì cô cũng quay về
Warszawa bằng xe khách vào tối thứ sáu, nên việc kéo dài thời gian ở Paris thêm mấy ngày nữa là
vô nghĩa. Anh đã có một kế hoạch đầy đủ và chi tiết cho weekend đầu tiên sau
khi trở về từ New Orleans.

Anh viết e-mail cho cô và gửi ngay trước khi ăn xong. Anh
viết rằng mình hạnh phúc không thể tả được, rằng anh không dám tin là cô chờ và
rằng anh không biết làm thế nào để trải qua sự sốt ruột của mình ở New York. Rồi anh còn
tạm biệt cô đầy tình cảm trước chuyến đi Paris
này. Đây là lần đầu tiên cô đi xa kể từ khi họ quen biết nhau. Trước đây anh
chưa bao giờ có dịp để tạm biệt cô.

Anh tạm biệt cô như thể họ thực sự phải xa nhau. Lại thêm
một lần nữa anh phân vân, không biết họ sẽ đi xa tới đâu trong cái thế giới ảo
này và không biết họ đã biết đi xa như thế nào để sống trong thế giới ấy giống
như trong thế giới thực. Con người ta đôi khi ước ao được xa cách nhau để có
thể nhớ nhung, chờ đợi và vui mừng trong ngày gặp lại. Mối quan hệ của họ, chưa
được định nghĩa, thậm chí còn chưa được gọi tên, cũng không có gì khác. Họ cũng
muốn những điều tương tự. Họ không để ý hoặc vờ như không để ý thấy rằng họ
luôn sống trong sự xa cách như vậy và điều này có rất ít cái chung với sự xa
cách vật lý được đó bằng khoảng cách. Họ ở cách xa nhau 1.000 hay 10.000 cây
số, thì trong trường hợp của họ tuyệt đối không có ý nghĩa gì. Họ không xa nhau
theo cái nghĩa thông thường. Nhiều nhất họ cũng chỉ thay đổi vị trí địa lý của
cái máy tính kết nối hai người, hoặc thay đổi chương trình gửi những bức e-mail
của họ, nhưng họ không ở xa nhau theo nghĩa, những người chia tay nhau sẽ ở
cách xa nhau như thế nào. Sự xa cách của họ chỉ có hai trạng thái, thì cũng
giống như mọi thứ trong cái thế giới tin học này mà thôi. Hoặc là họ ở bên nhau
trong tầm tay, hoặc là ở trên mạng. Họ mới chỉ được ở trong "tầm tay"
đúng một lần trong đời: lần ấy, trên chuyến tàu từ Berlin đi Poznan, khi mà họ
thậm chí còn chưa biết cả tên nhau, không trao đổi với nhau một câu nào và chỉ
có đồng tử của họ đôi lúc gặp nhau trong những cặp mắt tò mò. Còn trên mạng thì
sao? Trên mạng tất cả đều xa như nhau hoặc gần như nhau, bởi suy cho cùng thì
có gì khác nhau đâu.

Mà họ thì cũng cần phải xa nhau như tất cả mọi người, nhưng
khác với tất cả, họ hoàn toàn không vui mừng khi gặp lại. Họ chia tay nhau để
cuối cùng lại được gặp lại. Vào thứ sáu, 18 tháng bảy, sáng. Tại sân bay ở Paris. Như cô đã viết, anh
thuộc lòng bức e-mail này:

Cạnh quầy cà phê nhỏ liền với kiốt bán báo.

