Thiên táng - Chương 06 phần 2

Người phụ nữ lại nói.

“Ai mà biết được sự thật? Đạt Lai Lạt Ma bị giằng xé giữa
đôi đằng. Một mặt, lời hứa của chính phủ Trung Quốc rằng Tây Tạng được quyền
lựa chọn không tham gia phong trào cải cách đã bị vi phạm. Những chiến dịch
chính trị như “Giết kẻ giàu, giúp người nghèo,” “Mọi người đều bình đẳng” và
“Không dung thứ cho tôn giáo” đang xói mòn quyền lực của giới lãnh chúa phong
kiến Tây Tạng, làm lung lay niềm tin của Đạt Lai Lạt Ma vào Bắc Kinh. Mặt khác,
ngài không muốn làm Bắc Kinh nổi giận. Thế nên ngài chơi trò hai mặt: một mặt
ngài đóng vai trò tích cự trong các kế hoạch chính trị do chính phủ Trung Quốc
khởi xướng, mặt kia ngài làm như không biết tới những nỗ lực của Phong trào Độc
lập cho Tây Tạng nhằm gây binh biến trong hàng ngũ Đội quân Người Bảo vệ Đức
tin. Nhưng ngài như một người đứng trên hai con thuyền cùng một lúc: rốt cuộc
ngài chẳng được gì. Bắc Kinh cử lính tới hủy diệt sự thống nhất giữa giáo hội
với chính quyền vốn có ở Tây Tạng tự lâu đời, trong khi Quân đội Người bảo vệ
Đức tin mặc dù được phương Tây ủng hộ vẫn không thể bảo vệ ngai vàng của Đạt
Lai Lạt Ma. Trong khi vội vàng bỏ chạy, Đạt Lai Lạt Ma thậm chí không dám mặc y
phục của chính mình. Ngài được những nguồn đáng tin cậy cho hay Quân Giải phóng
Tây Tạng đang dự định bắt ngài giam vào ngục để trừng phạt việc ngài tìm cách
cắt đứt quan hệ với Trung Quốc. Chính vì vậy mới có nhiều người Tây Tạng đến
thế canh gác quanh Điện Potala, để bảo vệ vị lãnh tụ tinh thần của họ - đó là
sự cố mà Bắc Kinh cáo buộc là “châm ngòi” cho bạo loạn.”

Chàng trai và cô gái trẻ trong nhóm từ nãy đến giờ vẫn rất
lặng lẽ. Giờ thì chàng trai hỏi: “Nhưng nếu Đạt Lai Lạt Ma bỏ chạy đột ngột như
vậy thì tại sao lại có lắm lời đồn về chuyện kho báu ở trong Điện Potala đã
được đưa ra khỏi đất nước từ một, hai năm trước khi mọi chuyện này nổ ra, và
làm sao Đạt Lai Lạt Ma mang theo được tất cả kho báu theo mình khi sống lưu
vong? Cố thủ tướng Chu Ân Lai nói Đạt Lai Lạt Ma có phương diện nào đó giống
như thần thánh khi ngài sống ở Điện Potala, nhưng khi một vị thánh rời khỏi
ngôi đền của mình thì vẻ thiêng liêng của ngài bị lu mờ. Tôi cho rằng giờ đây
Đạt Lai Lạt Ma không còn ở Tây Tạng nữa thì ngài cũng đã từ bỏ cuộc đấu tranh
giành độc lập.”

“Tôi không chắc cậu có đúng không,” người phụ nữ lớn tuổi
hơn nói. “Tôi nghĩ ngài cũng mong trở về lắm. Chính phủ bảo chúng ta rằng họ đã
nhiều lần cố gắng đối thoại với Đạt Lai Lạt Ma, nhưng ngài luôn cự tuyệt mọi
tiếp xúc. Nhiều người Tây Tạng tôi có nói chuyện thì bảo tôi rằng thật ra là
ngược lại. Chúng ta nên tin gì đây?”

Bà quay sang Văn với một nụ cười buồn.

Đầu Văn quay cuồng. Trước đây bà chưa bao giờ nghe một cuộc
trò chuyện về chính trị như thế này cả. Hồi còn trẻ, bà từng có cảm hứng với những
lý tưởng chính trị, nhưng khi đó bà và các bạn đều tin cùng một thứ. Bà không
chắc liệu có khi nào mình sẽ gỡ được mớ thông tin rối tinh rối mù người ta vừa
tiết lộ cho bà không. Bà nghĩ, sự thực luôn luôn khó nắm bắt bởi vì con người
không bao giờ có thể khôi phục quá khứ y như nó đã xảy ra. Khi cả nhóm đi bộ
xuống sườn đồi thì trời đã tối. Đối với Văn, điều quan trọng hơn nhiều so với
biết chuyện chính trị là làm sao tìm được chồng. Trước khi tách khỏi những
người đó, bà quyết tâm tìm hiểu xem liệu họ có giúp bà được không. Nhưng không
ai khuyên được điều gì thiết thực cho lắm. Họ nói rằng bản thân họ nhận thư từ
Trung Quốc còn khó nữa là.

