Thiên táng - Chương 07 phần 1

Văn, Zhuoma và Thiên An Môn đi về phía Nam.
Trời đã sang hè khi họ đến được vùng được gọi là “Bách Hồ” và nhìn thấy hồ
Zhaling rộng mênh mông, trải dài như biển cả bên dưới núi Anyemaqen. Gió hiu
hiu thổi, ánh nắng khiến họ cảm thấy ấm áp và thơ thới. Khi đến gần hồ, họ ngạc
nhiên thấy có rất nhiều ngôi lều dựng dọc ven bờ nước. Văn biết rằng dân du mục
hiếm khi tụ họp đông người về một chỗ. Hẳn phải có một lễ lạc quan trọng nào đó
thì mới khiến những người này đến đây. Hiện đang là mấy tháng hè, bò cừu béo
tốt và người Tây Tạng cũng có thể thoải mái giao du với nhau.luôn

Họ tự dựng lều và buộc ngựa. Chiều hôm đó, Thiên An Môn đi
tha thẩn quanh các lều khác, đổi một số món trang sức Zhuoma giữ gìn suốt bao
năm qua để lấy thức ăn. Khi quay về, ông kể rằng nghe người ta nói hai hôm nữa
sẽ có một buổi trình diễn ca kịch trên lưng ngựa. Ý nghĩ về một vở ca kịch diễn
trên lưng ngựa khiến Văn tò mò. Zhuoma nhớ đã xem những vở ca kịch như vậy từ
lúc còn bé. Bà giải thích rằng các vở đó được diễn bởi các lạt ma được huấn
luyện đặc biệt, họ mặc lễ phục mà cưỡi ngựa. Chẳng có thoại hay hát gì hết, mà
chính những mẫu hình do các lạt ma tạo ra khi cưỡi ngựa trong tiếng nhạc sẽ kể
ra câu chuyện.

Đêm hôm đó, mặc dù mỏi nhừ xương vì đi xa, Văn không sao ngủ
được. Bà cứ trằn trọc bởi tiếng ai đó hát ở đằng xa nghe không rõ. Đó là một
bài hát bà chưa nghe bao giờ. Bà tự hỏi có phải là do mình tưởng tượng ra
không: Zhuoma và Thiên An Môn vẫn ngủ ngon lành.

Sáng hôm sau, khi Văn kể cho Zhuoma nghe về tiếng hát hồi
đêm, Zhuoma liền nói các cụ già thường bảo đó là những giọng ma quỷ vang lên từ
phía núi. Văn nghe lành lạnh dọc sống lưng.

Hai người phụ nữ quyết định sẽ dành suốt ngày để thăm thú
cảnh hồ trên lưng ngựa, thế nên họ khởi hành sớm, mang theo một túi da đựng
nước. Khi cưỡi ngựa về phía Đông dọc theo ven hồ, họ quan sát những con chim
tìm thức ăn và chơi đùa bên mép nước lấp lánh. Vài đám mây mỏng lướt trên bầu
trời xanh ngắt và những con chim từ trên cao bổ xuống nối liền trời với đất.
Khung cảnh khiến Văn nhớ về đồng bằng châu thổ sông Dương Tử: về dòng sông chảy
qua thị trấn quê bà, về hồ Động Đình và Đại Hồ với những con thuyền dập dềnh
cùng những cây cầu nhỏ làm bằng đá và gỗ. Phần nào dắm mình trong suy nghĩ, bà
kể cho Zhuoma nghe về cái ngày bà và Khả Quân đua thuyền giấy trên Đại Hồ.
Thuyền của Văn hóa ra lại dong buồm chạy thẳng vào chính giữa hồ, trong khi
thuyền của Khả Quân cứ quay vòng vòng một chỗ. Thật lạ là ở Tây Tạng, vuông
giấy nhỏ dùng để xếp một chiếc thuyền giấy còn đắt hơn cả một bữa ăn.

Zhuoma kéo dây cương. “Chị có nghe tiếng người hát không?”

Khi tiếng lóc cóc vó ngựa của họ đã dừng, âm thanh nổi lên
rất rõ: quả là có một giọng người, một giọng đàn ông đang hát một giai điệu
buồn. Zhuoma nhìn thấy hai cô gái ở gần đó đang gánh nước, liền thúc ngựa về
phía họ.