Ngày ở New Orleans
bỗng trở nên dài kinh khủng. Vào ngày mà cô đi ôtô khách đến Paris,
anh phải trình bày báo cáo tại hội nghị ở đây, ở New Orleans. Bản báo cáo của anh là bản đầu
tiên trong buổi sáng. Anh đến trước nửa tiếng, để lắp đặt laptop và nối nó với
đèn chiếu từ máy tính lên một màn hình khổng lồ trên bức tường giữa. Trước khi
anh lắp đặt xong, phòng hội nghị gần như đã kín người. Khi kéo lon coca Mỹ mang
theo lại gần mình, anh chợt phát hiện trên mặt bàn được phủ khăn nhung màu xanh
lá cây sát với bục của người thuyết trình có một ổ cắm điện thoại được đánh dấu
bằng chữ phát quang trên tấm nhãn plastic như là "kết nối" với
Internet. Chỉ còn chưa đầy năm phút nữa là đến giờ thuyết trình của mình, thế
mà anh cảm thấy mình chẳng còn nghĩ ngợi gì về cái bài báo cáo ấy nữa. Vì hôm
nay là cô phải có mặt ở Paris
rồi đây. Nếu tính cả sự chênh lệch thời gian giữa Paris
với New Orleans,
thì chắc chắn giờ này cô đã viết cho anh. Anh muốn biết chắc điều này. Ngay bây
giờ! Chỉ cần biết, cô có viết hay không. Còn viết gì thì anh sẽ đọc sau. Không
nhìn những người đang chăm chú theo dõi mình, anh vội cắm các modem của laptop
vào cái ổ trên bàn và đã bắt đầu khởi động chương trình thư, nhưng vị giáo sư
của Berkeley,
người điều khiển chương trình buổi sáng đột ngột đi đến chỗ anh.

Vây là anh không kịp…

Giáo sư đề nghị phiên âm thật chính xác họ tên anh. Ông đọc
đi đọc lại trước sự có mặt của anh. Nghe như tiếng bị méo của thư ký người máy,
nhưng anh vẫn có thể nhận ra là đang nói về mình. Mấy phút sau, khi giáo sư
giới thiệu anh là người thuyết trình đầu tiên với phòng hội nghị đã kín người,
và vẫn cứ nhầm tên thành họ của anh, thì tiếng cười vang lên. Điều này như một
lời chào, lời chúc mừng. Họ phân biệt được họ và tên anh! Đó là chuyện hiếm hoi
trên mảnh đất đầy kiêu căng là cái thế giới khoa học này.

Bản thuyết trình của anh phải kéo dài thêm mười lăm phút. Sự
ưu ái này chỉ giành cho một số rất ít người. Trong những trường hợp thông
thường thì chủ tọa sẽ cắt ngang câu người thuyết trình không chút ngần ngại sau
khi thời gian quy định đã hết và gọi người tiếp theo: Ngày xưa thì cái cách ứng
xử ấy khiến anh hết sức ngạc nhiên, nhưng hồi ở Munich, khi bản thân anh phải
tổ chức hội nghị và có tới hai ngàn người đọc báo cáo, thì anh hiểu rằng đấy là
biện pháp duy nhất.

Về nguyên tắc thì anh kết thúc phần trình bày đúng thời
gian. Không thể khác được. Anh đã tập nhiều lần với đồng hồ đếm thời gian ở
khách sạn: Chính xác bốn mươi phút, kể cả một vài giai thoại mà bao giờ anh
cũng xen vào các bài báo cáo của mình. Anh nhận thấy trong số tất cả các bài
báo cáo anh nhớ nhất những bài trội hơn nhờ có những giai thoại hay. Và anh tin
rằng những người khác cũng phản xạ như vậy. Phần thời gian còn lại, chính xác
là năm phút, anh giành cho các câu hỏi. Bây giờ anh không còn nhớ chính xác là
làm thế nào lại dẫn đến lời qua tiếng lại gay gắt giữa anh với một tay ngạo mạn
đến từ Đại học Tổng hợp Tybinda một cách rất vô nghĩa. Hội nghị quan sát vấn đề
với sự căng thẳng ngày một tăng. Đến một thời điểm, để chứng minh cho lý lẽ của
mình, anh cần đến một bảng dữ liệu thống kê. Anh cứ chắc rằng mình đã có nó
trong ổ cứng của laptop và bằng bảng này anh sẽ kết thúc cuộc tranh cãi vô bổ
kia.

Không có bảng dữ liệu!