“Có lẽ nếu chị đi Lhasa thì các sĩ quan quân đội ở đó sẽ có
nhiều thông tin hơn, hoặc là sẽ giúp chị quay về Trung Quốc,” người phụ nữ nói.

Văn cảm ơn. Mặc dù trọn tâm hồn bà mong mỏi được trở về Tô
Châu để ôm cha mẹ và chị gái trong vòng tay, bà biết rằng chừng nào chưa có
được tin tức gì về Khả Quân và Zhuoma, bà không thể rời Tây Tạng. Thế là bà dõi
theo những người Trung Quốc đầu tiên bà gặp trong nhiều năm qua dần rời xa
mình. Trong một thoáng, bà thấy thôi thúc muốn chạy theo họ, nhưng bà kìm mình
lại. Giờ đây bà không thuộc về họ nữa. Ge”er và Bát là gia đình của bà.

Khi trở về phòng mình ở nhà khách, bà gặp một vị lạt ma ngồi
ngoài cửa, trên nền đất, vừa lần tràng hạt vừa tụng niệm. Khi thấy bà, ông
ngẩng lên nhìn.

“Tôi nghe người ta nói bà đang tìm một phụ nữ tên là
Zhuoma.”

“Vâng,” Văn phấn khởi nói. “Ngài có biết gì không ạ?”

“Tôi cũng đang đi tìm bà ấy,” vị lạt ma nói. “Nhiều năm
trước đây, tôi là đầy tớ của bà ấy. Chúng tôi bị lạc nhau khi đang đi trong một
cơn bão. Tôi lang thang nhiều ngày tìm bà ấy và lẽ ra đã chết nếu như một vị
lạt ma ở tu viện này lúc đó đang hái cỏ làm thuốc ở trên núi không tìm ra tôi
và mang về đây. Từ đó đến nay tôi hiến đời mình cho tu viện này, nhưng tôi chưa
bao giờ thôi hỏi tất cả khách đến thăm chùa, để may ra biết được tin gì về bà
chủ quý mến của tôi.”

Văn khó nhọc mới nói nên lời. “Ngài là Thiên An Môn,” bà
nói.

Vị lạt ma sửng sốt. “Phải,” ông nói. “Bà ấy gọi tôi là Thiên
An Môn.”

Những ngày tiếp sau lễ Hoạt Phật, Thiên An Môn thường đến
thăm Văn, Ge”er và Bát trong thời gian rảnh giữa các buổi đọc kinh ở sảnh đường
lớn của tu viện. Khi nghe kể câu chuyện về Zhuoma, ông siết chặt hai bàn tay to
tướng cho đến khi các khớp kêu răng rắc. Sau đó ông có vẻ đăm chiêu. Ông bảo họ
rằng ông đã gửi thư thỉnh cầu tu viện trưởng xin được nghỉ phép rời khỏi tu
viện một thời gian. Ông muốn cùng họ đi tìm Zhuoma. Ít lâu sau, ông đến gặp họ
mang theo tin vui rằng đơn xin của ông được chấp thuận. Chưa hết, tu viện
trưởng còn sẵn sàng ban phúc cho cuộc tìm kiếm của họ, cuộc tìm kiếm mà ở đó số
phận của người Trung Quốc gắn liền với số phận của người Tây Tạng. Thiên An Môn
dẫn họ đến diện kiến vị lạt ma trụ trì, ngài kiên nhẫn lắng nghe lời thỉnh cầu
của họ.

“Trên vùng cao nguyên,” ngài nói, “bầu trời có thể thay đổi,
con người ta có thể thay đổi, bò cừu, hoa cỏ đều có thể thay đổi, song những
ngọn núi thiêng thì không. Nếu các vị để thông điệp lại trên mười ba ngọn núi
thiêng, những ai biết về Zhuoma sẽ tìm thấy chúng. Sự sống khởi nguồn ở tự
nhiên và quay trở về với tự nhiên.”

