Bản chúc thư - Chương 22
Chương hai mươi hai
Nước sông dâng lên, rút xuống theo chế độ bán nhật triều,
dần dà rời bờ ở một vài nơi, nuốt những cồn cát, dâng cao lên những tán cây
rậm, ngập lụt một vài khoảng sân vuông nhỏ đầy bùn của những căn nhà mà cỡ vài
ba giờ họ mới thấy bóng dáng một căn. Dòng sông càng lúc càng mang thêm nhiều
vật trôi nổi - cỏ dại, lá vàng, cành khô, củi mục v.v… Sông càng mở rộng ra lại
càng mạnh hơn và những dòng nước chạy đập vào thuyền làm cho nó càng tiến chậm
hơn.
Nhưng chẳng ai nhìn đồng hồ. Nate đã được lịch sự yêu cầu
rời khỏi nhiệm vụ thuyền trưởng sau khi chiếc Santa Loura bị nghẽn vào một thân
cây ngầm nằm trên đường đi mà anh ta không thấy kịp. Không thiệt hại gì, nhưng
cú xóc khiến Jevy và Welly đập đầu vào buồng lái. Anh quay về phòng nhỏ riêng
cho mình với chiếc võng giăng ngang ở giữa và tại đó, suốt buổi sáng, anh hết
đọc lại ngắm cảnh đời sống hoang dã.
Jevy đến để cùng uống cà phê với anh. “Giờ ông nghĩ sao về
vùng Pantanal?” cậu ta hỏi. Họ ngồi gần bên nhau trên một chiếc ghế dài, tì tay
lên thanh ngang vịn và thõng chân trần đong đưa bên mạn thuyền.
“Một cảnh mênh mông hùng vĩ đấy.”
“Ông biết bang Colorado?”
“Vâng, tôi đã từng ở đó.”
“Trong mùa mưa, các con sông ở Pantanal dâng tràn. Vùng bị
ngập sẽ có diện tích bằng bang Colorado.”
“Còn cậu đã từng đến Colorado chưa?”
“Vâng, em có người anh em họ ở đó.”
“Ngoài ra cậu còn đến những nơi nào khác ở Mỹ?”
“Ba năm trước đây, ông anh họ và em cùng lái một chiếc xe
buýt lớn - chiếc Greyhound - đi qua khắp nước Mỹ. Chúng em đã qua gần hết mọi
bang, trừ có sáu bang.”
Jevy là một thanh niên nghèo của xứ Brazil, mới hai mươi bốn
tuổi. Nate gấp đôi tuổi cậu ta, và thường có đầy tiền. Thế mà Jevy đã tham quan
nước Mỹ còn nhiều hơn Nate.
Tuy nhiên, những lúc có tiền nhiều Nate luôn luôn đi du lịch
châu Âu. Những nhà hàng anh thích nhất là ở Rome và Paris.
“Khi hết các cơn lũ,” Jevy nói tiếp “chúng ta lại vào mùa
khô. Bãi cỏ, đầm lầy, hồ nước, vùng đất sình đếm không hết. Cái chu kì thời
tiết hết mùa lũ lại đến mùa khô đó đã sản sinh và nuôi dưỡng một đời sống hoang
dã phong phú hơn bất cứ nơi nào trên địa cầu. Nơi đây có sáu trăm năm mươi
chủng loại chim, hơn cả ở Canada và Mỹ gộp lại. Và ít ra là khoảng hai trăm sáu
mươi chủng loại cá. Trăn, rắn, cá sấu, và cả loại rái cá khổng lồ sống trong
nước.”
Vừa lúc ấy cậu ta chỉ tay vào một bụi cây ở bìa rừng. “Nhìn
kìa, một con nai”, cậu ta nói. “Ở đây, nai vô số. Và vô số báo, heo vôi, vẹt
đuôi dài, khỉ, vượn v.v… Pantanal tràn đầy động vật hoang dã.”
“Cậu sinh ra ở đây?”
“Tôi ra đời tại một bệnh viện ở Corumbá những sống với những
con sông này từ thuở ấu thơ. Đây là nhà tôi.”
“Cậu đã nói với tôi rằng bố cậu là một hoa tiêu đường sông?”
“Vâng, khi em hãy còn là một đứa bé, em đã bắt đầu đi tàu
với ông. Sáng sớm, khi mọi người còn ngủ ông cho phép em lái tàu. Em đã biết
tất cả con sông chính ở vùng này khi em mới lên mười”.