“Các cô có nghe tiếng hát kia không?” bà hỏi.

Các cô gật đầu.

“Các cô có biết là ai không?”

Người lớn tuổi hơn trong hai cô gái chỉ về phía một chấm nhỏ
xíu ở phía bên kia hồ.

“Ấy là Lão Ẩn sĩ Cường Ba,” cô nói. “Ngày nào ông ấy cũng
hát ở đó. Khi nào đi gánh nước cháu cũng nghe. Mẹ cháu nói ông ấy là thần gìn
giữ hồ này.”

Hai người phụ nữ thúc ngựa lại gần người hát hơn, nhưng mặc
dù đã cưỡi ngựa đi được hai tiếng đồng hồ, song hồ quá rộng đến nỗi nhà ẩn sĩ
dường như vẫn còn ở rất xa. Họ không sao nhìn thấy mặt ông, chỉ thấy bộ quần áo
rách tả tơi của ông bay phấp phới trong gió. Từ đằng xa, tảng đá lớn nơi ông ngồi
trông như đang trôi bồng bềnh giữa mặt nước. Khi đến gần hơn, họ thấy tảng đá
nằm ở cuối một doi đất nhỏ nhô ra hồ.

“Ông ấy hát gì vậy?” Văn hỏi Zhuoma.

“Nghe như là một phần của đại truyền thuyết của Vua Gesar
(Cách Tát Nhĩ), “Zhuoma nói. “Ngày mai người ta diễn kịch trên lưng ngựa cũng
là về câu chuyện này. Truyền thuyết này đã được lưu truyền qua nhiều thời đại,
từ người kể chuyện này tới người kể chuyện khác. Đó là câu chuyện dài nhất trên
thế giới. Mặc dù ở Tây Tạng ai cũng biết câu chuyện, nhưng người vùng này đặc
biệt yêu thích nó là bởi chính ở đây, nơi nguồn của Hoàng Hà, Vua Gesar đã tạo
dựng vương quốc của người.”

Zhuoma nghĩ rằng có lẽ đi từ phía bên kia hồ sẽ dễ tới được
chỗ nhà ẩn sĩ hơn nên đề nghị hôm khác họ sẽ thử. Khi ruổi ngựa quay về, bà kể
cho Văn nghe đôi chút về Vua Gesar.

Gesar ra đời trong gia tộc cai trị vương quốc cổ Linh. Lúc
nhỏ ngài dũng cảm và khéo léo khác thường. Nhưng khi ngài đủ tuổi làm vua, ông
chú Trothung (Tào Đồng) của ngài muốn tiếm ngai vàng nên buộc Gesar và mẫu thân
ngài phải đi đày ở một thung lũng nơi đầu nguồn Hoàng Hà. Thung lũng đó là một
chốn hoang vu tăm tối lạnh lẽo không có cả ánh mặt trời lẫn ánh trăng, lại đầy
quỷ dữ. Gesar và mẫu thân ngài thuần hóa các linh hồn ác và khuất phục lũ ngạ
quỷ, khép nước non cây cỏ vào trật tự, biến thung lũng thành một thiên đàng màu
mỡ cho những người chăn nuôi, nơi các đồng cỏ sum sê chật ních bò, ngựa và cừu.
Sau đó trời cho bão tuyết và băng giá xuống để trừng phạt Trothung, khiến cho
không ai còn sống được ở vương quốc Ling nữa. Dân chúng nước Linh khẩn cầu
Gesar cho họ đến chỗ ngài, và ngài vui vẻ giúp sáu bộ lạc Linh định cư ở đầu
nguồn Hoàng Hà. Vì lý do này, tất cả những người Tây Tạng sống ở thung lũng này
đều tự coi mình là người của vương quốc Linh và là hậu duệ của Gesar.

Đến khi hai người phụ nữ về tới lều, Thiên An Môn đã xây
xong một cái bếp lò bằng mấy tảng đá to, trên bếp là một cái nồi tỏa ra mùi
thịt ngon lành. Ông cho Zhuoma biết ông đã kiếm được nửa con cừu và nấu theo
kiểu Trung Quốc.

“Làm sao ông học nấu theo kiểu Trung Quốc được?” Zhuoma ngạc
nhiên hỏi.

“Từ bà,” Thiên An Môn đáp. “Bà đã chỉ cho tôi, khi bà từ Bắc
Kinh về.”

