Bốn Mươi Năm Nói Láo - Phần II - Chương 2
LÀM “VỊT ĐỰC”
Làm báo là một cái nghiệp, nhưng cũng là một cái tật. Lúc
có báo phải nghĩ, phải viết, phải tìm cái mới, lạ để hơn người, thêm vào đó lại
phải giải quyết, phải đối phó, lắm khi người viết báo cảm thấy mình khổ hơn con
chó, và chỉ muốn tung hê hết cả đi để mà nghỉ ngơi cho nó khỏe khoắn cả tâm hồn
và thể xác. Vì thế mỗi khi tờ báo mình làm bị đóng cửa, người ký giả tuy buồn
nhưng thở một cái phào vì hé thấy viễn cảnh của những ngày thanh thản, thư
nhàn, ăn chơi thỏa chí. Nhưng không lâu đâu, chỉ dăm bữa, nửa tháng, thì lại
thấy buồn chân buồn tay, muốn viết và cảm thấy không có tờ báo để làm thì chán
không để đâu cho hết, dù biết trước là thiếu hụt tiền nong cũng kệ.
Chính vì thế, chúng tôi không chịu để cho ngòi bút thất
nghiệp lâu. Sau khi “Tương Lai” đóng cửa, chúng tôi điều đình lấy lại tờ “Tương
Lai” làm một loại mới, không in dọc mà in ngang. Kế đó, cùng với Tô Chân Nho
làm tờ “Việt Nữ”, đặt nặng vấn đề chị em bạn gái về phương diện xã hội hơn là
chánh trị. Tuy nhiên, đó chỉ là những công việc qua thời, làm để tiêu sầu, chớ
thâm tâm chúng tôi vẫn tìm cách chơi một cái trò gì rất trội mà anh em ký giả
chưa hề làm. Cơ hội đến một cách bất thần: Vũ Đình Hải (em bà Đốc Sao) đã giúp
tôi gặp ông Nguyễn Văn Thái mới được phép xuất bản một tuần báo tên là “Vịt
Đực”. Ông Thái không có phương tiện ra báo nên vui lòng để cho chúng tôi khai
thác. Nhứt định thay đào đổi kép chuyến này, để cho Tây bớt trù phần nào hay
phần ấy, chúng tôi đặt Vũ Chung đứng làm giám đốc, Tam Lang Vũ Đình Chí làm chủ
bút, Nguyễn Đức Long làm quản lý, còn ở bên trong thì vẫn là các anh em cũ, trừ
Vũ Trọng Phụng mới qua đời, và Nguyễn Triệu Luật (đi dạy học). Lập trường vẫn
giữ nguyên như các tờ báo trước nhưng nội dung thì khác hẳn: thay vì dùng lời
văn đứng đắn, trang nghiêm để trình bày ý kiến, chúng tôi áp dụng một thể văn
trẻ trung hơn, có tính cách châm biếm, mỉa mai, giễu cợt. Tóm lại, chúng tôi
định làm một tờ báo theo lối “Con Vịt Buộc” của Pháp. Cố nhiên chúng tôi đã
biết trước không thể nào viết được những câu văn xuất quỉ nhập thần của Tréno,
Bénard... nhưng chúng tôi cũng cứ cố thử làm xem sao. Mấy số đầu báo chạy,
nhưng lần lần mất dần độc giả, và đến chừng số mười, mười hai gì đó thì tài
chánh kiệt quệ. Họp nhau lại để rút kinh nghiệm và tìm hiểu nguyên nhân báo
xuống, chúng tôi công nhận mình đã không bắt chước được tờ “Canard
Enchainé” một ly ông cu, trái
lại còn tẻ nhạt là khác, vì từ đầu đến cuối báo viết toàn một giọng văn, mà hầu
hết các bài đăng tải đều có tính cách bình luận các việc đã xảy ra hơn là đem
lại cho độc giả những vấn đề, sự việc hay, mới lạ, chưa ai biết.
