Loạn Thế Anh Hùng (Tập 2) - Chương 04 - Phần 03

Cảnh Thương Hoài cũng chẳng ngờ, bản thân sẽ ở ngoài Đại Thạch Pha cùng thiếu niên này trọn ba ngày. Tuy hắn du hiệp giang hồ, dãi gió dầm sương nhưng cũng rất ít khi trú ngoài đồng không mông quạnh. Trông Lạc Hàn nọ thì có vẻ đã ở ngoài nơi hoang dã quen rồi. Ba ngày nay, Lạc Hàn chẳng mấy nói năng, trừ những lúc chải lông cho lạc đà thì chỉ ngủ. Thật ra, hắn cũng không ngủ nhiều, phần lớn thời gian là chui vào Đại Thạch Pha, một mình tĩnh tọa, xem Loạn thạch trận kia.

Cảnh Thương Hoài cũng hiếu kỳ hành vi của Lạc Hàn, liền theo hắn vào xem. Chỉ thấy Lạc Hàn ngồi trên tảng đá Triệu Vô Cực từng ngồi hôm trước, chống cắm nghĩ ngợi, đã ngồi là ngồi cả một ngày. Hắn cũng thật giỏi nhịn đói, một ngày không ăn gì là chuyện thường, Cảnh Thương Hoài cũng thấy không theo nổi.

Lần đầu Cảnh Thương Hoài thấy Đại Thạch Pha là lúc đêm tối, giờ ban ngày nhìn vào thật không giống. Mấy ngày này đều là ngày nắng đẹp hiếm có. Ngày đông ấm áp, trời sương lành lạnh, Đại Thạch Pha càng lộ khí thế hùng tráng. Một cái cây cọng cỏ, một đụn cát khối đá trong đó càng mang thâm ý mênh mông, quảng đại. Lạc Hàn ngồi trên tảng đá lớn kia cũng hiện ra sự nhỏ bé của con người. Trời đất sinh ra con người, nhưng thời gian con người có thể trở về thiên địa nơi mình sinh ra, quan sát thiên địa một cách gần gũi thì lại theo tuổi tác lớn thêm mà càng lúc càng ít. Mấy năm nay, Cảnh Thương Hoài bôn tẩu phong trần, cũng hiếm có được cái thú một mình đối diện với tự nhiên này. Cảnh Thương Hoài nhìn thiếu niên nọ, không biết vì sao bỗng thấy cảm động. Lạc Hàn này không quyền, không danh tiếng, trong lòng cũng không đoái tới quyền danh, ở riết nơi tái ngoại, cam nguyện tịch mịch, trông thần sắc của hắn, chính là có thể mỗi khi ở vào nơi tịch mịch không người thì quay về buổi nguyên sơ của thiên địa, dốc hết trí tuệ của mình mà tham ngộ tạo hóa. Chính là dựa vào thanh kiếm kia, cánh tay kia, đối diện với trời đất tựa lò luyện lớn, với tạo tác thần diệu của tạo hóa mà cầu cái tồn tại của bản ngã, niên kỷ lại ít là thế, thật là hiếm có.

Quả thật, trời đất sinh con người nhưng sinh con người làm gì? Người sống làm gì? Người vì đâu chết? Được sao cũng khổ? Mất sao cũng khổ? Đây đều là những nghi đề nhân sinh nảy sinh trong lòng Cảnh Thương Hoài khi còn trẻ. Có điều, xã hội quá lớn lao, cái học bản thân Cảnh Thương Hoài thành thạo, võ học cũng quá mênh mông, bao la như biển, đã nhập vào trong đó là tức khắc chìm đắm. Bao nhiêu nghi vấn lớn có tính cơ bản đều lui về trở thành vài nghi đề nhỏ bên cạnh mình. Trường nhân sinh này khiến con người không thể nghĩ xa, chỉ đành lo gần.