“Và bố cậu đã chết trên sông.”
“Không phải sông này, mà trên sông Taquyri, ở phía đông. Lúc
đó ông đang lái một chiếc thuyền chở du khách Đức thì bị một cơn bão lớn quật
đắm thuyền. Chỉ còn mỗi một thủy thủ sống sót.”
“Chuyện ấy xảy ra bao lâu rồi?”
“Năm năm trước đây.”
Luôn luôn là một luật sư của các vụ kiện tụng, Nate có cả
hàng tá câu hỏi nữa về sự cố. Anh muốn nắm rõ các chi tiết - những chi tiết
giúp người ta thắng kiện. Nhưng anh nói “Tôi xin lỗi” và để câu chuyện diễn
tiến tự nhiên.
“Họ muốn phá hủy vùng Pantanal,” Jevy nói.
“Họ là ai?”
“Nhiều loại người lắm. Những công ty lớn sở hữu những trang
trại lớn. Họ đang khai quang nhiều vùng đất rộng, về hướng bắc và hướng đông
của Pantanal, để lập các trang trại. Thu hoạch chính là đậu nành. Họ muốn xuất
khẩu mặt hàng nông sản này. Họ càng khai quang rừng thì càng phá vỡ thế cân
bằng sinh thái của vùng Pantanal. Các lớp trầm tích mỗi năm càng dày lên trên
các đáy sông. Thổ nhưỡng của các trang trại không được phì nhiêu lắm, thế là
các công ty dùng rất nhiều thuốc xịt và phân bón để tăng sản lượng các vụ mùa.
Thế là chúng tôi phải hứng chịu các hóa chất. Nhiều trang trại lớn xẻ các dòng
sông để tạo nên những bãi chăn thả gia súc mới. Điều này làm đảo lộn chu kì lũ.
Còn thủy ngân đang giết dần các loài cá của chúng tôi.”
“Làm thế nào mà thủy ngân lại đến nơi đây?”
“Khai thác khoáng sản. Về hướng bắc, họ đang khai thác vàng
bằng cách dùng thủy ngân. Thủy ngân thải ra chảy xuống sông, các con sông cuối
cùng đều chảy về vùng Pantanal. Cá bị nhiễm độc thủy ngân và chết. Mọi thứ phế
thải đổ dồn về Pantanal. Corumbá là một thành phố có cả triệu dân ở phía đông,
nhưng không có hệ thống xử lí chất thải. Ông cũng đoán được là hệ thống thoát
nước bẩn và chất thải của nó đưa về đâu.”
“Chính quyền không làm gì để cải thiện sao?”
Jevy cười cay đắng. “Ông có nghe nói về dự án Hidrovia?”
“Không.”
“Đó là một con kênh lớn, cắt ngang vùng Pantanal. Theo dự
tính, nó sẽ nối liền Brazil, Bolivia, Paraguay, Argentina và Uruguay. Nó được
coi là sẽ cứu cho Nam Mỹ. Nhưng nó sẽ rút hết nước vùng Pantanal. Và chính
quyền của chúng tôi đang hỗ trợ dự án đó.”
Nate sắp sửa muốn nói điều gì đó về trách nhiệm đối với môi
trường, rồi sực nhớ rằng đồng bào của mình chính là những kẻ tham lam năng
lượng nhất thế giới. “Dầu sao, Pantanal vẫn còn đẹp”, anh nói lảng ra.
“Vâng”, Jevy uống cạn li cà phê. “Đôi khi tôi nghĩ vì nó quá
rộng lớn nên họ chưa hủy hoại nổi.”
Họ đi qua một tiểu đảo hẹp nơi đó có nhiều nước đổ vào sông
Paraguay. Một đàn mấy con nai lội ngang dòng nước lũ, thong thả nhá mấy dây leo
xanh, không để ý gì đến tiếng động từ dòng sông. Bảy con nai, hai con điểm lốm
đốm màu nâu vàng nhạt.
“Vài giờ nữa chúng ta sẽ gặp một điểm buôn bán nhỏ”, Jevy
nói. “Có lẽ chúng ta sẽ đến đó trước khi trời tối.”
“Chúng ta sẽ mua sắm những gì?”
“Chắc là không có gì, tôi đoán vậy. Chủ tiệm là Fernando,
ông ta nghe mọi tin tức trên sông. Có thể ông ta biết đôi điều gì đó về các
đoàn truyền giáo.”
