Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên (Tập 8) - Chương 17 - 18
17. LUYỆN LŨ NGỰA NON
Tháng mười đã tới và những đàn ngỗng trời đang bay về
hướng nam khi bố chất đồ đạc lên xe để cả nhà rời vào thị trấn. Nhiều người
khác cũng đang lo di chuyển khỏi vùng quê và ghế ngồi trong lớp học chật cứng.
Hầu hết đám con trai lớn không còn đến trường. Vài
người đã về ở hẳn trong đất trại. Ben Woodsworth làm việc trong nhà ga, Frank
Harthorn bận rộn với cửa hàng vàCapGarlandang quần với lũ ngựa của
mình, chở cỏ khô, than đốt hoặc bất cứ thứ gì được mướn chở trong thị trấn hoặc
vùng quê.
Tuy nhiên trường học vẫn thiếu chỗ vì vùng quê đầy
người mới tới và con cái họ đã tới trường. Các học sinh nhỏ chen chúc ba người
một ghế và chắc chắn một ngôi trường lớn hơn cần được dựng trước mùa đông tới.
Một hôm, khi Laura và Carrie từ trường về, các cô thấy
đang có khách ngồi với mẹ ở phòng trước. Người đàn ông hoàn toàn lạ nhưng Laura
cảm thấy người phụ nữ trẻ đang điềm tĩnh nhìn cô có vẻ như người từng quen biết.
Mẹ mỉm cười im lặng trong một lát, lúc Laura và người phụ nữ kia nhìn nhau.
Rồi người phụ nữ mỉm cười và Laura nhận ra. Đó là cô
chị em họAlice!Alicetừng cùng Ella và Peter tới ngôi nhà gỗ tại
Big Woods vào những dịp Giáng sinh. Thuở đóAlicevà Mary là những cô
gái lớn nên Ella là bạn chơi của Laura. Lúc này, trong khi đón mừngAlicebằng
một chiếc hôn, Laura hỏi:
- Ella cũng ổn chứ?
Aliceđáp:
- Không, cô ấy và chồng không tới. Nhưng đây là một
người bà con mà em chưa gặp, chồng tôi, Arthur Whiting.
Arthur cao với cặp mắt và mái tóc màu sậm. Anh ta rất
thoải mái và Laura cảm thấy thích anh ta, nhưng dù anh ta vàAliceở
lại trọn một tuần mà anh ta vẫn luôn có vẻ như một người lạ. Alicegiống
Mary nhiều đến nỗi cô như thuộc hẳn về gia đình và Laura cùng Carrie thường vội
vã rời trường về nhà chỉ vì cóAliceđang ngồi trong phòng trước đầy
nắng với mẹ.
Các buổi tối, cả nhà rang bắp làm kẹo bơ, nghe bố
đàn và nói chuyện không ngừng về những ngày cũ và những dự tính tương lai.
Chồng của Ella là Lee, em trai của Arthur và họ cùng
hợp tác lập trại chỉ cách đó bốn mươi dặm. Peter cũng sẽ đến vào mùa xuân.
Một buổi tốiAlicenói:
- Đã qua lâu từ khi chúng mình quây quần ở Big Woods
và bây giờ mình lại quây quần ở đây trên đồng cỏ.
Mẹ mong ước:
- Nếu bố hay mẹ của cháu tới đây.
Alicenói:
- Cháu nghĩ bố mẹ cháu ở hẳn miền đôngMinnesota.
Ông bà chỉ đi xa cỡ đó và có vẻ hài lòng ở đó.
Bố lên tiếng:
- Thật kì lạ. Mọi người luôn di chuyển về hướng
tây. Chỗ này không khác rìa của một đợt sóng khi dòng sông dâng lên. Họ đến và
đi, tới lui hoài nhưng luôn luôn vượt trội lên vẫn là số người di chuyển về miền
Tây.
Alicevà Arthur chỉ ở lại một tuần. Sáng sớm thứbảy,
choàng khăn áo kĩ càng với những bàn ủi nóng dưới bàn chân, những củ khoai tây
lùi trong túi, họ bắt đầu chuyến đi dài bốn mươi dặm trên xe ngựa trở về nhà.
- Chuyển giúp tôi tình thân tới Ella.