Ngài cho Văn nửa cây bút chì, ngài bảo bà rằng đây là một
báu vật hiện đại thuộc về tu viện. Văn rất thích thú. Cả đối với bà, cây bút
chì này là vô giá: viết nhật ký đã trở thành niềm an ủi chính của bà, nhưng hòn
đá nhuộm màu của bà chỉ khức được những vệt mờ nhạt trên các trang sách mà
thôi. Chiều hôm đó, bà viết nhật ký bằng những dòng chữ màu đen rõ ràng.

Chỉ có Bát dường như buồn vì họ sắp rời tu viện. Giờ đây khi
anh của Zawang đã trở về tu viện cùng lạt ma trụ trì, Zawang ít dành thời gian
ở bên cô hơn. Bất cứ khi nào các lạt ma được giải phóng khỏi các nghĩa vụ hàng
ngày, Zawang liền chạy ù đi nói chuyện với người anh mà cậu mười năm không gặp.
Văn tự hỏi làm sao Bát sống được một khi đã quen có bầu có bạn như thế? Nhưng,
nỗi lo của bà là vô ích. Một ngày trước khi họ ra đi theo dự định, Ge”er đến
bảo bà rằng Zawang muốn theo họ trong chuyến đi này. Dường như cả cậu cũng
không thể chịu nổi nếu chia tay với Bát. Người ta cử điệp sứ cưỡi ngựa tới chỗ
Gela và đến gặp gia đình của Zawang để báo với họ rằng đã tìm ra Thiên An Môn
và Zawang đã quyết định tham gia cuộc tìm kiếm. Trước đây họ đã cử các điệp sứ
như vậy rồi, nhưng chưa bao giờ nhận lại được tin tức gì về gia đình Gela cả.
Văn hy vọng rằng các thông điệp đó sẽ tới được đích.

Tu viện lo liệu việc cung cấp ngựa cưỡi và các thứ dự phòng
cho họ. Khi lên ngựa, Văn để ý thấy Thiên An Môn có chất theo mấy súc lụa. Bà cho
rằng, là một lạt ma, ông ta cần mang kinh sách theo mình. Tuy nhiên, trên đường
đi, Thiên An Môn giải thích rằng thật ra đó là các thông điệp hỏi han thông tin
về bà Zhuoma mất tích. Tu viện đã dạy ông nhiều điều, trong đó có dạy viết chữ.
Ông kể cho bà về những cuộc tranh luận kinh văn, ở đó các lạt ma bàn luận những
cách diễn giải kinh sách theo một nghi thức tranh luận trang trọng với một loạt
quy tắc rất cụ thể. Văn cảm thấy mình trở nên gần gũi hơn với cái ông Thiên An
Môn lầm lì ít nói nhờ có dịp hiếm hoi này để nhìn vào trong thế giới của ông
ta.

Bao nhiêu thời gian đã qua trong chuyến hành trình đó xung
quanh các ngọn núi thiêng ở Thanh Hải? Văn không còn biết đếm ngày đếm tuần
nữa. Nhóm người nho nhỏ của bà cứ nhọc nhằn tiến lên phía trước, quyết tâm tìm
bằng được Zhuoma, dù đường xa, dù vất vả gian truận, họ vẫn không hề nhụt chí.
Giữa mỗi ngọn núi thiêng khổng lồ lại là một rặng núi khác mà họ phải vượt qua.
Nhưng họ không đầu hàng: họ sẽ không dừng bước chừng nào chưa để lại hết các
súc lụa của Thiên An Môn trên tất cả mười ba ngọn núi.

Ở đâu đó giữa ngọn núi thứ nhất và ngọn núi thứ ba, Ge”er
đồng ý cho Bát và Zawang lấy nhau. Những ngọn núi im lìm là nhân chứng cho họ.
“Chúng ta sống dưới đôi mắt các linh hồn,” Ge”er bảo bà. “Mối kết giao này là
một phần của thiên cơ.” Văn tự hỏi phải chăng Bát, với năng khiếu tiên tri của
mình, xưa nay vẫn luôn luôn biết điều gì đó về mối hôn nhân này. Có lẽ chính vì
vậy cô đã đợi lâu đến thế trước khi gắn bó mình với một ai, rõ là bất chấp
phong tục tảo hôn của Tây Tạng. Liệu các linh hồn có dẫn dắt cô cả trên con
đường của bà không? Càng lúc bà càng cảm thấy sự hiện diện của họ trong cuộc
đời bà.

Ở ngọn núi thứ năm, Bát sinh hạ một bé gái, đặt tên là
Zhuoma.