Jevy hắt cặn cà phê trong cốc xuống sông và duỗi hai tay ra.
“Đôi khi ông ta có bán bia Carveja.”
Nate vẫn nhìn vào dòng nước.
“Tôi nghĩ chúng ta không nên mua gì”, Jevy nói và đi xa.
Vậy cũng tốt cho mình, Nate nghĩ. Anh uống cạn li cà phê của
mình, nhấm nháp cả những hạt đường ở đáy cốc.
Một chai bia màu nâu ướp lạnh, có lẽ là Antartica hay
Brahma, hai hiệu bia mà anh đã chấm là tiêu biểu cho bia Brazil. Ngon tuyệt.
Một nơi xưa kia anh thường lui tới là một quán dành cho sinh viên gần
Georgetown với 120 triệu bia ngoại trên bảng đồ uống. Anh đã thử đủ mọi loại.
Uống bia với đậu phộng rang và bạn cứ việc xả vỏ đậu xuống sàn. Khi đám bạn bè
trường Luật của anh gặp lại nhau ở thành phố đó, họ luôn luôn họp mặt ở chính
quán đó đề bù khú với nhau chuyện thời sinh viên. Bia mát lạnh thơm ngon, đậu
phộng nóng giòn, bùi, thêm chút vị mặn của muối, sàn nhà lốp bốp có tiếng vỏ
đậu khi bạn dẫm chân lên, còn các cô gái thì trẻ trung, tươi tắn và sẵn sàng
cho bạn nếu bạn vừa mắt, hợp gu nàng. Nơi chốn ấy giờ này vẫn vậy và mỗi lần
vào trung tâm cai nghiện, Nate lại nhớ đến cái lữ quán sinh viên đó nhất.
Anh bắt đầu đổ mồ hôi, dầu lúc đó mặt trời đã lặn và một làn
gió mát thổi hây hây. Anh vùi mình trong chiếc võng và kêu cầu giấc ngủ, một
giấc ngủ hôn mê, nặng nề, giấc ngủ thật sâu để anh vượt qua được buổi hoàng hôn
với những hoài niệm càng gợi ra bao tiếc nuối u buồn để đi vào đêm tối. Mồ hôi
càng tuôn làm ướt đẫm cả áo. Anh bắt đầu đọc một quyển sách về sự lụi tàn của
những thổ dân da đỏ ở Brazil và cố gắng chìm dần vào giấc ngủ.
Anh bị đánh thức dậy khi máy tàu được hãm xuống và chiếc
thuyền cặp sát vào bờ. Có tiếng nói lao xao rồi một va chạm nhẹ khi họ bỏ neo ở
điểm mua bán. Nate chậm chạp rời khỏi võng và quay lại ngồi vào băng ghế.
Đó là một hàng quán ở chốn hẻo lánh, được dựng trên cây cột
đóng xuống nước, vách gỗ không sơn, mái tôn, và một khung cửa hẹp nơi đó mấy
người dân địa phương đang ngồi hút thuốc, uống trà. Một con sông nhỏ hơn vòng
phía sau nhà rồi khuất dần nơi xa xa. Một bồn chứa nhiên liệu lớn choáng ngang
một mé nhà.
Một cầu tàu mỏng mảnh xuống sông để neo thuyền. Jevy và
Welly cẩn thận đi dọc theo cầu tàu vì nước bên dưới đang chảy xiết. Họ chào hỏi
và tán gẫu năm ba câu với mấy pantaneiros rồi đi qua cửa.
Nate đã tỏ ý muốn ở lại trên tàu. Anh đi đến đầu boong phía
kia, ngồi trên băng ghế đối diện, thòng tay và chân qua thanh chắn và nhìn toàn
bộ độ rộng lớn của dòng sông trôi qua. Anh muốn ngồi trên boong, trên ghế, tay
chân khóa vào thanh chắn. Dầu có chai bia mát lạnh hấp dẫn đến đâu cũng không
thể lôi kéo anh ra khỏi nơi đây.
Một chuyến du lịch Brazil, nhất là trên các con sông, thật
là đặc biệt đáng nhớ. Jevy mua ba mươi gallon dầu diesel để thay thế cho lượng
dầu bị mất trong cơn bão. Máy tàu lại khởi động.
“Fernando nói có một nhà truyền giáo nữ đang sống với người
da đỏ.” Jevy đưa cho anh một chai nước lạnh. Họ lại lên đường tiếp tục hành
trình.