Chắc là anh đã quên copy nó từ máy tính trong văn phòng ở Munich ra laptop mà anh
mang đến New Orieans. Gã người Đức ngay lập tức nhận thấy điều này và rõ ràng
là gã đang hoan hỉ.

Và khi đó trong đầu anh loé lên một sáng kiến bất thường.
Chẳng phải máy tính của anh ở Munich
lúc nào cũng bật sao. Nếu nó bật, thì nó cũng online trên mạng luôn. Nếu nó ở
trên mạng, thì chương trình ICQ của anh ở Munich
cũng hoạt động. Còn ở cái laptop trước mặt anh đây cũng có ICQ và nó cũng có
thể hoạt động, bởi máy đã được kết nối với Internet. Anh đã kết nối nhờ việc
anh gần như nghiện cola light, nhờ cái ổ cắm trên bàn này và nhờ nỗi nhớ cô
trong anh.

Cả hội nghị sôi động hẳn lên khi anh nói rằng do "sơ
suất" anh đã để bảng dữ liệu trong văn phòng mình ở Đức, nhưng ngay bây
giờ anh sẽ lấy nó từ ổ cứng của mình trong máy tính tại văn phòng ở Munich. Trước mắt tất cả
những người có mặt - họ có thể quan sát anh đang làm gì trên một màn hình lớn
phía sau lưng anh - anh bắt đầu ICQ và khởi động tùy chọn cho phép, sau khi đưa
mật khẩu vào, thâm nhập vào các phần của ổ cứng trong máy tính ở văn phòng anh.
Bảng dữ liệu phải có ở đó, vì một tuần trước khi lên đường đến hội nghị ở New
Orleans, anh đã giúp một anh bạn ở tổng hợp Warszawa sử dụng nó bằng cách này.
Mấy phút sau, bảng dữ liệu đã được "lấy" về laptop của anh và có thể
chiếu nó lên màn hình ở đây, trong phòng hội nghị tại trung tâm hội nghị ở New
Orleans.

Trong một khoảnh khắc nào đấy, anh có cảm giác rằng đối với
phần lớn những người trong hội nghị, cái bảng dữ liệu bất hạnh kia, ngành gien
học và toàn bộ cuộc tranh luận khoa học ấy giờ đây tuyệt nhiên không có gì quan
trọng. Quan trọng là ở chỗ, họ có thể là nhân chứng cho một cái gì đó tuyệt đối
khác thường, một cái gì đó có thể gọi là "sự co lại" đột ngột của thế
giới. Khoảng cách địa lý bỗng nhiên không còn ý nghĩa gì nữa.

The small planet, hành tinh nhỏ bé...

Đối với phần lớn mọi người trong hội nghị, khẩu hiệu quảng
cáo này, một cách hoàn toàn không tính trước, mang một ý nghĩa khác, thực tế.

Với anh thì thế giới đã co lại từ lâu rồi, do đó mà chuyện
này không gây cho anh ấn tượng gì đặc biệt. Cái duy nhất trong tất cả những
chuyện này đang kích thích anh, nhưng lại là cái mà chắc chắn không một ai
trong phòng hội nghị mông mênh chật kín người này nhận thấy, đó là một hình
vuông vàng nhỏ xíu đang nhấp nháy phía dưới cửa sổ của chương trình ICQ mà anh
bắt buộc phải khởi động để lấy cái bảng dữ liệu bất hạnh kia về. Cái tem nhấp
nháy ấy chỉ có thể có nghĩa là: cô đã đến Paris
và đương cố liên hệ với anh bằng cách gửi tin! Không có "sự co lại"
của thế giới này, hẳn anh không bao giờ biết được điều đó. Anh cười, và tất cả
mọi người đang theo dõi anh đều nhầm rằng anh đang cười tham trong cảm nhận
"chiến thắng khoa học". Anh cười với "gã kiêu ngạo của
Tybinga". Anh biết ơn hắn.