Laura nói khi cô hôn tạm biệtAlice.
Thời tiết thật tuyệt để ngồi trên xe, quang đãng và
lạnh hơn không độ, tuyết dầy, không có dấu hiệu của một đám mây bão tuyết nào.
Nhưng mùa đông này không còn hội vui chạy xe nữa. Có lẽ đám con trai đã quần những
con ngựa của họ quá mệt trọn tuần. Thỉnh thoảng Laura thấy Almanzo và từ một
khoảng cách xa đang tập cho một cặp ngựa con kéo xe và có vẻ bận bịu suốt buổi.
Chiềuchủnhật, Laura thấy họ chạy qua nhiều
lần. Khi thì Almanzo, khi thì làGarland tựa chắc trong chiếc xuồng trượt
dồn hết sức nắm chặt cương trong lúc những con ngựa non hung hăng phóng vùn vụt.
Một lần, bố ngẩng lên khỏi tờ báo và nói:
- Trong đám này sẽ có đứa gãy cổ. Không một người
đàn ông nào trong thị trấn dám điều khiển cặp ngựa đó.
Laura đang viết thư cho Mary. Cô ngưng lại và nghĩ
may mắn biết ngần nào trong mùa đông ác liệt, Almanzo và đã gặp những cơ hội
không ai có được khi họ đi kiếm lúa mì về cứu đói cho mọi người.
Cô viết xong lá thư và gấp lại khi có tiếng gõ cửa.
Laura tới mở cửa vàGarlandđang đứng đó. Với nụ cười chớp nhoáng làm
rạng rỡ khắp gương mặt, anh ta hỏi:
- Cô có thích ngồi trên xe sau những con ngựa non
không?
Tim Laura nặng trịch. Cô mến nhưng cô không muốn anh
ta mời cô cùng đi xe và lập tức cô nghĩ tới Mary Power, nghĩ tới Almanzo và không
biết nói gì.
Nhưng anh ta nói ngay:
- Wilder nhờ tôi hỏi cô vì mấy con ngựa không chịu dừng
lại. Cậu ta sẽ chạy ngang đây bây giờ và sẽ kéo cô lên nếu cô thích đi.
Laura kêu lên:
- Dạ, tôi thích! Tôi đi chuẩn bị. Anh vào nhà chứ?
Garlandđáp:
- Không, cảm ơn, tôi sẽ nói với cậu ta.
Laura hối hả nhưng những con ngựa vừa đạp chân vừa
nhảy dựng lên nôn nóng khi cô bước tới. Almanzo đang kìm chúng bằng cả hai tay
và nói với cô khi cô tự leo lên xe:
- Xin lỗi, tôi không thể giúp cô được.
Ngay khi cô vừa ngồi xuống, những con ngựa đã phóng
như tên xuống phố.
Không một ai ở ngoài phố chạy xe nên đường phố thênh
thang khi những con ngựa cố lồng lộn vùng ra khỏi sự kìm chặt của Almanzo trên
những sợi dây. Xa hút trên con đường phía nam thị trấn, chúng phóng như đang
đua.
Laura ngồi im ngắm những vó ngựa bay trên mặt đất và
những chiếc tai của chúng bạt ra sau.
Việc này thật thú vị. Nó khiến cô nhớ lại lúc cô
cùng cô em họLenacưỡi trên lưng những con ngựa da đỏ phóng qua đồng
cỏ. Gió thổi vù vù lạnh ngắt trên mặt cô và những mẩu tuyết bay như mưa loạn
lên lớp áo choàng. Rồi những con ngựa vươn cao đầu, vểnh tai tới trước và chịu
cho Almanzo lái chúng đảo quanh với những bước chân hăng hái quay ngược lại thị
trấn.
Anh tò mò nhìn cô rồi hỏi:
- Cô có biết không người đàn ông nào trong thị trấn
trừGarlandcó thể ngồi trên chiếc xe ở phía sau những con ngựa này
không?
Laura đáp:
- Bố đã nói thế.
Almanzo thắc mắc:
- Vậy tại sao cô đến?
- Sao, tôi biết là ông lái chúng mà.
Laura nói với vẻ ngạc nhiên và tới phiên cô hỏi lại:
- Nhưng tại sao ông không lái Prince và Lady?