“Ở đâu vậy?”
“Ông ta không chắc lắm. Về phía bắc, có vài khu định cư, gần
biên giới Bolivia. Nhưng người da đỏ không di chuyển trên sông, nên ông ấy cũng
không biết gì nhiều về họ.”
“Sáng mai chúng ta sẽ đến gần nơi đó. Nhưng chúng ta không
thể đi bằng tàu này được mà phải dùng xuồng nhỏ.”
“Coi bộ vui đấy”
“Ông còn nhớ Marco, người chủ trang trại có con bò bị máy
bay chúng ta cán chết?”
“Chắc chắn là nhớ. Ông ta có ba thằng nhóc.”
“Đúng rồi. Hôm qua ông ấy đến đây”, Jevy nói vừa chỉ vào
quán hàng đang khuất dần sau khúc sông cong. “Ông ấy đến đây mỗi tháng một lần.”
“Mấy thằng nhóc có đi theo ông ta không?”
“Không - cho con nít đi theo là nguy hiểm lắm.”
Đúng là một thế giới khép kín. Nate hi vọng mấy chú nhóc
tiêu được số tiền mà anh đã cho chúng vào dịp Giáng sinh. Anh còn nhìn vào cái
quán cho đến khi khỏi tầm nhìn.
Có lẽ khi quay về anh sẽ thấy khỏe và vui hơn để ghé quán đó
và vài chai bia lạnh. Chỉ vài chai thôi để ăn mừng cuộc viễn chinh thành công.
Anh lui về với sự an toàn của chiếc võng và tự rủa mình về sự yếu đuối vừa rồi.
Trong chốn hoang vu của vùng đầm lầy mênh mông, anh đã tiếp cận với rượu và
trong nhiều giờ liền tư tưởng của anh không còn nghĩ đến gì khác. Dự tưởng, sợ
hãi, đổ mồ hôi và rồi kế hoạch để uống một chầu. Rồi đến gần, thoát ra, và bây
giờ dư vị của hoang tưởng tái tạo khúc tình ca với rượu. Uống chút chút cũng
tốt thôi bởi nó sẽ giúp anh ngưng lại quá trình ám ảnh. Đấy vẫn thường là lời
nói dối hào nhoáng của anh.
Anh đúng là một tên nghiện rượu và nghiện ma túy khó mà chữa
dứt. Bao nhiêu lần cai nghiện với phí tổn cả ngàn đô mỗi ngày vậy mà kết quả
vẫn cứ rất là tạm bợ, cơn tái nghiện vẫn cứ treo lơ lửng và sẽ chụp bắt anh lại
bất cứ lúc nào.
Những cơn nghiện tóm bắt lấy anh và sự tuyệt vọng vây quanh
Nate. Anh trả tiền cho chiếc thuyền này, Jevy làm việc cho anh. Nếu anh bảo họ
quay lại cái quán đó, họ sẽ làm theo. Anh có thể mua tất cả số bia Fernando có,
đem chất phía dưới boong, ướp đá, và nhâm nhi bia Brahma suốt trên đường đến
Bolivia. Và chẳng có ai làm gì anh về chuyện này cả.
Như một ảo ảnh, Welly xuất hiện với một nụ cười và một li cà
phê đá. “Mời ông”, cậu ta nói. “Tôi sắp dọn bữa ăn tối cho ông đây.”
Thức ăn sẽ giúp ích nhiều, Nate nghĩ. Dầu chỉ là một khẩu
phần cơm đậu đen với gà luộc. Thức ăn sẽ thỏa mãn vị giác của anh, hoặc ít nhất
cũng xua sự chú ý của anh khỏi những thèm thuồng khác.
Anh ăn chậm rãi, ở boong trên, một mình trong bóng đêm, vừa
luôn tay xua muỗi khỏi mặt mình. Khi ăn xong, anh xịt thuốc chống muỗi từ cổ
đến chân. Cú chộp bắt của cơn ghiền đã trượt qua, chỉ còn những dư chấn nhẹ còn
vờn lấy anh. Anh không còn có thể thưởng thức bia hay ngửi mùi lạc rang từ quán
sinh viên mình yêu thích nữa.
Anh lui về thánh đường của mình. Trời mưa trở lại, một cơn
mưa lặng lẽ, không gió, không sấm. Josh đã gởi theo bốn quyển sách để anh đọc
cho vui. Tất cả các bản tóm tắt và ghi chú đề đã được đọc đi đọc lại rồi. Không
còn gì ngoài mấy quyển sách. Anh đã đọc được một nửa quyển sách dày nhất.