Ngay sau khi thuyết trình, anh từ chối mọi lời mời đi ăn
trưa, trốn trong trung tâm hội nghị của khách sạn Hilton rồi đi taxi đến Layota Street. Đi
trên St. Charles Avenue,
anh phân vân làm thế nào để mô tả trạng thái "trở về quá khứ" này.
Liệu những người khác cũng cảm nhận như thế? Một kiểu nuối tiếc rằng đã lâu quá
rồi, rằng sẽ không bao giờ còn lặp lại nữa, nhưng cũng có cả sự tò mò rất lạ.
Như thể trở về với cuốn sách mà đã có thời ta đọc nó với bao hồi hộp và xúc
động.

Ở số 18 chỉ có một bức tường, tựa vào phần còn lại của những
cái cọc đã có thời giữ cho toàn bộ kết cấu của ngôi nhà này. Phần còn lại nằm
trên một đống gạch vụn đen được bao bằng dây thép gai, ẩn trong đám tầm ma
khổng lồ đang nở hoa, chúng che kín nơi mà trước đây có thể là vườn. Một khoảng
vuông được đánh dấu bằng dây đóng vào những cọc rào mốc, không tìm thấy lối
vào. Mãi ở đoạn cuối của phía Nam
anh mới nhìn thấy một tấm bảng bị tẩm mạ che mất một nửa, thông báo "Bán
bất động sản". Ngày viết trên bảng là vào tháng giêng. Bây giờ đã là tháng
bảy.

Hơn một chục năm trước đầy, chủ ngôi nhà này là một nữ tiếp
viên của PanAm. Chị này chuyển đến đây từ Boston
sau vụ ông chồng tự cắt động mạch khi biết rằng bố thực sự của thằng con mười
một tuổi duy nhất của mình là anh rể của ông. Bằng khoản bảo hiểm của chồng,
chị tiếp viên đã mua ngôi nhà này và trong vòng một đêm đã chuyển đến đây cùng
với con trai và không để lại địa chỉ cho bất cứ ai. Sau khi không được bay nữa
vì bị đuổi khỏi PanAm vì tội ăn cắp rượu từ các khu vực miễn thuế cho hành
khách, chị ta bắt đầu cho thuê phòng. Chị ta chỉ cho đàn ông thuê. Và chỉ là
những người da trắng.

Anh tìm được địa chỉ của chị ta ở Student Union ngay sau khi
từ Ba Lan đến Đại học Tổng hợp Tuiane thực tập. Bởi đây là địa chỉ duy nhất có
thể đến được mà chỉ mất không đầy sáu đôla, và anh cũng chỉ còn có ngần ấy, anh
bắt đầu đi tìm từ đây. Mở cổng cho anh là một phụ nữ gầy như kiểu suy dinh
dưỡng có khuôn mặt chằng chịt nếp nhăn và mái tóc thưa, muối tiêu, dài ngang
vai. Trên cổ là một cái băng chỉnh hình vàng bẩn dính máu. Chị ta mặc một cái
áo khoác sờn màu tím, được thắt bằng một sợi dây bện mà người ta vẫn dùng để
kéo những tấm rèm cửa sổ nặng. Cái áo có hai túi to bằng vải dầu được khâu thêm
vào. Một chai johny waller thò ra từ một bên túi.

Chị ta tên là Robin. Nói năng khẽ khàng và điềm đạm. Chị ta
cho anh thuê phòng vì anh là người da trắng, và anh hứa sẽ dạy Lý cho con trai
chị ta và thỉnh thoảng cuốc vườn hộ chị, mang những thùng rác đi đổ trước bảy
giờ sáng thứ hai và vì khi được hỏi có hút thuốc không thì anh đã không nói dối
mà trả lời là có. Chị ta hút liên tục, và tất cả đàn ông trong nhà chị cũng
hút. Sau này anh để ý thấy khi nào không có thuốc lá trên môi là chị ta nói to
một mình, cốt là để chọc tức chính mình.

Phòng của anh ở ngay cạnh phòng của Jim.

Hôm nay anh đến đây là để tìm lại gã.

Anh mất liên lạc với gã khoảng ba năm sau khi về Ba Lan. Đơn
giản là những bức thư gửi cho gã bắt đầu bị trả lại.