“Không thể có chuyện đó được,” Zhuoma đáp. “Hồi đó ngay
cả tsampa tôi còn không biết nấu, nói gì tới món ăn Trung
Quốc.”

Thiên An Môn mỉm cười.

“Nhưng bà có kể cho tôi nghe về những món Trung Quốc bà đã
ăn ở Bắc Kinh, và mùi vị món cừu hầm của họ. Cha tôi thường nói, nếu ngửi phân
một con ngựa, con có thể nói nó ăn cỏ ở đâu. Nếu con nếm rượu lúa mạch, con có
thể nói vụ lúa mạch đó thế nào. Chẳng phải bà có bảo tôi rằng người Trung Quốc
nấu thịt cừu với mấy thứ rau ngọt, rằng thịt mềm và để trong nước dùng mặn sao?
Tôi nấu cừu bằng chính cách đó đấy.”

Cả Zhuoma lẫn Văn đều phá lên cười.

“Tôi bảo cô rằng anh ta chẳng hỏi gì,” Văn nói với Zhuoma.
“Nhưng nhất định là anh ta nghe hết đó.”

Món thịt cừu của Thiên An Môn rất ngon. Văn không thể nhớ đã
bao giờ ăn món gì nấu chung bằng mấy thứ rau đó chưa, nhưng bà không nói ra. Bà
không sao tìm hiểu được chính xác ông ta đã dùng những rau gì.

Trong bữa ăn Thiên An Môn kể, ông nghe người ta nói hơn một
ngàn người sẽ đến xem vở diễn trên lưng ngựa hôm tới. Họ có thể nhân cơ hội này
để dò hỏi về chồng Văn. Ba người bạn tinh thần phấn chấn suốt tối hôm đó, như
thể tin chắc rằng mọi hy vọng của họ chẳng mấy chốc sẽ thành sự thực. Văn đi
ngủ mà cứ miên man nghĩ về Khả Quân. Có lẽ bà sẽ không cần
đến Lhasa nữa. Có lẽ rốt cuộc thì những ngọn núi thiêng sẽ trả lại
cho bà những gì bà đã mất. Trong đêm, tiếng hát của vị ẩn sĩ trôi vào trong những
giấc mơ của bà. Bà cùng Khả Quân đang theo sau một Tôn sư vĩ đại, ngài đang
chọn những hòn đá mani cho họ trên một trong các ngọn núi
thiêng…

Sáng hôm sau, từng đám đông người bắt đầu tụ tập trên sườn
đồi. Do vở kịch được diễn trên đất bằng nên từ triền dốc xem sẽ rõ hơn. Văn
chưa hề thấy cảnh gì như thế kể từ buổi lễ Hoạt Phật ở Wendugongba. Bà vừa sợ
hãi vừa phấn khích khi thấy quá đông người như vậy. Bà cùng Zhuoma và Thiên An
Môn đến sớm, khi các lạt ma còn đang vẽ mặt và chuẩn bị quần áo. Nhìn qua vạt
lều của các nghệ sĩ, họ có thể thấy nhiều trang phục màu sắc sặc sỡ rất đẹp.
Vài chàng thanh niên lảng vảng quanh các lều, thử hết nón đến mũ trụ rồi vòng
hoa. Những người trẻ khác múa, hát và vẫy những lá cờ nhiều màu sắc. Không khí
rất ư sôi nổi.

Một dụng cụ dây đơn giản duy nhất cất lên vài nốt, thế là vở
kịch bắt đầu. Văn cứ lo rằng mình sẽ không hiểu kịch nói gì, song những chuyển
động cách điệu của các nghệ sĩ ngồi trên lưng ngựa khiến cho mọi chuyện đều rõ
ràng. Vở kịch kể lại phần truyền thuyết về Gesar khi ngài được Bồ tát Cheresig
tức Quan Âm cho xuống trần gian, Quan Âm là người quan sát thế giới loài người,
giúp loài người gột bỏ những ác linh và ngạ quỷ, đánh bại mọi bạo lực và giúp
đỡ kẻ yếu. Thần canh giữ đức tin và thần chiến tranh hộ tống hộ tống Gesar vào
thế giới của loài người. Gesar thắng trong cuộc đua ngựa để chọn người cai trị
vương quốc Linh, được phong danh hiệu Vua Gesar và Vua của các Chiến Thần. Dẫn
đầu tất cả các vị thần, Gesar bắt đầu tiến hành một cuộc chinh phạt trên khắp
xứ sở, mang lại hòa bình và ổn định cho đất nước. Khi nhiệm vụ to lớn này hoàn
thành, các vị thần bay về thiên đình ở trên trời.