Almanzo giải thích:
- Tôi muốn bán những con ngựa non này và phải tập
cho chúng thuần trước đã.
Laura không nói thêm khi những con ngựa lại cố chạy.
Chúng đang hướng về nhà và muốn tới thật nhanh. Việc này khiến Almanzo phải tập
trung chú ý gồng hết sức giữ cho chúng chạy theo nước kiệu đại. Phố Main vụt
qua như một ánh chớp và trên đồng cỏ phía bắc, Almanzo làm cho những con ngựa lắng
xuống để đảo vòng trở lại. Lúc này Laura cười lớn:
- Nếu đây là để tập luyện cho chúng thì tôi sẵn sàng
giúp!
Họ nói ít hơn cho tới khi một giờ đã trôi qua và mặt
trời mùa đông đang lặn xuống. Rồi khi Almanzo kìm ngựa cho Laura nhanh chóng lướt
xuống khỏi xe ngay trước cửa nhà, anh nói:
- Tôi sẽ tới đón cô vàochủnhật.
Những con ngựa chồm lên và phóng đi trước khi Laura
kịp trả lời.
Mẹ nói khi Laura bước vào nhà:
- Mẹ phát hoảng thấy con ngồi phía sau những con ngựa
đó.
Bố nhìn lên khỏi tờ báo, thêm:
- Giống như cái anh chàng Wilder đang cố giết con chết.
Nhưng bố phải nói là con rất thích thú qua cái cách mắt con đang sáng lên.
Sau đó, Almanzo đến đều vào các chiềuchủ nhật
để đón Laura đi dạo bằng xe ngựa. Nhưng anh vàGarlandluôn lái những
con ngựa non trước quá nửa buổi chiều để khiến chúng bớt hung hăng và mọi lời lẽ
của cô đều không thể thuyết phục Almanzo chịu để cho cô bước lên xe trước khi
những con ngựa non hơi mệt.
Năm đó có một cây Giáng sinh tại nhà thờ. Laura và
Carrie nhớ lại cây giáng sinh thuở nào ởMinnesota, nhưng Grace chưa bao
giờ được thấy cây giáng sinh. Laura nghĩ phần thích thú nhất trong lần Giáng sinh
này là được thấy gương mặt rạng rỡ của Grace khi cô bé ngắm cây giáng sinh với
những ngọn nến tỏa sáng lung linh, những túi kẹo và quà tặng đủ màu lấp lánh bằng
lưới treo trên những cành cây.
Nhưng trong lúc cô chờ đợi một con búp bê Giáng Sinh
tặng cho Grace được mang tới cho cô bé từ cây giáng sinh, Laura lại nhận được một
gói quà nhiều màu đến nỗi cô tin là đã có sự nhầm lẫn. Đó là một chiếc hộp da
nhỏ màu đen lót lụa màu xanh lơ. Trên màu xanh dễ thương, nổi lên trắng tinh, một
bàn chải tóc bằng ngà và một chiếc lược. Laura nhìn lại mảnh giấy bao và thấy
tên cô được viết rõ ràng trên đó bằng nét chữ mà cô không biết là của ai.
Cô hỏi:
- Người nào có thể tặng quà cho con thế này, mẹ?
Lúc đó Bố cũng nghiêng người qua ngắm và mắt Bố
lóe sáng. Bố nói:
- Bố không thể nói chắc ai là người gửi quà cho
con, Laura. Nhưng bố có thể nói cho con biết một điều. Bố đã nhìn thấy
Almanzo Wilder mua đúng chiếc hộp này tại hàng tạp hóa Bradleyos.
Và bố mỉm cười về sự kinh ngạc của Laura.
18. TRƯỜNG PERRY
Những đợt gió tháng ba đầu tiên đang thổi mạnh khi
Laura từ trường về nhà vào ngày thứ năm sau đó. Cô muốn hụt hơi không chỉ do chống
chọi với gió mà còn do những tin tức cô mang về. Trước khi cô kịp nói ra điều đó,
bố đã lên tiếng:
- Em có thể sẵn sàng chuyển về trại trong tuần này
không, Caroline?
Mẹ ngạc nhiên:
- Tuần này?