Riêng Tam Lang hồi đó nổi tiếng nhiều hơn trước gấp bội, vì
mỗi kì anh lại thả được cái sở trường của anh ra: chơi chữ - đúng với ý thích
của độc giả lúc bấy giờ. Tam Lang Vũ Đình Chí thuộc vào loại làm báo đàn anh,
nên được anh em vì nể, giữ chức chủ bút thật là “trúng mối”, nhưng anh có cái
tật là “vần thùng”, đã để tâm vào việc gì, thì chỉ để tâm được vào một thứ, nên
các công việc khác phần lớn do Phùng Bảo Thạch, Thiết Can và tôi phụ trách. Bây
giờ, Thiết Can đã mất, nhưng nhắc đến “Vịt Đực” buổi sơ đầu, anh em còn sống
bây giờ không thể quên được cái “mẩu người” bé nhỏ đó viết rất lâu, cũng từ báo
Đông Tây gì đó, mà cho đến khi mất, ít người biết tiếng. Tên thực là Nguyễn Văn
Xuân, anh là bạn với tôi từ thời còn đi đất học lớp Dự bị trường Hàng Vôi. Hai
anh em cùng ở một phố, lớn lên cùng vào thư viện tự học, cùng viết báo và mỗi
khi đọc một cuốn sách gì hay thì cùng tán gẫu, cùng học tập. Làm tờ “Vịt Đực”,
tôi mời Thiết Can về hợp tác, và anh đã viết truyện trào phúng đầu tiên của
anh, truyện “Mọc sừng”, trên báo ấy, ra cái mặt thạo đời, ngón ăn chơi gì cũng
thạo, nhưng thực ra thì “quê một cục”, có lẽ trong làng văn làng báo, không có
anh nào quê hơn. Chính vì quê mà lại làm ra vẻ thạo, nên anh em hùa lại phá
anh. Nguyên Thiết Can Nguyễn Văn Xuân là một người gầy ốm và bé nhỏ - nếu không
muốn nói là loắt choắt - anh có mặc cảm gái không mê mình là vì mình không được
lớn con; phải chi làm thế nào mà to lớn lên được thì bao nhiêu con gái Hà Nội
đều chết hết về tay anh. Anh em thấy anh nói to lên mộng ấy đều bụm miệng lại,
chạy ra chỗ khác để cười (vì cười trước mặt thì anh giận), và cũng do đó đã toa
rập nghĩ cách để phá anh. Một người quả quyết biết bí quyết làm cho thân hình
to lớn: ăn củ sắn băm nhỏ trộn với hồ nếp. Một anh bàn sáng nào cũng phải tập
thể thao rồi tắm, rồi lại tập thể thao rồi tắm, mỗi sáng cứ làm như thế liền
trong ba tiếng đồng hồ. Lại một anh khác nhất định với Thiết Can nếu anh chịu
khó thọ khí âm dương, ban ngày nhìn mặt trời hít rồi thở ra một trăm lần, ban
đêm nhìn mặt trăng thở ra rồi hít vào một trăm lần thì bảy bảy bốn mươi chín
ngày phải cao lớn lên trông thấy.
Bây giờ, có lẽ nói ra thì không có mấy ai tin, nhưng còn
nhiều bạn như Tam Lang, Nguyễn Đức Long, Nguyễn Đăng Đệ hãy còn sống sờ sờ ra
đó, tôi nói mà không sợ phải cải chính: Thiết Can đã thi hành tất cả những
phương pháp ấy, mưu biến thành một lực sĩ như Westmuller. Tam Lang, suốt ngày
ngồi cậy móng chân đau, thỉnh thoảng lại nhìn Thiết Can và trố mắt, chụm miệng
lại nói với một vẻ hết sức ngạc nhiên: “Bỏ mẹ chửa, mày tiến bộ trông thấy, chỉ
có hôm trước hôm sau mà tao trông mày khác hẳn đi.” Thiết Can nức lòng hết sức,
càng gia công tập võ, luyện nội công và ăn củ sắn băm trộn với hồ nếp, rồi đứng
sát vào tường đo, gạch một gạch chì xanh lên tường để đánh dấu mỗi ngày anh cao
lên được mấy phân. Anh em đã âm mưu đánh lừa anh, tự động đứng ra vạch giúp và
cố nhiên là vạch sai, nhưng Thiết Can đâu có biết như thế, cứ trông vào vạch
mỗi ngày mỗi tăng lên mà nắc nỏm tưởng mình cao lớn thực.