Lo gần là khổ, còn nghĩ xa... mênh mênh mang mang, không bờ không bến. Vũ trụ là gì? Con người là gì? Thời gian là gì? Sự tồn tại của con người là gì? Tất thảy những thứ này tựa quái thú thuở hồng hoang, khiến người ta kinh hãi. Nhất thời, Cảnh Thương Hoài chẳng bi chẳng khổ mà nghĩ tới mình cùng thế giới này. Thế giới này rất tốt, hắn hẳn không nên ai oán gì, bất kể thế nào, con người đều phải sinh tồn trong cái xã hội này, chính nó cho ta ý nghĩa của sự sinh tồn. Người liêm khiết thì giữ gìn thanh danh, kẻ tham lam thì mong kiếm tiền bạc; dân đen thấp bé thì luyến tiếc cái nhà nhỏ ấm áp, kẻ hùng tài đại lược thì muốn ôm lấy uy quyền trong thiên hạ; gã nhà giàu thì khoe khoang với hàng xóm, ả nhan sắc thì dụ kẻ quyền hành, đều là cái tâm muốn nhân cơ hội một thời; xuống ba thước lạch sông mò chút tôm tép, lên trăm thước lầu cao dâm đãng đàn bà, thế cũng có thể xem là chí nguyện bình sinh; nhập thế kiếm lợi, tránh đời để xứng danh hiền; giẫm đạp muôn dân mà được tôn vinh, ai vinh ai nhục? Mê đắm thú vui mọn như chơi côn trùng thành ra sở thích quái dị, thế là được hay mất? Đến như ông lão ôm hũ, Mễ Điên[52] lạy đá... Thế giới này sẽ luôn cho ta một ý nghĩa để sinh tồn, chỉ cần ta... thừa nhận nó trước.

[52] Mễ Điên tức Mễ Phất (1051-1107): nhà thư họa nổi tiếng thời Tống, bởi tính tình ngông cuồng nên người đời gọi là Mễ Điên. Mễ Phất mê say đá, chuyện rằng một hôm Mễ Phất gặp một tảng đá hình dạng kỳ lạ, bèn mũ áo cân đai ngay ngắn mà bái lạy, gọi nó là anh.

Nhưng Lạc Hàn thì tựa hồ muốn phủ định nó, hắn một mình lánh ngoài tái ngoại hoang vu. Ở triều Tống luôn thích xưng giáo hóa, nhưng hắn tự mình cư ngụ ngoài giáo hóa. “Hóa” là gì? Rất nhiều người chưa từng nghĩ qua. Tới đây, Cảnh Thương Hoài mới hiểu ra được vì sao sự sắc bén nơi kiếm, sức mạnh nơi đòn đánh, nhanh nhẹn trong bước nhảy, quái dị trong cái cong mình của Lạc Hàn đều thành ra cái người ta khó đón đỡ, chưa từng thấy qua. Thật ra là bởi hắn đã bước ra ngoài con đường võ học rất xa. Võ học mênh mang như cát vàng sa mạc, chứa đựng vô số; các nhà các phái đều tự có dòng riêng, ngày tháng lâu dần, sinh lắm nhánh rẽ về yếu nghĩa. Năm xưa, trong phái Hoa Sơn có cuộc tranh chấp của hai phe Kiếm, Khí; Thiếu Lâm cũng không dứt cái loạn truyền thừa. Mỗi nhà mỗi phái mưu cầu là một mạch truyền đạo, nhưng cái “đạo” đó truyền xuống - tiền nhân lập cơ sở, hậu nhân điểm trang, căn phòng cái buồng, cái khung cái giá, đều xuất phát từ bao nhiêu cánh tay. Khó bảo là mênh mông hoành tráng thì thật sự cũng là kết cấu phức tạp; không bảo đẹp đẽ, huy hoàng thì cũng có chút khéo léo, hay ho riêng. Cái gọi là xuất thủ đánh nhau chính là đem cái bao tải của nhà này, phái này ra chụp ta, ta có bị trầm mê, sa vào đó không thì còn phải xem công lực ta cao hay là thủ đoạn của hắn hiểm. Nhưng Lạc Hàn lại một kiếm vượt ra, quẳng đi vạn loại pháp môn, lội ngược về thuở đầu của võ học. Một mình tìm tòi đầu nguồn, đương nhiên phải tự mình lội nước, tuy cái nghi nan khó hiểu, mênh mang mờ mịt gặp phải trong đó càng vượt xa người khác nhưng đích thực hắn đã có được thứ truyền thừa khác.