Đúng lúc anh đang nghiêng người để cạo chỗ rêu xanh phủ lên
số điện thoại của công ty bất động sản trên bảng thông báo nằm trong đám tầm ma
thì nghe thấy một giọng phụ nữ the thé từ phía sau lưng:

- Đến chuột cũng chẳng muốn sống trong ngôi nhà này. Ông
đừng có mà mua. Với lại số điện thoại ấy cũng không còn nữa đâu. Cái công ty ấy
chuyển đến Dallas
rồi. Cách đây đã hai năm.

Anh quay lại và nhìn thấy một bà có tuổi ăn vận lịch sự, che
một cái ô màu vàng. Một con chó xù màu trắng với chiếc nơ đỏ trên đầu, đeo một
cái vòng cổ da rộng viền vàng nóng nảy chạy quanh bà ta. Con chó sủa liên tục
nhưng sợ lại gần.

- Làm sao mà bác biết? - anh hỏi.

- Tôi sống cách đây không xa, Ở Garden District, và ngày nào
tôi cũng đến đây với con Maggie của tôi - bà chỉ vào con chó xù trắng - để đi
dạo. Với lại cô Robin, người chủ cuối cùng của ngôi nhà này là bạn của tôi.
Chính tôi tìm cho cô ấy cái nhà này ở đây đấy chứ.

- Vậy có thể bác biết Jim McManus? Người cao, rất gầy, có
một vết sẹo to trên má. Hơn chục năm trước đây anh ta có thuê phòng của Robin.

- Anh ta chẳng hề tên là McManus. Ít nhất thì cũng không
phải lúc nào cũng có tên như vậy. Trên mộ anh ta là họ mẹ. Alvarez- Vargas - bà
nhìn thẳng vào mắt anh nói.

Không cố giấu giọng nói run run, anh hỏi:

- Trên mộ anh ấy? Bác có chắc không? Có nghĩa là... anh ấy…
Anh ấy mất từ bao giờ?

- Đúng đấy, tôi chắc chứ. Tôi đưa tang anh ấy cùng với Robin
mà. Mộ của anh ấy đẹp lắm. Ngay cạnh lối vào Thành phố của Những người đã khuất
ở nghĩa trang St. Louis.
Ở bên phải, sau nhà nguyện. Ít người có được như thế. Và bao giờ cũng có hoa
tươi. Hàng ngày. Nhưng hôm đưa tang thì chẳng có ai. Mỗi Robin, người phụ huyệt
và tôi. Anh không biết à?! Anh là bạn thân nhất của anh ta kia mà - bà nói.

- Không, cháu không biết. Bác biết cháu à?

- Tất nhiên rồi. Thì chính anh dạy Lý cho thằng con của
Robin chứ gì. Đấy là con đỡ đầu của tôi đấy.

- Tại sao... Tức là Jim mất như thế nào hả bác?

- Người ta tìm thấy anh ta ở bãi rác trên Khu Pháp. Anh ta
bị ba mươi ba vết dao đâm. Đúng bằng tuổi của anh ta. Và mất bàn tay trái. Ai
đó đã cắt mất. Ngay dưới khớp cổ tay. Nhưng nó lại không lấy đồng hồ của anh
ta.

Bà nói bằng một giọng đều đều, bình thản, luôn miệng cười
với anh và chốc chốc lại dừng lại để vuốt ve con chó đang núp sau chân bà và
vẫn sủa liên tục.

- Nhưng bây giờ tôi phải đi đây. Maggie nó sợ anh. Tạm biệt.

Bà đột ngột quay lại nói thêm:

- P. J. rất rất thích anh. Hiện giờ cậu ấy đang sống ở Boston với ông bác... tức
là với ông bố. Nó chuyển đến đấy cách đây năm năm, hồi Robin bị đưa vào bệnh
viện. Thỉnh thoảng nó có đến đây thăm Robin. Tôi sẽ nói với nó là anh đến đây.
Chắc là nó mừng lắm.

Báo cáo nội dung xấu