Sau, lại có một người đề nghị: Bây giờ mày cao rồi, nhưng
chân mày đi chữ bát, trông không “cừ”, mày phải làm cách nào cho hai chân mày
thẳng như... chân Tây thì con gái, đàn bà mới chịu. Tất cả đều tán thành ý kiến
đó. Thế là Thiết Can lại bị ám ảnh vì hai cái chân đi chữ bát, lúc nào cũng hỏi
dò hết người này người nọ, xem làm cách nào cho hai cái chân thẳng như chân Tây
được. Anh em bắt anh phải tổ chức một “chầu” gì mới tiết lộ cho anh biết bí
quyết gia truyền. Thiết Can chịu liền. Và mấy hôm sau, anh vui như Tết, thực
hành bí quyết ấy một cách hết sức siêng năng, tin tưởng: nhào bột bó hai ống
chân, rồi lấy bốn miếng cây dài ép lại, lấy thừng buộc như ta gói giò. Chắc
chắn tất cả bạn đọc đến đây đều không tin, nhưng tôi cam đoan một trăm phần
trăm Thiết Can đã làm đúng như thế, và chừng một tuần sau, anh yên trí rằng
chân anh thẳng như chân Tây thực. Thấy mình đã cao lớn mà hai chân lại thẳng,
tự nhiên anh thấy mình oai phong lầm lẫn, suốt ngày chỉ lo chải đầu, nhổ râu và
tưởng tượng có rất nhiều trang quốc sắc thiên hương say mê anh thực.
Lợi dụng tình trạng tâm lý ấy, một hôm, Tam Lang đi đâu về
không rõ, hớt hơ hớt hải bấm Thiết Can ra ngoài đường nói chuyện bí mật “chỉ
hai người biết với nhau thôi”. Nhưng thực ra thì tất cả anh em đều biết hết:
Tam Lang trịnh trọng tiết lộ cho Thiết Can biết là anh vừa gặp một cô đẹp não
nùng, đẹp ghê lắm, đẹp chết đi được, hỏi thăm: Thiết Can, tác giả truyện “Mọc
Sừng” là ai và ngỏ ý muốn được “biết” Thiết Can. Nguyên Thiết Can đã quê một
cục, thêm Tam Lang lại nói dối như ranh mà vẻ mặt lại làm ra thực thà gia rít, nên anh em không phải đợi
lâu, đã thấy Thiết Can mắc bẫy. Về sau này, có người biết chuyện, cho là chúng
tôi tàn ác, đem linh hồn của một con người ra nhạo báng, nô đùa; nhưng thực
tình lúc ấy đa số anh em tin là đã giúp ích rất nhiều cho anh bạn “thiếu cả bề
ngang lẫn bề cao” đó. Vì nhờ thế mà ít ra trong một thời gian, Thiết Can biết
lẽ vui sống, tin tưởng ở đời và do đó yêu mình, yêu người hơn lên. Giai nhân
tuyệt sắc mà Tam Lang nói đó, anh đặt tên cho là Thùy Dương, Kiều Thị Thùy
Dương. Suốt ngày Thiết Can lẩm bẩm cái tên kiều diễm đó. Vì tôi là bạn từ tấm
bé, lại được gán cho cái chức vị chơi bời, đàng điếm, Thiết Can ngỏ bí mật
thiêng liêng ấy với tôi và hỏi tôi có biết Kiều Thị Thùy Dương là ai không. Tôi
bèn quắc mắt lên bảo Thiết Can:
- Mày định giở trò gì vậy? Ở đây, ai còn không biết Thùy
Dương là vợ sắp cưới của tao. Bộ mày muốn phỗng tay trên tao hả?
Từ đó, một chuyện bi tình tưởng tượng có sắt, máu và nước
mắt diễn ra giữa Thiết Can và tôi. Trong khi đó, Tam Lang và các anh em khác,
cách hai ngày, lại “chế tạo” một bức thư xanh viết giọng văn “Giọt lệ sông
Hương” ký tên Kiều Thị Thùy Dương, gửi bưu điện đến cho nhà văn kiêm ký giả Thiết
Can, tả nỗi lòng u uất của một người yêu thầm nhớ trộm mà “không biết ai kia có
biết cho chăng”. Thiết Can gói những thư ấy vào một tấm giấy màu ép vào trong
áo, ngay ở chính trái tim, kiểu Lucrèce Borgia ở đoạn kết vở kịch của Victor
Hugo. Kể làm sao cho xiết được nỗi lòng bi thảm của chúng tôi khi đó: một bên
là bạn, một bên là vị hôn thê, mà vị hôn thê đó lại mê bạn mình, chẳng lẽ tôi
giết bạn đi? Mà hi sinh vị hôn thê cho bạn, tôi đau đớn chịu làm sao cho nổi?