Văn nghĩ các lạt ma trông như những nhân vật trong vở Kinh
kịch mà bà xem hồi còn bé ở các quán trà Nam Kinh, chỉ có điều họ ngồi trên lưng
ngựa. Họ vừa vẫy cờ vừa cưỡi ngựa theo nhiều kiểu khác nhau, lại vừa hét và
rống lên những tiếng lạ lùng. Tất cả khiến Văn nhớ tới cảnh trong Tây
Du Ký
khi Tôn Ngộ Không đại náo thiên đình. Zhuoma đứng cạnh bà, khe
khẽ giải thích một số chỗ mà Văn không hiểu:

“Đây là trận chiến với vua quỷ.”

“Đó là nàng thiếp xinh đẹp của vua đang cầu nguyện cho
ngài.”

“Tên đại ác kia là Trothung, chú của ngài, đang đứng ngoài
hể hả nhìn.”

Trong khi xem, Văn đầy khâm phục khi thấy cử chỉ của các
nghệ sĩ đều là mô phỏng theo cuộc sống hàng ngày. Bà ngạc nhiên thấy rằng cách
kịch-sĩ-lạt-ma này tuy sống khép kín trong tu viện nhưng lại biết rõ những cử
chỉ đó đến thế. Nhưng có lẽ không có gì khác biệt nhiều lắm giữa trong tu viện
với ngoài tu viện. Càng lúc bà càng hiểu rằng toàn bộ Tây Tạng là một tu viện
vĩ đại. Ai ai cũng thấm nhuần một tinh thần tôn giáo như nhau, dù họ có mặc bộ
áo tu hành hay không.

Khi trời sẩm tối và các lạt ma đã buộc ngựa rồi gói ghém
trang phục, khán giả liền tụ tập quanh những đống lửa mà uống rượu lúa mạch và
trà bơ. Người ta quay cừu nguyên cả con, mùi thơm thoang thoảng trong không khí
khi mỡ bắn ra cháy xèo xèo trên ngọn lửa giống như pháo hoa.

Đột nhiên có tiếng ồn ào nhốn nháo, và ai nấy liền bật dậy
để xem chuyện gì xảy ra. Có người lớn tiếng nhờ mang nước nóng và một menba tới.

Zhuoma len vào đám đông để xem người ta nói gì.

“Một phụ nữ đang đau đẻ,” bà nói với Văn. “Nghe như bà áy đẻ
khó nên gia đình nhờ người tới giúp. Chị có làm gì được không?”

Văn do dự. Trong ngần ấy năm sống ở Tây Tạng, bà hầu như
không dùng tới kiến thức y khoa của mình. Hàng rào ngôn ngữ, rồi thảo dược dùng
cũng khác nhau, thật ra khi có ai ốm nặng thì người Tây Tạng lại thường chỉ cậy
nhờ vào lời cầu nguyện, tất cả những điều đó khiến cho vốn tri thức mà khó khăn
lắm bà mới có được trở nên vô dụng. Liệu có phải đây là lúc bà có trách nhiệm
tuyên bố mình có thể giúp một ca đẻ khó hay không?

Zhuoma nhận ra sự phân vân của Văn.

“Nào,” bà nói. “Họ đang tuyệt vọng. Ít ra cũng tới xem thế
nào.”

Trong một căn lều bày biện đơn sơ có một phụ nữ nằm, mặt xám
như tro. Toàn thân chị ta run bần bật và loang lổ những vệt máu chảy. Cái đầu
đứa bé đã lộ ra, nhưng phần còn lại không ra được vì dây nhau quấn quanh cổ.
Còn nguy hiểm hơn, gia đình người mẹ vẫn hối thúc chị ta cố hết sức, nên đứa bé
đang tím tái dần bởi dây nhau siết lại làm nó nghẹt thở.