Thật ra, trong con mắt của vô số người trên giang hồ, thứ võ học mà hắn gửi lòng, trong cái mênh mông bể sở tìm về nguồn cội, quả thật là vô môn vô phái. Đó là một sợi chỉ mơ hồ từ thuở thiên địa mông muội, mới có ý thức. Còn nay, ngàn vạn môn phái, nhưng thông được tới đó, tiếp nối nguồn đó, mãi cũng chỉ có được chút đó mà thôi, còn như ngộ được điều ấy, vạn người chẳng được một, hai. Cảnh Thương Hoài võ học có thành tựu, thực ra là nhờ năm ba mươi tuổi có nghe được lời nói của một văn sĩ. Văn sĩ đó nói: “Việc học mà muốn cầu có được thành tựu, thì phải tìm được cái trước khi có lời nói.” Lời này thật sâu sắc. Cảnh Thương Hoài nhờ đó mà ngộ, võ học nếu muốn có thành tựu thì phải quay về trước khi có chiêu thức. Thật ra phải đứng ở nơi đầu nguồn đó thì mới là một mảnh mênh mông chưa từng khai phá. Ở chỗ ấy, văn võ tuy khác lối nhưng lại về cùng mối, Khổng, Mạnh trông thấy nó, nói: “Nơi đây mênh mông, trôi chảy là thế này chăng, dòng Lưu Sa, dòng Nhược Thủy[53], kẻ không có định lực tất chìm lún trong vô hạn, mà cái trí của thường dân không nên tùy tiện ngẫm tới”, thương xót chúng sinh, cho nên nói: “Kính trọng quỷ thần mà cách xa chúng”, để lại Ngũ Kinh, lục nghệ[54]dạy cho thiên hạ, vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, dựng căn cơ muôn đời không lay đổ, tuy có chỗ sứt hỏng nhưng cuối cùng đã thành đức lớn. Trăm nghìn năm nay, Đổng Trọng Thư, Hàn Dũ, ai nấy đại nho một đời, thêm phòng dựng gác, xây thành nhân luân, cũng là muốn tạo thành một tòa nhà để tư tưởng u mê của muôn dân được ở yên trong đó. Hành vi tuân lẽ thường, cử chỉ có chừng mực, không đến nỗi phải đối mặt với cuồng phong bão tuyết khó bề dự liệu trong cái hoang mạc của ý thức.

[53] Lưu Sa, Nhược Thủy là tên những con sông khó vượt qua trong truyền thuyết cổ.

[54] Tức: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số.

Bởi vì, cái mênh mang kia thật sự đủ để hủy hoại ý nghĩa sinh tồn của con người. Ngoài ra, Lão Tử có đạo của Lão Tử, Trang Chu có đạo của Trang Chu, chúng ta là đám hậu sinh tiểu bối, có lòng muốn quay về, chẳng ai không náu dưới đôi cánh của họ thì mới ngẫu nhiên có được ý nghĩa trong kiếp phù du. Giống như Cảnh Thương Hoài lấy việc cứu muôn dân, làm lợi cho đời làm nhiệm vụ, vin vào ý niệm “nước nhà” mà tự động viên mình, để đối chọi với cái vô thường của nhân sinh, cái khác biệt của lẽ vật, ngẫm nghĩ kĩ càng, chẳng qua cũng là như thế. Cho nên hắn vì Lạc Hàn nọ mà cảm thấy xúc động, người dám một mình đối diện với mênh mang bất kể thế nào đều khiến người ta kính trọng. Nếu không bởi thiếu niên này, hắn sẽ không nghĩ lại những thứ ấy.

Nghĩ rồi, Cảnh Thương Hoài bước vào trong trận. Khối đá thế này, phát động theo ý nghĩ của con người thành ra uy lực chừng ấy, trong lòng hắn cũng tự thấy kinh sợ. Nay kẻ khống trận đã đi, khối đá cũng chỉ là khối đá mà thôi. Hắn đi tới bên khối đá nằm chính giữa, quả nhiên trên mặt có chữ bậc võ thánh một thời Quy Hữu Tông khắc lên. Cảnh Thương Hoài ngẩng đầu nhìn, đường ngay nét thẳng, trong lòng không khỏi dâng lên cảm giác ngưỡng trông núi cao. Chỉ thấy tảng đá lớn nọ có khí tượng độc đáo, trên mặt đá, chữ nào chữ nấy to cỡ nắm tay, khắc một thiên văn chương, dẫn dùng Phục điểu phú của Giả Nghị, bên dưới có chú rõ xuất xứ... Nếu không chú, Cảnh Thương Hoài cũng chẳng biết lai lịch thế nào, đoạn văn được trích dẫn là:

... Trời đất là lò hề, tạo hóa là thợ, âm dương là than hề, vạn vật là đồng. Hợp tán sinh diệt hề, sao theo lẽ thường; thiên biến vạn hóa hề, chưa từng có cùng cực. Ngẫu chợt thành người hề, sao phải giữ rịt; hóa thành thứ khác hề, sao đáng ưu lo!...

Lời tựa có tình, âu sầu sâu đậm, Cảnh Thương Hoài nhất thời ngây người. Quay đầu lại, Lạc Hàn vẫn đang ở trên tảng đá lớn kia, tĩnh tọa im lặng. Hắn ngộ được gì? Cảnh Thương Hoài cũng không rõ.