Hết ngày ấy sang ngày khác, Thiết Can van lơn tôi, dỗ dành tôi. Đến nửa tháng
sau, được thêm lời khuyên nhủ của anh em, tôi đành “hi sinh” vậy. Và từ đó
người đẹp tưởng tượng Kiều Thị Thùy Dương hoàn toàn thuộc về Thiết Can trong
một sự mê say kì ảo, không khác gì chàng thư sinh trong truyện Liêu Trai mê hồ
ly tinh. Và có lẽ nếu trời chứng sống cho Thiết Can, đến bây giờ anh vẫn cứ còn
yêu say sưa, yêu mê mệt Kiều Thị Thùy Dương như “trong buổi ban đầu lưu luyến
ấy”.
Trong suốt thời kì làm “Vịt Đực” đường Cột Cờ, những vở
kịch bi hài như vậy diễn ra thường xuyên, cũng làm cho anh em đỡ buồn và quên
đi chốc lát cuộc đời. Tuy nhiên, mỗi lúc kiểm điểm lại công việc, xem báo lỗ lã
ra sao thì không anh nào vui hết, vì báo đứng, mà đứng thì nguy, vì số chi nặng
hơn là số thu. Giữa lúc đó, có vài anh em đề nghị với tôi nhường “Vịt Đực” lại
cho một người khác vẫn thì thọt lại chơi nhà báo, mà dường như có nhiều chân
tay trong sở Mật thám. Trong mấy buổi họp ở quán Anh Mỹ của Bùi Trọng Hưu, bỉnh
bút tờ “Việt Báo” của Bùi Xuân Học, tôi không phát biểu ý kiến. Đến tận giờ
chót, sau khi đã điều đình được một nhà in mới nhận in tờ “Vịt Đực”, tôi nói
thẳng là tôi không nhường báo lại cho ai cả, anh nào bằng lòng tiếp tục cộng
tác thì ở, ai ngại vất vả, túng thiếu thì tùy nghi.
Báo “Vịt Đực” không nghỉ một số nào. Trụ sở từ đường Cột Cờ
dọn lại phố nhà thương Phủ Doãn trên một cái gác bé nhỏ, oi bức, còn tòa soạn
thì chỉ còn có hai người là Phùng Bảo Thạch và tôi chia nhau ra viết bốn trang
khổ giấy 40x55, không quảng cáo. Nhờ vì chi tiêu ít, mà cũng may là có một vài
sự việc xảy ra, báo lên lần lần. Chúng tôi thêm nhiều mục, thay đổi giọng văn
và cách trình bày “việc có thực viết như là bịa, mà bịa thì viết y như có
thực”. Độc giả ăn giọng dần dần, báo in tăng lên trông thấy.
Làm báo, không có gì khích lệ người ta hơn là thấy báo mỗi
ngày mỗi chạy hơn. Không ai bảo ai, Phùng Bảo Thạch và tôi mát cả gan cả ruột,
và lại càng cố gắng “học tập” tờ “Canard Enchainé” viết cho lâm ly quy phượng hơn nữa, hơn nhiều nữa. Phần lớn ý
kiến là của Thạch; tôi có nhiệm vụ đào sâu và biến hóa các ý kiến đó khi viết
bài. Tôi sẽ không thành thật nếu không nhận rằng cách thức viết “Vịt Đực” lúc
ấy, một phần tôi đã chịu ảnh hưởng của tờ “Duy Tân”, nhưng dù sao báo “Duy Tân”
cũng chỉ là một loại báo “mặn” ăn tục nói phét kiểu Frou Frou, Le Rire... nhiều
khi đọc đểu quá, những người đứng đắn dù có muốn đọc cũng chỉ lén lút, chớ
không dám cầm công khai ở tay đi ngoài đường. Chúng tôi muốn có một trình độ
cao hơn thế ở tờ “Vịt Đực”, nghĩa là muốn làm tờ báo ấy thành một tờ báo chánh
trị, xã hội, có một lối viết hư hư, thực thực, châm chọc nhưng không làm cho
người ta tức giận, oán hờn, đùa cợt mà không làm thương tổn đến thuần phong mỹ
tục.
Riêng tôi lúc ấy, tôi lấy Pierre Bénard, De Lafouchardière,
Clément Vautel... làm gương mẫu, còn các văn nhân trong nước, lúc nào tôi cũng
coi Văn Tôi Hoàng Tích Chu, tác giả mục “Chuyện Đâu”, Lãng Nhân Phùng Tất Đắc,
tác giả mục “Trước Đèn” cùng Phan Khôi ký tên Thông Reo, Ngô Tất Tố bút hiệu
Ngu Công, là những người đàn anh lỗi lạc. Bây giờ, ngồi kiểm điểm lại những cây
bút trào phúng như thế không còn có bao nhiêu, vì thế có lúc mây chiều gió sớm,
ngồi ôn lại những ngày qua, trò chuyện với những con ma quá khứ, tôi vẫn nghĩ
không phải mươi, mười lăm năm mà đã dễ gây được một lớp người văn hóa. Bao
nhiêu nước đã chảy qua cầu, thực tình tôi vẫn chưa thấy có những cây bút thay
thế được các bậc đàn anh ấy, nói riêng về môn trào phúng mà chơi.