Bố nói:
- Khối học đường quận sắp mở một trường học trên đất
trại của Perry, sát ngay ranh giới phía nam trại của mình. Tất cả những người ở
xung quanh đều phải giúp vào việc dựng trường nhưng họ muốn thuê anh làm người
điều động công việc. Mình phải dọn về trước khi anh bắt đầu công việc, và nếu
mình dọn trước tuần này thì có dư thời giờ để dựng xong ngôi trường trước đầu
tháng tư.
Mẹ trả lời:
- Mình có thể dọn bất kì ngày nào anh bảo dọn,
Charles.
Bố nói:
- Vậy thì ngày mốt. Và còn một điều khác nữa. Perry
nói ban giám hiệu trường của họ muốn có Laura dạy ở đó. Con nghĩ sao về chuyện
đó, Laura? Con sẽ phải có một chứng chỉ mới.
Laura nói:
- Ô, con thích có một trường học ở gần nhà như thế.
Lúc đó, cô kể lại những tin tức của mình:
- Các cuộc thi giáo viên tổ chức vào ngày mai. Hôm
nay thầy Owen đã thông báo. Cuộc thi diễn ra ngay tại trường nên ngày mai không
có lớp học. Con hi vọng con có thể giành được chứng chỉ cấp hai.
Carrie khuyến khích:
- Em tin là chị giành được. Chị luôn luôn thuộc bài.
Laura hơi ngờ vực một chút:
- Chị không có thời giờ ôn lại và học kĩ. Nếu chị
vượt qua kì thi, chị phải học kĩ lại những gì mà hiện nay chị thuộc.
Mẹ nói với cô:
- Đó là cách hay nhất, Laura. Nếu con cố học vội vã,
con chỉ rối trí thôi. Giả dụ con giành được cấp hai, cả nhà sẽ rất mừng và khi
chỉ là cấp ba, cả nhà cũng sẽ mừng về điều đó.
- Con sẽ cố hết sức mình.
Laura chỉ có thể hứa như thế. Sáng hôm sau cô ra khỏi
nhà một mình và căng thẳng tới trường dự kì thi giáo viên. Căn phòng có vẻ lạ
hẳn với một ít người ngồi thưa thớt và còn nhiều ghế trống.
Trên bàn giáo viên là ông Williams thay vì thầy
Owen.
Danh sách những câu hỏi đã được viết sẵn trên bảng.
Suốt buổi sáng là sự im lặng hoàn toàn ngoại trừ tiếng ngòi viết chạy trên giấy
và tiếng giấy khẽ sột soạt.ÔngWilliams đi gom bài vào cuối mỗi giờ,
dù bài viết xong hay chưa xong và ngồi chấm điểm ngay tại bàn giáo viên.
Laura viết xong bài rất đúng giờ và vào buổi chiều,
với nụ cười, ông Williams trao cho cô tấm chứng chỉ. Nụ cười của ông như nói
cho cô biết trước khi cô nhìn nhanh những từ viết trên tấm chứng chỉ: Cấp hai.
Cô đi bộ về nhà nhưng thực ra là cô nhảy múa, lao chạy,
cười vang và la hét trong niềm vui sướng. Một cách lặng lẽ, cô trao tấm bằng
cho mẹ và cô thấy nụ cười của mẹ làm rạng sáng khắp gương mặt. Carrie hả hê:
- Em đã nói thế với chị mà! Em đã nói với chị là chị
sẽ giành được.
Mẹ khen ngợi cô:
- Mẹ đã tin là con sẽ vượt qua, nếu con không bối rối
vì lần đầu dự một cuộc thi giữa những người lạ.
Bố mỉm cười:
- Bây giờ bố có thể thông báo nốt phần còn lại của
những tin tức tốt. Bố nghĩ bố giữ lại như một phần thưởng sau kì thi. Perry
nói là ban giám hiệu sẽ trả con mỗi tháng hai mươi lăm đô la trong ba tháng tư,
năm, sáu.
Laura gần như không lên tiếng nổi. Cô kêu lên:
- Chao ôi!
Rồi:
- Con không ngờ… Sao? Sao bố… thế là gần tròn một
đô la trong ngày.