Anh cuộn mình trong chiếc võng và đọc tiếp quyển sử đau
thương của người bản địa ở Brazil.
Khi nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Pedro Alvares Cabral lần
đầu tiên đặt chân lên đất Brazil, trên bờ biển Bahia, vào tháng Tư năm 1500, cả
xứ Brazil có khoảng năm triệu người da đỏ, rải rác trong khoản chín trăm bộ
lạc. Họ nói 1175 ngôn ngữ khác nhau, và trừ những vụ đụng độ nhỏ vẫn thường xảy
ra giữa các bộ lạc, nói chung họ là những con người hiếu hòa.
Sau năm thế kỉ được “Khai hóa” bởi người Âu, số người bản
địa đã giảm sút trầm trọng. Chỉ còn khoảng 270.000 người sống sót, trong 206 bộ
lạc, sử dụng 170 ngôn ngữ. Chiến tranh, tàn sát, nô lệ hóa, chiếm đoạt đất đai,
dịch bệnh - không có phương pháp diệt chủng nào mà những con người tự xưng là
văn minh bỏ qua.
Thật là những trang sử đau thương, thảm khốc. Nếu người da đỏ
hiếu hòa và cố gắng hợp tác với bọn thực dân, thì họ sẽ nhiễm những chứng bệnh
kì lạ: bệnh đậu mùa, ban đỏ, sốt vàng, lao… mà họ không có cách nào để phòng
vệ. Nếu họ không hợp tác, họ bị tàn sát bởi bọn người sử dụng những vũ khí tinh
vi và hữu hiệu hơn cung tên và lao tẩm thuộc độc của họ nhiều. Khi họ chống trả
và giết những kẻ tấn công họ, họ bị gán cho cái tên gọi là bọn man rợ.
Họ bị biến thành nô lệ bởi những công ty khai khoáng, đám
chủ trang trại, chủ đồn điền cao su. Họ bị xua đuổi khỏi nơi ở của tổ tiên họ
truyền lại từ bao đời bởi bất cứ nhóm nào có đủ súng đạn. Họ bị thiêu sống trên
giàn hỏa bởi đám thầy tu, bị săn đuổi bởi quân đội và những băng cướp, bị hãm
hiếp tùy ý bởi bất kì một tên đàn ông động dục nào và bị tàn sát vô tội vạ. Vào
bất kì thời điểm nào trong lịch sử, dầu nghiêm trọng hay vô nghĩa, khi quyền
lợi của người bản xứ Brazil xung đột với quyền lợi của dân da trắng thì người
da đỏ cũng đều bị thua thiệt.
Họ thua thiệt trong suốt năm trăm năm và họ chẳng còn trông
mong gì nhiều ở đời sống. Vấn đề lớn nhất gây nhức nhối trong các bộ lạc da đỏ
hiện nay là nạn tự tử trong lớp trẻ của họ.
Sau hàng bao thế kỉ thi hành chính sách diệt chủng, chính
quyền Brazil cuối cùng quyết định đã đến lúc cần bảo vệ “những người hoang dã
tốt lành” của mình. Những cuộc tàn sát diệt chủng ngày nay bị quốc tế lên án,
thế là có những cơ quan đặc trách “phát triển sắc tộc” được lập ra, những luật
lệ “bảo vệ quyền lợi người bản địa” được thông qua. Với sự khoa trương
tự-cho-là-chính-đáng, một số đất đai của các bộ lạc được long trọng tuyên bố
trả về cho người bản địa và những đường ranh được vẽ ra trên các bản đồ của
chính phủ, công bố những khu an toàn dành cho người da đỏ.
Nhưng chính phủ cũng chính là kẻ thù. Năm 1967, một cuộc
điều tra đối với Cục Đặc Trách Bản Địa Sự Vụ đã gây nhức nhối lương tâm cho
phần lớn người dân Brazil. Bản tường trình tiết lộ rằng những nhân viên của
chính Cục này, những chủ đầu tư đất đai và trang trại - những kẻ ác ôn hoặc làm
việc cho Cục hoặc đủ thế lực và tiền bạc khiến Cục làm việc cho họ - đã sử dụng
có hệ thống những vũ khí hóa học và vũ khí vi trùng để càn quét người da đỏ. Họ
phát quần áo có chứa mầm bệnh đậu mùa và bệnh lao cho người da đỏ. Dùng máy
bay, nhất là loại trực thăng, họ rải lên các làng mạc, đất đai của người da đỏ
những loại vi khuẩn gây bệnh chết người.