Văn la lên bảo người phụ nữ thôi đừng rặn nữa. Bà vừa rửa
tay vừa hét lên chỉ bảo cho Zhouma biết phải làm gì để giúp bà. Gia đình người
mẹ bối rối khi thấy bà cương quyết quá, nên chỉ im lặng đứng nhìn.

Văn cẩn thận đẩy đầu đứa bé vào trở lại trong cơ thể người
mẹ. Bà nghe vài hơi hít vào the thé ở ngay bên cạnh và cố hết sức để nhớ lại
cách đỡ đẻ bà đã học ở trường y. Với những ca khó như thế này, bà cần phải xoa
bóp nhẹ vùng dạ con. Zhuoma bảo mọi người rằng văn là một menba người
Trung Quốc, rằng bà dùng phương pháp sinh đẻ của người Trung Quốc để giúp họ.
Rồi Văn ra hiệu cho người mẹ rặn, và sau một lát đứa bé trồi ra, chậm nhưng
chắc. Đó là một bé trai khỏe mạnh. Giữa những tiếng kêu trầm trồ thích thú, Văn
khéo léo cắt dây nhau, rút nhau ra, rồi rửa thân dưới người phụ nữ bằng một thứ
rượu y tế đặc biệt mà gia đình người mẹ đem tới cho bà. Thế rồi bà quan sát
thấy, cũng như con của Án và của Bát, đứa bé được người ta bôi cho một thứ nước
sắc thuốc đặc biệt để bảo vệ cho nó khỏi bị côn trùng cắn.

Khi Văn trao cho đứa bé quấn trong tã cho người cha, anh ta
sợ không dám đỡ lấy nó. Thay vì, anh mở rộng áo choàng rồi bảo Văn đặt đứa bé
vào trong cho ông. Anh tràn trề xúc động. Anh bảo Văn và Zhuoma rằng cả nhà
mong có con từ nhiều năm nay, nhưng lần nào hy vọng của họ cũng vỡ tan tành vì
sẩy thai hay đẻ khó.

“Giờ thì tôi biết menba thứ hai người Trung
Quốc đã làm một điều tốt,” người đàn ông nói.

Văn sững sờ. “Ý anh là gì?” bà hỏi “Ông từng gặp một bác sĩ
Trung Quốc khác à?”

“Cha tôi có kể cho tôi nghe về một người,” người đàn ông
đáp. “Cha tôi kể rằng nhiều năm trước, có một bác sĩ người Trung Quốc được
thiên táng, do vậy mà giao tranh giữa người Trung Quốc với người Tây Tạng ở
vùng này chấm dứt.”

Văn nhìn Zhuoma. Tim bà đập thình thịch, bà hầu như không
thở được.

Liệu người bác sĩ đó có thể là Khả Quân không?

Nhận thấy cảm xúc của bà, Zhuoma giúp bà ngồi xuống.

“Chi tiết thì tôi không biết,” ông ta nói tiếp, “nhưng cha
tôi thường nói Lão Ẩn sĩ Cường Ba biết chuyện này.”

Ngay lúc đó, một người lao vào lều dúi cho Văn một chiếc
khăn choàng khata trắng như tuyết, dấu hiệu tỏ lòng biết ơn.
Rồi ông ta dẫn bà ra ngoài nơi đám đông đang đợi, họ chào đón bà bằng những
tiếng huýt sáo và hoan hô vang dậy. Hai bà lão đang nấu món thịt cừu trên lửa
tiến lại gần dọn cho bà hai cái chân cừu béo ngậy để tưởng thưởng cho việc bà
đã làm. Bữa ăn thịnh soạn kéo dài đến tận đêm. Mãi mấy giờ sau Văn mới về được
đến lều. Bà và Zhuoma quyết định rằng ngay sáng hôm sau họ sẽ lên đường tìm
Cường Ba. Bà nằm xuống, đầu óc hơi váng vất vì món rượu lúa mạch vừa uống.
Trong khi gió thổi ngoài trời và những ngọn đèn thắp bằng bơ cháy chập chờn, bà
căng tai nghe tiếng hát từ phía hồ vẳng tới.