Cặp mắt xanh của Grace tròn xoe. Trong sự kinh ngạc
trang trọng, cô bé nói:
- Laura sẽ giàu to.
Tất cả phá ra cười vì sự tham gia của Grace, không
hiểu tại sao. Khi cả nhà đã trấn tĩnh trở lại, bố nói:
- Bây giờ mình lo di chuyển về trại và xây dựng ngôi
trường đó.
Thế là suốt những tuần lễ cuối cùng của tháng ba,
Laura và Carrie lại cùng đi bộ tới trường từ căn nhà tại trại. Thời tiết giống
như mùa xuân mặc dù còn những cơn gió tháng ba và mỗi tối khi trở về nhà các cô
lại thấy thêm nhiều công việc được làm xong của ngôi trường nhỏ đang mọc lên
trên đồng cỏ ở một khoảng ngắn về phía nam.
Trong những ngày cuối tháng ba, mấy người con trai
nhà Perry sơn trắng ngôi trường. Không bao giờ có một ngôi trường nhỏ xinh xắn
hơn thế.
Trường đứng trên màu tuyết trắng phủ kín vùng đất cỏ
xanh và một hàng cửa sổ chói chang ánh nắng buổi sáng khi Laura thả bộ băng qua
đám cỏ xanh ngắn tới bên.
Cậu béClydePerry bảy tuổi đang chơi gần
bậc cửa ra vào ở nơi sẽ dành cho lớp vỡ lòng của cậu. Cậu đặt chiếc chìa khóa mới
vào bàn tay Laura và trịnh trọng nói:
- Bố em gửi cái này cho chị.
Bên trong ngôi trường cũng sáng trưng và đầy nắng.
Các bức vách bằng ván mới sạch bóc đượm mùi gỗ tươi. Nắng xối vào từ những ô cửa
sổ phía đông. Phía bên kia, kín một đầu gian phòng là tấm bảng đen mới, sạch sẽ.
Trước tấm bảng là chiếc bàn giáo viên làm bằng gỗ, đánh vec-ni bóng loáng, ánh
lên màu mật trong ánh nắng và trên mặt bàn phẳng phiu là cuốn từ điển Websteros
Unabridge lớn.
Đứng đối mặt là ba hàng ghế gỗ mới cũng với màu mật
mượt mà rất xứng hợp với chiếc bàn.
Đầu của hai hàng ghế phía ngoài áp vào vách và giữa
hàng ghế thứ ba với hai hàng ghế này là hai lối đi. Mỗi hàng đặt bốn chiếc ghế.
Laura đứng một hồi giữa khung cửa, ngắm gian phòng mới,
sáng sủa, sang trọng. Rồi cô đi tới bàn của mình, đặt xô đựng bữa ăn trưa xuống
nền nhà phía dưới bàn và treo mũ lên chiếc đinh móc trên vách.
Bên cạnh cuốn từ điển lớn, một chiếc đồng hồ nhỏ
đang tích tắc, kim đồng hồ chỉ chín giờ.
Laura nghĩ chắc nó được lên giây tối qua. Không thứ
gì có thể đầy đủ và hoàn hảo hơn ngôi trường nhỏ xinh đẹp này.
Cô đã nghe thấy tiếng học sinh cở cửa và bước ra gọi
tất cả vào lớp.
NgoàiClydecòn có hai học sinh khác, một
cậu bé và một cô bé đều nói tên Johnson. Cả hai đều học lớp hai. Đó là tầm mức
của trường. Suốt học kì không có thêm một học sinh nào tới.
Laura cảm thấy cô không đáng lĩnh hai mươi lăm đô la
một tháng chỉ để dạy vỏn vẹn ba đứa bé. Nhưng khi cô nói điều này ở nhà, bố
nói rằng ba đứa bé này đủ lập một trường học như cho mười hai học sinh và cô đã
được bổ nhiệm để dành hết thời gian vào việc dạy dỗ chúng. Cô cố cãi lại:
- Nhưng, bố. Hai mươi lăm đô la một tháng!
Bố đáp:
- Đừng lo về điều đó. Họ rất mừng khi được trả cho
con cái giá như thế. Các trường lớn đang trả ba mươi đô la một tháng.