Văn rất lo lắng chuyện lại có một đứa bé thêm vào nhóm. Việc
thường xuyên phải đi lại khiến Bát căng thẳng quá sức, nên có lẽ là không phải
nếu cứ để Bát liều tính mạng của cô lẫn của đứa con để tiếp tục cuộc tìm kiếm.
Văn bàn với Thiên An Môn và Ge”er về nỗi lo của mình, và mọi người nhất trí
rằng Ge”er sẽ đi cùng Bát với Zawang tới một chỗ nào đó nơi hai vợ chồng có thể
xây dựng cuộc sống gia đình đâu ra đấy. Sau đó ông sẽ quay về nhà
với Gela và Saierbao: ông rời xa anh trai và vợ quá lâu nên đã đến
lúc đoàn tụ. Thiên An Môn có thể bảo vệ Văn. Thiên An Môn khuyên Ge”er nên đưa
cặp vợ chồng trẻ về phía Đông Nam. Ở tu viện ông có nghe người ta nói rằng
tại đó, người Trung Quốc và người Tây Tạng cùng chung sống. Bát và Zawang sẽ
tìm được việc làm, còn con gái họ có thể đi học.

Trong khi Văn ngắm ngựa của Ge”er đi xa dần, theo sau là Bát
và Zawang, bà tự hỏi liệu có bao giờ mình sẽ gặp lại họ không. Cả phần đời còn
lại cũng không đủ cho bà có thời gian đền đáp tất cả những gì Ge”er và gia đình
ông đã làm cho bà. “Án ma ni bát mê hồng” bà thì thầm trog hơi thở giữa
lúc những bóng người biến mất vào rặng núi.

Chính là ở ngọn núi thứ chín nơi họ tìm ra thông điệp của
Zhuoma. Ngọn núi đầy những tảng đá mani chồng chất, trên đó có
khắc những bài kệ mani và nhiều đoạn kinh phật.

“Đó là kinh Kim Cang,” Thiên An Môn nói. “Cứ mỗi ụ đá là một
chương kinh.”

“Tôi sờ vào được không?” Văn hỏi.

“Được,” Thiên An Môn đáp. “Khi đặt ngón tay vào các chữ, chị
sẽ cảm nhận được sự có mặt của các linh hồn.”

Trong một lát, hai người tách nhau ra, tha thẩn đi quanh các
ụ đá, đọc những lời kinh được lưu giữ trong đá. Khi Văn ngắm nhìn chúng, bà cố
hình dung không biết bao nhiêu thế hệ bàn tay đã khắc nên những chữ thiêng kia,
chồng chất chúng trên ngọn núi này để được lưu giữ suốt hàng ngàn năm. Bỗng
Thiên An Môn gọi to. Văn quay lại. Ông đứng đó, vừa vẫy vẫy một cái khăn khata màu
trắng mà ông rút xuống từ dãy phướn cầu nguyện phất phơ trong gió vừa kêu lên
cái gì đó không thể nghe ra. Khi Văn lại gần ông, đi xuống con dốc, hầu như ông
quá xúc động không nói được. Bà cầm lấy cái khăn từ tay ông. Trên đó có ghi một
câu giản dị: “Zhuoma đang tìm Thiên An Môn. Bà ấy dợi ông ở ngọn núi kế cận,
gần chỗ lều thợ đẽo đá.”

Tim họ như muốn bật ra khỏi miệng trong khi họ giục ngựa phi
về phía ngọn núi kế cận. Thông điệp đó nằm đây bao lâu rồi? Zhuoma có đợi được
không? Họ đi mất nhiều ngày. Khi đến được chân núi, họ thấy ở đằng xa túp lều
của thợ đẽo đá, bên trong có dáng người một phụ nữ trông như tượng. Khi ngựa
của họ phóng ầm ầm về phía người đó, bà ta quay lai. Ấy là Zhuoma.

Mãi một hồi lâu cả ba người đứng lặng. Trong cơn cảm xúc
trào dâng, họ không nói được lời nào. Văn xuống ngựa, ôm lấy người bạn đã hai
mươi năm không gặp. Sau lưng bà, Thiên An Môn chào người chủ cũ bằng những giọt
lệ âm thầm. Ông đã tìm thấy bà, nhưng không thể ôm bà trong tay. Ở Tây Tạng,
phụ nữ độc thân chỉ được phép chạm vào bàn tay một người đàn ông nếu người đó
đã thề nguyện dâng đời mình cho Phật.

Từ sự im lặng của Zhuoma khi họ nhắc tới chủ đề này, có thể
thấy rõ rằng bà không muốn nhắc tới những gì đã xảy ra với mình từ khi bà bị
bắt cóc. Văn và Thiên An Môn không bao giờ dám xúc phạm đến lòng tự trọng của
bà bằng cách cứ gặng hỏi. Họ chỉ biết được rằng bà đã bị đưa tới thành phố Tây
Ninh của Trung Quốc ở góc Đông Bắc tỉnh Thanh Hải, sống ở đó nhiều năm trước
khi tìm được cách trốn thoát. Phải mất hai năm bà mới tìm được gia đình
của Gela. Khi rốt cuộc bà cũng tìm được họ thì Văn đã ra đi từ lâu rồi.