Hôm trước diễn kịch thì hôm sau dành trọn cho trò đua ngựa,
nhưng Văn và Zhuoma không để ý đến không khí rộn ràng náo nhiệt chuẩn bị cho
trò chơi, họ cứ thế tiến về phía hồ. Khi gần đến nơi lần trước họ trông thấy ẩn
sĩ, Văn rất hồi hộp. Nhưng tảng đá nơi ẩn sĩ ngồi giờ đây trống trơn, và trong
số những người đang lấy nước bên ven hồ không ai biết ông ta đi đâu. Hai người
phụ nữ ruổi ngựa quay trở lại để hỏi những đám đông đang xem đua ngựa, nhưng ở
đó cũng chẳng ai biết. Họ đợi suốt ngày bên bờ hồ nhưng ẩn sĩ không xuất hiện.
Người ca sĩ bí ẩn đã biến mất mang theo câu chuyện của mình.

Người nào họ bắt chuyện cũng đều tin chắc ông ta sẽ trở lại:
ông là thần cai quản hồ này mà. Nhưng đối với Văn, lại thêm một hy vọng nữa tan
thành mây khói và nỗi thất vọng quá lớn khó mà chịu nổi. Cảm thấy như mình sắp
sửa mất trí, bà dứt ra khỏi những người khác mà phi ngựa như điên quanh hồ, vừa
phi vừa thét to tên của Khả Quân và Cường Ba vào trong làn gió.

Suốt mấy ngày, Văn không nói năng, Zhuoma cố an ủi bà bằng
cách nói rằng họ cần phải tìm một người nào khác am hiểu hơn truyền thuyết về
vùng này và về vị menba người Trung Quốc, nhưng Văn không thể
trả lời. Dường như chuỗi cú sốc và nỗi thất vọng nối tiếp nhau không dứt đã
khiến bà không còn khả năng diễn đạt điều gì nữa.

Chính Thiên An Môn đã đánh thức bà. Một sáng sớm nọ, ông và
Zhuoma thắng yên vào ngựa rồi khích lệ Văn cùng họ đến một sườn núi gần đó.

“Tôi muốn dẫn chị đi xem một lễ thiên táng,” Thiên An Môn
nhỏ nhẹ nói.

Một lễ thiên táng vừa mới diễn ra khi ba người bạn lên tới
đỉnh núi. Những chiếc khăn choàng khata và cờ phướn trắng lốp
bay phấp phới trong làn gió nhẹ, các mẩu tiền giấy nhỏ nhảy múa và lăn lóc trên
mặt đất giống như bông tuyết. Họ thấy mình đang ở giữa một mảnh đất rộng có rào
bao quanh và cổng vào, chính giữa là một khoảng trũng lát đá. Có một lối đi hai
bên là hai hàng bệ thờ bằng đá.

Trong khi họ đứng nói chuyện, một người đàn ông lại gần họ
tự giới thiệu là chủ lễ thiên táng. Ông ta hỏi liệu ông có giúp gì được không.
Thiên An Môn tiến lên cúi chào.

“Chúng tôi muốn tìm hiểu về thiên táng,” ông nói.

Mặc dù vị chủ lễ thiên táng có vẻ hơi ngạc nhiên khi có
người yêu cầu một chuyện như vậy, song chẳng phải là ông không vui vẻ đáp ứng
nguyện vọng của họ.

“Con người ta là một phần của tự nhiên,” ông bắt đầu nói.
“Chúng ta đến thế giới này một cách tự nhiên và rời khỏi đó cũng tự nhiên. Sống
và chết đều là một phần của bánh xe luân hồi. Không nên sợ cái chết. Chúng ta
ai cũng háo hức mong được đến kiếp sau. Khi ta đốt lên ngọn lửa tỏa khói của
những nhánh dâu tằm trong lễ thiên táng, nó mở ra một con đường có năm màu giữa
trời và đất, con đường ấy mời gọi các linh hồn xuống bàn thờ. Thi hài trở thành
đồ dâng cúng cho các linh hồn, và chúng ta nhờ họ mang linh hồn người chết liên
trời. Khói cây dâu tằm là để dụ đại bàng, kền kền và các loài ăn thịt chết
thiêng liêng khác tới, các loài này sống nhờ ăn thi hài. Làm việc này là để bắt
chước Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài đã “hy sinh thân mình để nuôi loài hổ”.”

Văn nhỏ nhẹ yêu cầu vị chủ lễ giải thích rõ người ta bày thi
thể người chết ra cho kền kền như thế nào.