Đó là hợp lí khi bố nói thế. Laura bằng lòng với
mình trong việc dạy dỗ từng đứa nhỏ một cách tốt nhất. Tất cả đều học rất
nhanh. Ngoài tập đọc và đánh vần, cô dạy chúng viết các từ, các con số cùng
cách cộng, trừ ra sao. Cô tự hào về sự tiến bộ của chúng.
Không bao giờ cô thấy sung sướng như mùa xuân đó.
Vào những buổi sáng dịu mát, cô thả bộ tới trường qua trũng đất nhỏ ngập màu
xanh lơ của những bông hoa đổng thảo đang tỏa hương trong gió. Các học sinh của
cô cũng sung sướng, mỗi người đều quý như vàng và nồng nhiệt, học hành tiến bộ
rất mau. Tất cả đều thận trọng như chính cô để không làm hư hao hoặc hoen ố nét
tươi đẹp của ngôi trường mới sáng trưng.
Laura đem theo sách của mình tới trường và trong lúc
đám học trò nhỏ ngồi học ở chỗ của chúng giữa những bài tập đọc, cô học bài của
mình với sự hỗ trợ của cuốn từ điển lớn. Vào giờ giải lao và nghỉ trưa, cô đan
móc trong lúc lũ trẻ chơi đùa. Và luôn luôn cô nhận thấy những bóng mây đuổi
theo nhau phía ngoài cửa sổ, nơi bầy chiền chiện đang hót líu lo và những con
sóc đất kẻ sọc phóng chạy thật nhanh theo công việc của chúng.
Sau mỗi ngày sung sướng lại là cuộc tản bộ trở về
băng qua trũng đất nhỏ đang có những khóm đổng thảo vươn lên tỏa hương thơm vào
trong không khí.
Đôi khi Laura đi bộ về hướng tây qua đồng cỏ tới nhà
giáo sĩ Brown trên đất trại của ông ấy.
Đó là một cuộc hành trình dài một dặm rưỡi và cô
cùng Ida luôn kéo dài bằng cách đi tới điểm cao nhất trên gờ đất phía bên kia
ngôi nhà. Từ đây, các cô có thể nhìn thấy đồi Wessington Hills ở cách sáu mươi
dặm giống như một vệt mây xanh kéo ngang chân trời.
Có lần Laura nói:
- Chúng đẹp đến nỗi mình muốn đi ngay đến với chúng.
Ida đáp:
- Chà, mình không hiểu. Khi bạn đã ở đó, chúng có gì
khác những ngọn đồi phủ kín loại cỏ cho bò ăn này.
Và cô đá chân vào một khóm cỏ ở chỗ những đọt cỏ
xanh mùa xuân đang làm lộ ra những lá cỏ úa hồi năm trước.
Theo một cách nào thì đó là đúng, nhưng theo một
cách khác cũng lại là không đúng. Laura không thể nói lên điều cô nghĩ tới,
nhưng với cô đồi Wessington Hills là những ngọn đồi đầy cỏ hơn.
Đường nét mờ nhạt của chúng vẽ lên cho cô vẻ quyến rũ
của các vùng đất xa xôi. Chúng như đang là một phần của giấc mơ.
Trở về nhà muộn vào buổi chiều, Laura vẫn nghĩ đồiWissington
Hills vô cùng bí ẩn qua hình bóng mơ hồ Ingalls trên nền trời xanh xa tắp phía
bên kia những dặm dài tiếp nối của đồng cỏ xanh đang gợn sóng. Cô muốn tiếp tục
đi, đi mãi qua những dặm dài đó và nhìn thấy thứ gì nắm ở phía bên kia những
dãy đồi.
Laura hiểu đó là cách cảm nghĩ của Bôb về miền Tây.
Cô cũng hiểu giống như bố là cô phải bằng lòng ở lại nơi cô đang có mặt để
giúp làm việc trong nhà và dạy học.
Tối đó bố hỏi cô dự tính làm gì với số lương dạy học
khi cô được lĩnh. Laura nói:
- Sao vậy, con sẽ đưa hết cho bố mẹ.