Làm sao bà đã nghĩ tới chuyện để lại thông điệp trên các
ngọn núi thiêng? Văn hỏi, sửng sốt khi thấy số phận hẳn đã run rủi cho Zhuoma
hành động giống hệt như bà.

“Một người thợ đẽo đá mani có nói với tôi một điều mà tôi
không thể quên,” Zhuoma đáp. Anh ấy nói: “Người Tây Tạng luôn luôn tìm lại được
ở các ngọn núi thiêng những gì mình đã đánh mất.” Tôi bèn quyết định rằng hàng
năm trời tôi sẽ đến thăm tất cả các ngọn núi thiêng, và nếu trước mùa đông mà
tôi không nhận được tin gì, tôi sẽ quay lại ngọn núi đầu tiên vào mùa xuân và
lại khởi sự từ đầu. Tôi đã làm như thế,” bà nói, buồn bã nhìn Thiên An Môn.
“Tôi đã thăm từng ngọn núi nhiều lần, giờ thì các ngọn núi đã trao cho tôi
những gì tôi đã mất.”

Bà quay sang Văn.

“Chị tìm được Khả Quân chưa?”

Văn chỉ biết lắc đầu.

“Thế thì,” Zhuoma nói, “tôi muốn giúp chị tìm lại những gì
chị đã mất. Hãy cho tôi biết tôi phải làm gì.”

Văn cảm thấy lời của Zhuoma giống như một món quà tự trên
trời ban xuống. Kể từ khi gặp những người Trung Quốc ở Wendugongba, bà luôn
ngẫm nghĩ tới những gì đã biết được về sự có mặt của người Trung Quốc ở Tây
Tạng.

“Tôi muốn đến Lhasa,” bà nói. “Tôi nghĩ ở đó tôi có thể
tìm thấy những người ở trong quân đội Trung Quốc. Có thể họ có hồ sơ ghi lại
chuyện gì đã xảy ra với trung đoàn của chồng tôi.”

Zhuoma liếc sang Thiên An Môn vẻ dò hỏi.

“Tôi sẽ đưa cả hai vị đến Lhasa,” ông nói, “nhưng sau đó tôi
có nghĩa vụ phải quay về tu viện.”

Phải khó khăn lắm Văn mới có thể nhìn Zhuoma. Bà đau đớn
nhận ra rằng người bạn của mình rồi sẽ phải một lần nữa đối mặt với nỗi đau mất
người bà yêu.

Tôi nghĩ đến cảnh Văn và Zhuoma đối diện nhau, tóc bạc,
sợ không dám nói quá nhiều, thận trọng không dám hỏi nhau nhiều. Cả hai đều
biết có những điều không nên bàn tới. Rằng họ không đủ sức. Rằng sau quá nhiều
năm mất mát đổi thay, trái tim họ hẳn không còn đủ sức chịu đựng nữa.

Nhiều lần tôi tự hỏi những gì có thể đã xảy ra với Zhuoma
trong những năm xa cách Văn. Có lẽ bà ấy đã bị bắt cóc để làm vợ một ai đó.
Chuyện này thường xảy ra ở những vùng dọc theo Con Đường Tơ Lụa. Suốt nhiều thế
hệ, người Mông Cổ, người Tây Tạng và người Trung Quốc sống gần Con Đường Tơ Lụa
vẫn thường tấn công các thương đoàn để tìm vợ cho mình. Đôi khi, nếu người phụ
nữ giàu có, những kẻ bắt cóc sẽ thỏa thuận với bà ta rằng bà ta chỉ cần sống
với vợ chồng trong một thời hạn nhất định. Có lẽ đây là trường hợp của Zhuoma.
Khi gặp Thư Văn và Thiên An Môn, bà vẫn đang đeo các món nữ trang của tổ tiên.
Điều này cho thấy chồng bà có lẽ là một người giàu có, quyền thế, nên tôn trọng
tài sản của vợ mình. Dù thế nào đi nữa, và nếu điều tôi đoán là đúng, thì cũng
khó hình dung được một phụ nữ có học vấn như Zhuoma phải chịu thống khổ như thế
nào trong suốt những năm bị ép làm vợ ấy, hay làm thế nào bà thích nghi được
với cuộc sống sau đó.

Báo cáo nội dung xấu