Riêng tờ “Vịt Đực”, chúng tôi muốn có nhiều bài, nhiều mục
mà văn thật ngắn, sỏ người ta càng kín đáo càng hay. Nhưng nghĩ một đàng mà làm
được lại là việc khác. Số người bị sỏ mỗi ngày mỗi tăng thêm. Bắt đầu là bà Đốc
Trịnh Thục Oanh, lái xe đến nhà báo định giở trò lăng mạ, nhưng vì biết trước,
cả tòa soạn hóa trang thành Tarzan, nên bà mắc cỡ bỏ đi, rồi đến ông bà Kề Hông,
các vị tai to mặt lớn, các quan lại, các giám đốc nha, sở, các ông các bà đốc
học nịnh Tây... phàm anh nào dính dáng đến Tây, bợ Tây, lấy oai Tây ra ăn hiếp
đồng bào, chúng tôi đều “cân” hết. Cố nhiên, chúng tôi “cân” một cách “hạn
chế”, nhưng người mình lạ lắm, phần lớn họ tự coi như là “bất khả xâm phạm”,
hơi động đến họ cũng làm cho họ không bằng lòng, vận động đóng cửa “Vịt Đực”
bằng cách này hay cách khác, nên có nhiều khi chúng tôi mất bình tĩnh, nhất là
vụ Tôn Thất Bình, chủ bút báo “La Patrie Annamite” do Phạm Lê Bổng làm giám
đốc. Bình ra tranh chức hội viên thành phố. Giới thiệu các danh sách ứng cử,
tôi viết về Tôn Thất Bình chỉ có một câu: “Tôn Thất Bình: con rể Phạm Quỳnh,
đêm nào cũng chửi Phạm Giao(1) rả rích.” Đùa cái anh chàng mặt
vuông, lông mày dấu mác, mặt phệnh phạo sằng, lại bắn tiếng hăm dọa chúng tôi,
nên ba tháng sau, anh ta còn bị chửi. Thạch và tôi có một nguyên tắc “chơi” với
những tên “phệnh phạo”: đã không chửi thì thôi, đã chửi thì đối phương khôn
nhất là im đi, chửi lại hay liếm gót thực dân hoặc quan to, hầu mưu hại chúng
tôi, chúng tôi quyết chửi trường kì, chửi hàng tháng, hàng năm, theo kiểu Ba
Giai, Tú Xuất, kì cho đến khi nào chán và hết vấn đề để chửi mới
thôi. Điển hình là vụ bà Đốc Trịnh Thục Oanh, nổi tiếng một thời là gương
xấu cho học trò con gái lúc bấy giờ. “Vịt Đực” chế nhạo bà. Tự cho là có thế
lực, bà kiện “Vịt Đực”. Chúng tôi ra luôn mấy số báo tổng công kích, và cố
nhiên thua kiện; nhưng tất cả chúng tôi bất cần, chúng tôi cứ pháo kích bà với
những hỏa tiễn “bự thấy mồ” kèm những tranh vẽ bà Oanh, đại khái ngồi trước một
cái chậu rửa mặt, mà mắt mũi đen thui như mực: “Bà đốc Oanh rửa mặt tại tòa”.
Dư luận xôn xao, các bực phụ huynh nhảy lên vì vẫn oán ức bà Đốc này, nhưng
không ai dám ho he phàn nàn, và bà có tiếng là tiếp xúc thân mật với rất nhiều
Tây bự, trêu vào thì chết.
(1) Phạm Giao là
con trai Phạm Quỳnh đã bị giết chết hồi cách mạng mới lên.