Còn trong vùng lòng chảo Amazon và các vùng biên giới khác,
đám trại chủ và đám khai thác mỏ chẳng coi các đường ranh biên giới có nghĩa lí
gì.
Năm 1986, một trại chủ ở Rondônia dùng các loại nông cơ để
rải những chất hóa học độc hại lên những vùng đất của người da đỏ ở gần trang
trại của y. Y muốn lấy đất để mở rộng trang trại, nhưng trước hết phải loại trừ
cư dân trên đó. Ba mươi người da đỏ chết, thế mà tên trại chủ chẳng hề bị truy
tố. Năm 1989, một trại chủ ở Mato Grosso treo giải thưởng cho những kẻ săn tiền
thưởng nếu đem về những lỗ tai của người da đỏ bị giết. Năm 1993, những người
đào vàng ở Manaus tấn công một bộ lạc hiền lành chỉ bởi vì họ không chịu bỏ đất
đai của mình để đi nơi khác. mười ba người da đỏ bị giết, nhưng chẳng có ai bị
bắt hay truy tố.
Trong những năm 1990 chính quyền đã tìm cách mở cửa vùng
lòng chảo Amazon, một vùng đất rất giàu tài nguyên thiên nhiên, về phía bắc
vùng Pantanal. Nhưng người da đỏ vẫn còn trên vùng đất đó. Đa số những kẻ sống
sót hiện ngụ ở vùng lòng chảo, trong thực tế, người ta ước lượng rằng có khoảng
năm mươi bộ lạc sống trong rừng rậm đã đủ may mắn để thoát khỏi sự tiếp xúc với
văn minh.
Giờ đây “văn minh” lại tiếp tục tấn công. Sự lạm dụng người
da đỏ càng lớn khi đám khai thác mỏ, khai thác gỗ và đám trại chủ len lỏi sâu
hơn vào vùng Amazon, với sự tiếp tay của chính quyền.
Những trang sử mê hoặc và cũng làm bủn rủn tinh thần. Nate
đọc một mạch trong bốn giờ liền không nghỉ cho đến trang cuối cùng.
Sau đó anh đến buồng lái và uống cà phê với Jevy. Mưa đã dứt
hạt.
“Sáng mai chúng ta đến được đó chưa?” anh hỏi.
“Tôi nghĩ vậy”, Jevy đáp.
Các luồng ánh sáng từ trên tàu lắc lư nhẹ với dòng nước.
Giống như chúng đang di chuyển một cách khó khăn.
“Cậu có mang chút dòng máu da đỏ không?” Nate hỏi, sau một
hồi do dự. Đó là một chuyện riêng tư, một vấn đề mà ở Mỹ không ai dám hỏi người
khác.
Jevy cười, mắt không rời khỏi dòng sông. “Tất cả chúng tôi
đều có mang dòng máu da đỏ trong người. Sao ông hỏi vậy?”
“Tôi vừa đọc xong cuốn sử về người da đỏ ở Brazil”
“Vậy ông nghĩ gì?”
“Những trang sử bi thảm”
“Đúng vậy. Ông có nghĩ là ở đây người da đỏ bị đối xử tồi
tệ?”
“Tất nhiên là vậy”
“Thế ở xứ ông thì sao?”
Nate nghĩ ngay đến thỏa ước mà Đại tướng Custer đã kí với
các thủ lĩnh da đỏ. Ít ra người da đỏ cũng có được một số quyền lợi. Người Mỹ
không đốt người da đỏ trên giàn hỏa thiêu, không xịt các hóa chất vào họ, không
biến họ thành nô lệ. Phải vậy không? Chúng tôi cũng dành cho họ nhiều vùng đất
rộng lớn, ở nhiều nơi.
Thế nhưng anh không muốn tạo ra cuộc tranh luận chẳng hay ho
gì. Anh nói xuôi: “Tôi e rằng cũng chẳng tốt lành hơn mấy tí.”
Sau một khoảng lặng khá lâu, Nate xuống phòng toilet. Xong
việc, anh kéo sợi dây bên trên và đi ra. Nước sông màu nâu nhạt chảy vào bồn
cầu tiêu, lùa các chất phế thải vào một cái ống rồi đẩy thẳng xuống sông.