Bố nói:
- Bố sẽ nói với con về điều mà bố đang nghĩ. Mình
nên có một cây đàn dương cầm để khi Mary trở về nó có thể tiếp tục chương trình
nhạc đang học ở trường và điều đó cũng thích thú với tất cả các con. Một số người
ở thị trấn đang bán đồ đạc để quay về miền Đông và trong số đó có một cây dương
cầm. Bố có thể mua với giá một trăm đô la. Đó là một cây dương cầm rất tốt vì bố
đã thử và thấy rõ.
Nếu con chịu dùng số tiền lương dạy học để mua, bố
có thể góp thêm hai mươi lăm đô la. Ngoài ra, bố có thể dựng thêm một phòng
cho căn nhà này để mình có chỗ đặt đàn.
Laura nói:
- Con rất mừng được giúp vào việc mua cây đàn dương
cầm. Nhưng bố biết con không có bảy mươi lăm đô la trước khi chấm dứt học kì.
Mẹ xen vào:
- Laura, con nên nghĩ về việc may sắm cho con một ít
quần áo. Đồ mặc để tới trường của con được rồi, nhưng con cần một chiếc áo
khoác mùa hè mới thật tốt, chiếc áo vải năm kia của con thực sự không còn nới
thêm nổi nữa.
Laura nói:
- Con biết mà, mẹ, nhưng hãy nghĩ tới việc có chiếc
đàn dương cầm. Và con thấy con có thể lại làm việc với côBellđể kiếm
tiền mua quần áo. Khó khăn là con chưa được lĩnh tiền lương dạy học.
Bố nói:
- Chắc chắn con được lĩnh lương. Con có thực sự muốn
dùng lương để mua đàn dương cầm không?
Laura nói với bố:
- Chắc rồi, Bôb! Không còn gì cho con thích hơn có một
cây đàn dương cầm để Mary có thể đàn khi chị ấy về nhà.
Bố nói một cách sung sướng:
- Vậy là xong! Bố sẽ trả trước hai mươi lăm đô la
và họ sẽ cho bố thanh toán dứt khi con lĩnh lương. Điên lên mất! Bố cảm thấy
giống như đang có hội. Mang cho bố cây đàn, Bình-Rượu-Nhỏ! Mình sẽ có một chút
âm nhạc mà không có đàn dương cầm.
Trong lúc tất cả ngồi trong ánh sáng dịu mùa xuân, bố
đàn và hát một cách vui vẻ:
Đây là nơi cho cô gái tuổi trăng tròn e
lệ
Đây là nơi cho người phụ nữ tóc sương
Đây là nơi cho vị nữ hoàng lộng lẫy phô
trương
Và đây là nơi cho người vợ hiền cần kiệm
Đây là nơi cho cặp má lúm đồng tiền
thương mến
Cũng những nàng thiếu nữ xinh xinh
Đây là nơi bừng sáng cặp mắt xanh
Và ngự trị vị nữ thần tuyệt sắc!
Tâm trạng của bố đổi dần và tiếng đàn đổi theo, rồi
cả nhà cùng hát:
Xuôi về nam đi tìm người yêu dấu
Hát nghêu ngao ngơ ngẩn trọn ngày dài
Cô gái thân thương coi nhẹ chông gai
Trọn ngày dài hát nghêu ngao ngơ ngẩn.
Thân ái giã từ, giã từ nàng tiên nhỏ
Ta lên đường hướng tới miền Nam
Tìm lại người con gái yêu thương
Trọn ngày dài hát nghêu ngao ngơ ngẩn.
Ánh chiều thêm đậm. Mặt đất chìm dần vào màn tối và
khoảng trời rộng phía trên lơ lửng những ngôi sao treo thấp trong lúc tiếng đàn
dâng lên một khúc hát chơi vơi.
Rồi bố nói:
- Bài này dành cho các con gái
Và, giọng bố dịu ngọt hát theo tiếng đàn:
Ngày vàng thấm thoát trôi
Ngày vàng tràn hạnh phúc
Thời gian vỗ cánh rồi
Hỡi ngày vàng hạnh phúc
Nhìn lại thuở xa xôi
Ngọt ngào bao kỉ niệm
Bay xa thẳm, người ơi.
Những ngày vàng hạnh phúc.
Tim Laura đau quặn khi tiếng nhạc lan xa mất hút vào
đêm xuân dưới ánh sao.