Mà chúng tôi cũng tưởng chơi bà chuyện ấy thì chết thật,
nhưng có lẽ vì Tây chỉ lấy lòng bà ngoài mặt mà trong bụng thì khinh, nên dù bà
nhờ nhiều quan can thiệp mà chúng tôi cứ sống nhăn. Sau hết, một hôm có một
người lính khố xanh đến đưa một văn thư mời chúng tôi lên văn phòng báo chí phủ
Thống sứ “có việc cần”. Quản lý Nguyễn Đức Long đi liền, được ông Lê Tài Trường
tiếp đón rất niềm nở: Ông thống sứ Châtel muốn nhà báo chấm dứt loạt bài chửi
bà Oanh đi. Ông Trường còn cho biết là nhà báo “có cần gì thì cứ nói, anh em
với nhau cả mà!”.
Chúng tôi chẳng cần gì cả, chỉ cần pháo kích bà Oanh cho
đến khi nào bà đờ ra, không ngo ngoe nữa - mặc dầu có ông Thống sứ che chở cho
bà. Và chúng tôi đã liều hết chỗ nói: xỏ luôn cả ông Thống sứ, với bà Oanh, mà
lạ một cái là báo vẫn không làm sao cả. Chắc hẳn ở trong có một ẩn tình gì cho
nên Châtel mới không bóp cổ Vịt cho chết luôn, chớ thật ra, Thống sứ lúc ấy còn
ghê hơn tổng thống, thủ tướng bây giờ, nếu định hại chúng tôi thì mấy mà không
chết sớm. Có lẽ Châtel sợ binh bà Oanh quá thì mang tiếng về đến Pháp chăng...
Vậy là chúng tôi chửi chí chạp, chửi chết thì thôi. Độc giả mua đọc nhiều. Nhưng dù sao,
đó cũng là một cái “yếu” của chúng tôi làm cho “Vịt Đực” mất phần nào uy tín.
Thêm nữa, được cái đà báo chạy quá, chúng tôi về sau có một thái độ hơi phóng
túng, mở ra vài mục hơi tục tĩu như “Tiếu Lâm Vịt Đực”, “Tiếng Oanh” do cô Ngã
(Ngửa) phụ trách, nên tờ báo hơi mang tiếng. Nhưng mang tiếng là một đàng, mà
số in mỗi ngày mỗi nhiều hơn lại là chuyện khác. Có người đọc công khai, có
người mua rồi giấu đi đem về nhà chờ lúc vắng vẻ mới dám đem ra thưởng thức;
nhưng dù cách nào đi nữa thì người ta cũng tranh nhau tìm đọc “xem họ chửi cái
gì” và do đó “Vịt Đực” thành một lực lượng đáng kể, thường in không đủ bán.
Những lúc như thế, anh em bè bạn ở bốn phương về chơi với báo sao mà nhiều thế!
Có người “không vì lý do gì cả” rủ anh em đi hát luôn cả một tuần; có bọn mời
đi ăn đi uống cho bằng được “nếu không thì giận”; lại có người bỏ ra hàng đống
bạc mời anh em làm một “tua ở Huế đi thuyền trên sông Hương nghe hò”.
Không cần biết ai là bạn, là thù - mà thù nhiều hơn bạn -
chúng tôi chấp nhận đi chơi bời ăn uống với tất cả, không phân biệt, mà cũng
không cần “gác đờ co”, chớ phải chi bây giờ sống một cuộc đời nguy hiểm, lúc
nào cũng có sẵn người muốn “xin tí gân, tí huyết”, ít nhất là mỗi anh trong bọn
chúng tôi cũng phải có hai con khỉ
độc canh chừng, và đi đâu thì xoàng ra cũng phải có một đoàn hộ tống
đi mô tô và xe díp bấm còi điếc mũi người ta. Không, chúng tôi là bọn điếc
không sợ súng, lúc nào cũng tin ở số tử vi, chưa đến số thì “không có thằng chó
nào làm hại được mình, chỉ có trời hại được mình thôi”.
Phải, chúng tôi viết báo rất ác, rất đểu, rất hại người,
nhưng trong thâm tâm thì lúc nào cũng chủ trương phải ăn ở phúc đức vì “có Trời
cả”, mà cuộc đời chúng tôi lao đao, lận đận, lên voi xuống chó bao phen cũng là
do ông trời. Có ai, vào buổi sáng tinh mơ, nghe thấy Nguyễn Đăng Đệ (biệt hiệu
Thiên Thê), một bạn thân của nhà báo, ngâm câu thơ đắc ý của anh, nói rõ lên
được tâm sự của cả bọn chúng tôi lúc đó mới biết cái buồn của anh em viết báo
lúc thắng cũng như khi bại ra sao:
Trên tiên cung,
có tội gì?
Xuống trần mà
trả nợ đi cho rồi.