“Đầu tiên người ta rửa ráy xác,” ông nói, “rồi cạo hết tóc
và lông. Rồi người ta bọc xác trong một tấm vải trắng và đặt trong tư thế ngồi,
đầu chúi xuống hai gối. Khi chọn được ngày lành, người ta cho một người chuyên
được thuê làm việc này khiêng cái xác trên lưng đem đến bàn thờ thiên táng. Các
lạt ma của tu viện trong vùng đến để tiễn vong linh người chết đi, và trong khi
các lạt ma tụng kinh để cho thiền siêu thoát, vị chủ lễ thiên táng thổi kèn
sừng, đốt lửa dâu tằm để dụ kền kền tới rồi xẻ cái xác ra, đập vỡ xương theo
trình tự quy định từ trước theo nghi lễ. Xác được xẻ theo nhiều cách khác nhau
tùy theo nguyên nhân chết, nhưng dù chọn cách nào đi nữa, các đường dao không
được phạm một lỗi nào, nếu không thì ngạ quỷ sẽ tới đánh cắp linh hồn.”

Ký ức về những bài học mổ xác hồi đại học thoáng qua trong
trí Văn, nhưng bà buộc mình nghe tiếp.

“Lũ chim có khi nào từ chối ăn xác không?” bà hỏi.

“Vì kền kền thích ăn thịt hơn xương nên chúng tôi cho chim
ăn xương trước,” chủ lễ thiên táng đáp. “Đôi khi chúng tôi trộn xương đã đập
nát với bơ sữa bò. Nếu người ta uống nhiều thảo dược khi còn sống thì khi họ
chết xác sẽ đậm mùi thuốc mà kền kền thì không ưa mùi ấy. Bơ và những thứ khác
cho thêm vào giúp dễ ăn xác hơn. Điều quan trọng là chim phải ăn toàn bộ xác.
Nếu không thì xác sẽ bị ngạ quỷ chiếm mất.”

Văn đứng xem lễ thiên táng một hồi. Bà nghe Thiên An Môn hỏi
vị chủ lễ xem có đúng là một vị chủ lễ thiên táng từng giữ lại đầu của tất cả
những xác chết người ta đem tới cho ông ta, dùng các sọ đó xây thành một bức
tường sọ khổng lồ, bởi hồi bé ông ta đã chứng kiến một vụ giết người nên muốn
làm vậy để ngăn không cho hồn ma của kẻ giết người đó lại gần. Bà không lắng
nghe câu trà lời của vị chủ lễ. Bà cố làm cho chính mình quen dần với những ý
nghĩ để cho cái mỏ sắc lẻm, tham lam của một con kền kệt vục vào thịt của người
mình yêu. Trong thời gian sống ở Tây Tạng, bà đã dần dần hiểu được nhiều điều
trong những điều mà thoạt tiên khiến bà kinh hãi và ghê tởm. Đức tin Phật giáo
nay là một phần của đời bà. Vậy thì tại sao bà lại thấy khó khăn đến thế để tin
– như Zhuoma và Thiên An Môn tin – rằng thiên táng là một nghi lễ tự nhiên và
thiêng liêng chứ không phải một việc làm man rợ? Nếu Khả Quân chính là vị menba người
Trung Quốc mà người ta nói tới thì liệu bà có chịu đựng nổi không?

Khi họ đi, bà quay về phía vị chủ lễ thiên táng.

“Ông đã bao giờ làm lễ thiên táng cho một người Trung Quốc
chưa?” bà hỏi.

Vị chủ lễ nhìn bà với vẻ tò mò. “Chưa bao giờ,” ông đáp.
“Nhưng Lão ẩn sĩ Cường Ba, vị ngồi bên kia hồ Trát Lăng ấy, vẫn thường hát về
một chuyện như thế.”

Quay lại hồ Trát Lăng, ba người bạn dựng lều gần nơi Cường
Ba thường hát để họ có thể hỏi những người đến đó lấy nước xem có ai biết
chuyện gì xảy ra với vị ẩn sĩ không. Vài người bảo họ rằng Cường Ba đã ra đi
trên sóng, vừa đi vừa hát. Người khác thì nói tiếng hát của ông khiến những
linh hồn đến với ông và mang ông lên trời. Nhưng ba người không chịu tin rằng
Cường Ba đã ra đi mãi mãi mang theo niềm hy vọng của họ.

Báo cáo nội dung xấu