Tới đêm thứ ba, Cảnh Thương Hoài từ trong cơn mộng giật mình tỉnh dậy, ra là Lạc Hàn cất tiếng hú lớn. Tiếng hú của hắn cũng không giống người thường, trong cao lanh lảnh, xuất từ Đan Điền, về từ Hư Cốc, dường như có hình có chất, khiến cho sao Đẩu, sao Ngưu chói lọi. Cảnh Thương Hoài biết hắn ắt có sở đắc, ngẩng đầu nhìn, chỉ thấy tinh tú đầy trời. Đêm càng tối, sao lại càng sáng, tiếng hú kia thành ra khí của con người trong trời đất này. Tiếng hú trọn một tuần trà mới ngưng, thôn dân gần đó nghe thấy, sợ tựa trong mộng nghe thấy tụng thiền; nếu có cao thủ ngang qua nghe thấy, càng không biết sẽ kinh sợ tới mức nào.

Ngày hôm sau, Lạc Hàn thu dọn tư trang một lát, kiếm một bộ y phục trong túi da trên lưng lạc đà ra thay giặt, tắm rửa rồi mới lại dắt lạc đà lên đường. Hắn tựa hồ biết Cảnh Thương Hoài sẽ đồng hành, không rõ có phải xuất phát từ lễ độ không mà không cưỡi, chỉ dắt lạc đà đi bộ. Cảnh Thương Hoài cùng lên đường, trước sau cách Lạc Hàn mười mấy bước, hai người cứ thế đi không nói chuyện, một trước một sau. Đi cả một ngày, buổi trưa thì nghỉ tại quán hàng dưới gốc cây du, tối thì dừng chân ở Thạch Kiều.

Trấn Thạch Kiều rất nhỏ. Lúc này hai người họ đã ra khỏi An Huy, tiến vào địa giới Tô Nam. Dọc đường tới đây đã thấy được sự thay đổi khẩu âm. Thiếu niên dắt lạc đà đi trong phường chợ, tuy quái dị nhưng hắn cùng bách tính bản địa lại khá hợp nhau. Tuy ngôn ngữ không thông nhưng khoa khoa vạch vạch cũng giúp hắn tìm được chỗ tá túc. Ở con đường lát đá xanh trong trấn nhỏ này có một cái Quân An điếm.

Dọc đường, không ít trẻ con đuổi theo con lạc đà của Lạc Hàn, mãi không tha. Con lạc đà có vẻ bực bội, Lạc Hàn lại rất thân thiện với lũ trẻ. Có đứa nhóc to gan thi thoảng vươn tay sờ lạc đà một cái, sau đó cười vang, có vẻ sợ mà chạy tản ra. Kế đến, thấy lạc đà và Lạc Hàn đều không có phản ứng, chúng liền tụ lại. Con lạc đà đôi lúc nhìn qua Lạc Hàn, dường như không muốn nhẫn nại, nhưng sắc mặt Lạc Hàn vẫn như thường, không có phản ứng. Cảnh Thương Hoài thấy trong mắt con vật có vẻ muốn thở than, lẳng lặng nhẫn nhịn đám trẻ con, thuận theo ý của chủ nhân, mặc bọn nhóc cù gãi.

Tìm được khách điếm Quân An, Lạc Hàn moi ra bạc vụn, mướn một gian phòng. Cảnh Thương Hoài thấy hắn cướp bao nhiêu bạc, vậy mà chi tiêu lại không xông xênh, càng bất ngờ là, bấy giờ Lạc Hàn chợt quay đầu cười với hắn, nói câu đầu tiên kể từ ba ngày qua: “Ta không có nhiều bạc, không mời nổi huynh, huynh cùng ta ở cùng một phòng đi!”

Cảnh Thương Hoài sửng sốt, có cảm giác “được ưu ái mà sinh lòng kinh sợ”. Trước nay hắn chẳng ngại sự yêu ghét, cái cảm giác này, nghĩ mà thấy buồn cười. Căn phòng chỉ có một cái giường, Lạc Hàn bảo hầu phòng lấy cánh cửa ghép thành cái khác. Hắn không cần chăn nệm, Giang Nam đã vào tháng Mười một mà chỉ ngủ trơ trọi trên ván gỗ, cũng thật đơn giản. Bốn vách tường của gian phòng đều có dấu vết ẩm ướt, loang loang lổ lổ, kỳ hình dị dạng. Cảnh Thương Hoài thật chẳng ngờ có một ngày mình sẽ ở chung phòng với thiếu niên cô độc này.