Đến đây, chúng tôi thiết nghĩ cũng nên nói tại sao lại chửi
hăng như thế. Nguyên hồi ấy là thuở “Thịnh Đường” của chế độ thực dân. Pháp và
tay sai nắm vững các cơ cấu trong nước, các đảng cách mạng chỉ có thể hoạt động
ngấm ngầm, phàm cái gì nghịch lại với thực dân đều bị đàn áp một cách kín đáo
và thâm độc. Riêng trong lãnh vực báo chí, họ không cần áp dụng chế độ kiểm
duyệt, mà cũng chẳng cần phải buộc “nạp bản” làm gì; duy có ai ra báo phải xin
phép trước và in xong một số báo rồi thì phải đưa ra “dépôt légal”.
Nạp bản và dépôt légal mới nghe thì tưởng cũng giống nhau,
nhưng bên trong thì khác biệt. Nạp bản là báo đập thử ra giấy rồi đưa ra cho
Thông tin hay một cơ quan nào tương tự đọc, bình thường chẳng làm sao, nhưng
nếu có gì xét ra chướng ngại thì một cú “phôn” sẽ khuyến cáo nhà báo nên “tự
bỏ” bài ấy hay đoạn ấy đi ngay “cho khỏi xảy ra sự đáng tiếc” sau này. “Dépôt
légal” rộng rãi hơn thế: nhà báo cứ in hẳn ra mà bán, đồng thời nộp mươi, mười
lăm số cho các cơ quan liên hệ như Thông tin, Tòa án, Thư viện... Bài vở trơn
tru chẳng làm sao, nếu có gì trục trặc, láo lếu thì tòa án truy tố chủ nhiệm và
quản lý ra tòa. Vì thế “Vịt Đực” cũng như các báo “Công Dân”, “Tương Lai”,
“Việt Nữ”... viết thả cửa, “ra tòa hay tù tội là chuyện sau”. Trong suốt cuộc
đời làm báo, có lẽ không có hồi nào chúng tôi vui như lúc làm “Vịt Đực”: thường
thường chúng tôi thức trắng đêm không ngủ, họp nhau tán gẫu và cứ tán gẫu như
thế thì ra nhiều chuyện tức cười. Có đêm nghĩ ra một câu xỏ ngọt thần diệu, hay
một vấn đề giễu cợt tài tình, chúng tôi cười thắt cả ruột, cười đau cả bụng.
Thế rồi có khi vì sướng quá, có khi vì mệt quá, có khi vì chán đời quá, chúng
tôi không ngủ nữa, nửa đêm kéo nhau đi ăn, đi hút, đi hát và thường thường đi
hát như thế, chúng tôi không trở về nhà báo nữa, ở luôn cô đầu, ở nhà này vài
đêm, nhà kia vài đêm, viết bài luôn tại chỗ, rồi đưa tùy phái đem về nhà in xếp
chữ, “mi” lấy và in luôn, không cần “bon à tirer”. Lưu Văn Phụng, quản lý, và
Vũ Chung, chủ nhiệm, vài ngày lại tạt về báo quán một lần, để giải quyết vấn đề
trị sự và thu tiền của cai báo, của trẻ em bán báo lẻ và của các người mua năm
trả bằng tiền mặt hay ngân phiếu.
Nếu thu được nhiều, chúng tôi không ăn cơm ở cô đầu, trưa
và chiều nghễu nghện mỗi người một xe đi từ Vạn Thái, Khâm Thiên lên Bôn Be,
Hàng Buồm ăn nhà hàng rồi lại trở về nhà hát và thường thường thì trị sự thu
được tiền rất khá, vì báo bán chạy, có nhậu nhẹt hát xướng cả năm cũng không sợ
thiếu. Ấy vậy mà chúng tôi thiếu tiền thường xuyên, và chúng tôi không hiểu tại
sao lại thế. Khốn nạn nhất là mỗi ngày thứ ba hàng tuần, tức là ngày phải trả
tiền nhà in để lấy báo phát cho cai và trẻ em. Nhân viên của “tờ báo chạy nhất
Hà Nội” lúc bấy giờ, mặt buồn như sắp phải trèo lên núi Can Ve, đành phải trở về nói khó với nhà in chịu tiền. Chịu
hai số, năm, sáu số, được đi; nhưng chịu tiền in đến chín số báo, điều đó không
thể dung thứ được. Nhà in gửi cho một tối hậu thư. Thạch và tôi, đương trưa
trời nắng, phải cuốc bộ đi tìm người để vay dăm ba trăm lấy báo. Còn giấy in?