Hai người ăn cơm tối, Lạc Hàn rửa mặt, nằm lên cái giường phản cứng xong mới nói câu thứ hai với Cảnh Thương Hoài. Đây là một câu hỏi: “Huynh tìm ta có việc gì?”

Cảnh Thương Hoài trầm ngâm một lúc mới nói: “Là Viên lão đại nhờ ta tìm ngươi, hắn muốn gặp ngươi một phen.”

Thật ra, chính Cảnh Thương Hoài cũng không rõ vì sao mình phải thay người ta chuyển lời này.

Lạc Hàn lãnh đạm nói: “Không phải ta đã bảo người chuyển lời cho hắn, mọi nợ nần sang năm mới tính sao?”

Cảnh Thương Hoài ngạc nhiên. “Cái ấy ta không biết.”

Lạc Hàn nhất thời không nói gì, Cảnh Thương Hoài ngồi ở mép giường. Người trong tiểu trấn nghỉ sớm, bên ngoài đã rất yên tĩnh. Lạc Hàn không nói, Cảnh Thương Hoài dường như cũng không tìm ra lời gì để nói. Nghĩ một hồi, bèn cởi giày, kéo áo, nằm xuống giường. Nằm một lúc, cảm thấy người ngưa ngứa, mới phát hiện có bọ chét. Lạc Hàn không cần chăn vậy mà có lý. Cảnh Thương Hoài giết vài con, liếc mắt nhìn qua phía Lạc Hàn, liền thấy hắn nằm thẳng nhưng thật ra chỉ có xương hậu chẩm và gót chân là chạm mặt giường, toàn thân thẳng băng như bút lơ lửng, cách mặt giường một đường. Cảnh Thương Hoài giật mình, chưa từng thấy ai luyện công như thế, sau đó phì cười. Nhãn lực hắn tốt, vận đủ nhãn lực liền thấy toàn thân Lạc Hàn căng cứng, tới cả mặt cũng thế, thì ra trên cái giường nọ của Lạc Hàn cũng không phải không có bọ chét, trên tay hắn cũng có vài con, có lúc liền thấy lông mày Lạc Hàn giật một cái, rõ ràng là bị bọ chét cắn. Chỗ da lộ ra ngoài của Lạc Hàn đã có vài nốt đỏ, nhưng mấy con bọ chét cắn hắn cũng khổ, bởi đúng lúc bọn chúng cắn thì Lạc Hàn liền căng da, khiến chúng không rút miệng ra được. Hắn cũng thật trẻ con, không chịu lấy tay bóp, người cùng bọ chét cứ thế giằng co. Cảnh Thương Hoài cười thầm, mình từng này tuổi rồi mà chưa từng thấy trong võ lâm có “người - bọ đại chiến” thế này.

Lại nghỉ một lúc, Cảnh Thương Hoài thật không chịu nổi, đành ngồi dậy. Đèn dầu vẫn sáng, Cảnh Thương Hoài thấy Lạc Hàn nhắm mắt như đã ngủ rồi, liền búng ngón tay, dập ngọn đèn dầu. Ngoài cửa sổ, ánh trăng khẽ tràn vào, khiến Cảnh Thương Hoài có cảm giác đêm nay là đêm nào, trong lòng nhớ tới Tiểu Lục Nhi, còn cả... Sính Nương. “Sương thơm tóc mây ướt, trăng rạng tay ngọc hàn[55]” chính là nói về tâm cảnh vào thời khắc thế này chăng? Bọn họ giờ thế nào rồi? Có nhớ tới hắn không?

[55] Trích bài Nguyệt dạ của Đỗ Phủ. Nguyên văn: Hương vụ vân mấn thấp, thanh huy ngọc tý hàn.

Đêm buốt trong như nước, chút lạnh lùng đó tựa nhớ mong nơi đáy lòng Cảnh Thương Hoài, giống vị trà, tuy nhạt nhưng là một phần quyến luyến với cuộc sống, không thể thiếu được.

Hồi lâu, Lạc Hàn chợt hỏi: “Rốt cuộc Viên lão đại là hạng người gì?”

Thì ra hắn chưa ngủ, Cảnh Thương Hoài muốn đáp lời, bèn suy nghĩ thật lâu. Hắn không tùy tiện đáp, đã có đáp án thì cần phải tường tận, bởi vì nó liên quan tới xung đột có khả năng xảy ra giữa Lạc Hàn và Viên lão đại, đây là một vấn đề can hệ tới sống chết.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.