Tôi về vay giấy của mẹ, nhưng vay mãi, cả nhà tôi cũng ngán: rút lại, báo càng
chạy, anh em lại càng khổ, vì đến kì lấy báo nào cũng không có tiền; báo xuất
bản ít thì tiền in cũng ít, mà giấy đi xoay đồng thời cũng ít hơn. Thành thử ra
làm “Vịt Đực”, chúng tôi thường xuyên sống trong một sự vô lý ngoài óc tưởng
tượng của người ta: lúc nào cũng cầu mong cho báo đừng chạy quá. Chạy quá thì
báo phải chết, vì số tiền vay sẽ lớn hơn, mà rồi cũng hết người cho vay tiền.
Mà mình tự in ít đi không được. Có một vài số chúng tôi đã
thí nghiệm biện pháp này, vào dịp tất niên. Ai ngờ đâu số tất niên, cai báo và
trẻ em lại mua báo gấp đôi, gấp ba số thường; báo thiếu bán nhiều quá, anh em
bán báo mất một số lợi đáng kể vào cuối năm, biểu tình trước nhà báo, ném đá,
phá cửa và không ngại chửi chúng tôi bằng những lời thô tục nhất và hò hét ầm ĩ
cả phố là chúng tôi “ăn chơi xài phí quá, hết tiền, không có báo bán cho anh
em, t... s... cha chúng mày”. Ngay
lúc ấy, chúng tôi uất ức không để đâu hết, nhưng đến đêm, chúng tôi cười như
phá, vì không bao giờ lại sung sướng đến thế: làm báo mà bị trẻ con chửi tàn
nhẫn vì in không đủ bán! Đồng thời, chúng tôi quyết định ăn chơi rả rích cho
hết năm cũ; ra giêng sẽ đổi hẳn lề lối làm việc. Nhưng, chứng nào vẫn giữ tật
ấy; báo chạy mà tiền thì không còn đồng nào trong két. Tuy nhiên, kĩ thuật viết
trào phúng hư hư thực thực của chúng tôi hình như do đó đã tiến bộ hơn lên,
cùng với những sáng kiến cũng táo bạo hơn. Đả kích thực dân và quan lại quen
quá mất rồi, chúng tôi nhất định làm một cú thực trì: pháo kích vua Bảo Đại lúc đó bị gãy chân vì một vụ mèo
chuột sì sằng gì đó. Dưới một cái tít lớn, chạy dài trên trang nhất “Thánh túc
vi hòa, vạn tuế thánh túc”, chúng tôi giễu nhà vua luôn cả một tuần, trong đủ
các mục, và có bài đã thành vè truyền khẩu trong dân chúng: Trên trời có ông
sao tua, Ở dưới hạ giới có vua thụt hầm. Kết cục, lần lượt chúng tôi nhận
được ba trát đòi ra tòa hầu kiện. Cố nhiên, chúng tôi phải thua. Theo luật,
“Vịt Đực” phải nộp tiền phạt trước mới có quyền chống án. Mà tiền thì dù lúc ấy
chỉ cần độ một ngàn đồng, bói đâu ra? Thành thử án lịnh ban hành, chúng tôi
biết ngay là báo sẽ chết và phải chết. Tuy nhiên, còn sống ngày nào chúng tôi
cứ viết toáng lên cho sướng thần khẩu ngày ấy. Vụ liều chót của “Vịt Đực” là vụ
chơi đề đốc Terreau, liên quan tới vụ tàu Phoenix bị chìm ở ngoài khơi Bắc
Việt. Mục đích làm to vụ này là định dọa chính phủ thực dân hồi đó, để bù lại,
họ đứng ra dàn xếp cho xong vụ án “Vịt Đực - Bảo Đại”, hầu mua lấy sự im lặng
của chúng tôi. Nhưng thực dân cứ áp dụng hành động quyết liệt: bắt quản lý và
chủ nhiệm “Vịt Đực”, giam cầm hơn một tháng. Trong khi ấy, chúng tôi hết hạn
nộp tiền để chống án. “Vịt Đực” phải tự đóng cửa sau năm mươi hai số đả kích
không thiếu mặt nào trong xã hội Bắc Kì, làm cho nhiều người thích thú, nhưng
đồng thời cũng gây ra không biết bao nhiêu kẻ thù lúc nào cũng vái trời vái
phật cho Tây đóng cửa “Vịt Đực” sớm ngày nào hay ngày ấy.