Chàng hiệp sĩ trong bộ áo giáp sáng ngời - Chương 21 phần 1
Chương 21
Khi cô tỉnh dậy,cô cảm thấy choáng váng và yếu ớt và không chắc
chắn được là mình đang ở đâu. Cô mở mắt ra và thấy bầu trời xanh phía trên đầu
và một cái cây lá um tùm ở gần bên.
“Giờ thì là gì đây?” cô
thì thầm. Cô đã lang thang ra khỏi nhà thờ ư? Nhưng hình ảnh của bầu trời và
cái cây khiến cô bình tĩnh. Lần đầu tiên trong những ngày này cô không cảm thấy
điên rồ.
Cô nhắm mắt lại lần nữa.
Cô yếu đến nỗi cô muốn ở yên tại nơi cô đang ở và đánh một giấc. Cô sẽ tìm hiểu
xem cô đang ở đâu sau.
Khi cô bắt đầu mơ màng,
cô lờ mờ nhận thức thấy một tiếng khúc khích đầy nữ tính ở gần đó. Trẻ con, cô
nghĩ. Lũ trẻ đang chơi đùa.
Nhưng trước tiếng cười
đáp trả đầy nam tính, mắt cô mở tung. “Nicholas?” Chậm chạp, vẫn còn cảm thấy
không định hướng được, cô ngồi dậy và nhìn quanh. Cô đang ngồi trên thảm cỏ
phía dưới một tán cây trong một phần của đồng quê nước Anh xinh đẹp. Quay
quanh, cô cố gắng xác định phương hướng. Cô rời khỏi nhà thờ lúc nào?
Dougless thôi không quay
nữa khi cô nhìn thấy một người đàn ông trên cánh đồng. Ông ta còn ở xa và khó
có thể nhận ra được, nhưng ông ta hình như đang mặc một thứ kiểu như áo choàng
ngắn màu nâu và ông ta đang cày ruộng với một con bò đực. Dougless chớp mắt,
nhưng ảo ảnh đó vẫn không thay đổi. Nông thôn Anh quốc đích thực là nông thôn.
Phía sau cô tiếng khúc
khích của người phụ nữ lại vang lên. “NgàiNicholas,” người phụ nữ nói
theo cái cách đầy mơ màng.
Dougless không nghĩ ngợi
gì về những gì cô làm; cô chỉ đơn giản là phản xạ. Nhảy lên trên đôi chân của
mình, cô lao vào bụi rậm đằng sau và xô bản thân mình qua chúng.
Trên mặt đất, đang lăn
tròn là Nicholas. Nicholas của cô. Áo sơ mi của anh đã cởi ra một nửa, và cánh
tay khỏe mạnh của anh đanh ở quanh một cô gái mũm mĩm, người có bộ váy áo trông
thật kì lạ cũng tuột ra đến một nửa.
“Nicholas,” Dougless nói
to, “Sao anh có thể? Sao anh có thể làm thế với tôi?” Nước mắt lại dâng lên.
“Tôi đã điên lên vì lo lắng cho anh, và anh ở đây với... với cô này... Ôi, Nicholas,
sao anh có thể?” cô lấy ra một cái khăn giấy từ trong túi và xì mũi ầm ĩ.
Trên mặt đất, Nicholas và
cô gái đã thôi chuyển động. Cô gái, với một cử chỉ sợ hãi, hấp tấp buộc lại
phần phía trước váy của cô ta, lăn ra từ phía dưới Nicholas, sau đó chạy trốn
qua hàng rào.
Nicholas, một cái quắc
mắt trên khuôn mặt đẹp trai của anh, quay qua, chống người trên một khuỷu tay,
và nhìn lên Dougless. “Ngươi nói thế là có ý gì?” anh ra lệnh.
Cơn giận dữ đầy bột phát
đầu tiên của Dougless rời bỏ cô. Trong một khoảnh khắc cô đứng nhìn trân trân
xuống anh. Nicholas ở đây với cô. Ở đây!
Cô lao lên anh, hai cánh
tay cô quấn quanh cổ anh khi cô bắt đầu hôn mặt anh. Cánh tay anh quấn quanh
người cô khi họ ngã lại xuống nền đất.
“Nicholas, đúng là anh.
Là anh.Ôi, anh yêu, thật là khủng khiếp sau khi anh bỏ đi. Không một ai
nhớ anh hết. Không một ai nhớ chúng ta ở cùng nhau.” Cô hôn cổ anh. “Anh đã để
râu lại, nhưng thế cũngổn thôi, em khá là thích nó.”
Anh đang hôn cổ cô. Tay
anh trên thân trước váy cô, và áo cánh của cô dễ dàng tách ra khi môi anh di
chuyển xuống dưới cổ họng cô.
“Nicholas, em có rất
nhiều điều muốn nói với anh. Em đã gặp Lee sau khi anh đi, và anh ta kể cho em
tất cả về Lettice và Robert Sydney... và... Ôi, thế thật tuyệt, rất tuyệt.”
“Không!” cô đột ngột nói,
sau đó đẩy anh ra khoảng một sải tay. “Chúng ta không được làm thế này. Anh có
nhớ chuyện xảy ra lần trước, phải không? Chúng ta phải nói chuyện. Em có rất
nhiều thứ để kể cho anh. Anh có biết sau cùng thì anh vẫn bị hành hình không?”
Nicholas thôi cố kéo cô
vào lại trong vòng tay anh. “Ta? Bị hành hình? Lạy Chúa, tiểu thư, vì tội gì?”
“Vì mưu phản, tất nhiên
rồi, vì thành lập một đội quân. Vì - Nicholas, anh không phải cũng bị mất trí
nhớ đấy chứ. Em đã có đủ những chứng mất trí nhớ em nhận được gần đây rồi. Nghe
em này. Em không biết anh sẽ ở lại bao lâu trước khi anh quay lại. Vợ anh sắp
đặt tất cả mọi việc. Em biết anh yêu cô ta, nhưng cô ta chỉ cưới anh vì anh có
quan hệ họ hàng với Nữ hoàng Elizabeth - hay đó là cha của nữ hoàng nhỉ? Thế nào
cũng được, Lettice muốn anh biến khỏi bức tranh vì anh không đóng kịch cùng với
cô ta và đưa con cô ta lên ngai vàng. Tất nhiên cô ta không thể có bất cứ đứa
con nào, nhưng cô ta không biết điều đó.”
Cô dừng lại. “Sao anh lại
nhìn em như thế? Anh định đi đâu đấy?”
“Ta về nhà mình, tránh xa
khỏi kiểu nói đổi trắng thay đen của ngươi[39].” Anh đứng dậy, sau đó bắt đầu nhét
áo sơ mi vào chiếc quần soóc quả bóng của mình.
[39] Colley-westonward talk: ở đây tác giả dùng từ
Colley-westonward, là một kiểu mốt thời trang ở Anh quốc vào cuối thế kỷ mười
sáu, trong đó áo choàng chui đầu của nam giới được mở xuống ở hai bên sườn,
xoay 90 độ, khiến vạt trước và vạt sau của áo quấn quanh trên cánh tay và tay
áo rủ xuống phía trước và phía sau. Vậy nên wind tạm dịch nó là đổi trắng thay
đen, chỉ việc Nicholas ngụ ý bảo Dougless nói dối, vặn xoắn sự thật.
Dougless cùng nhỏm dậy.
“Đổi trắng thay đen. Em không biết cái đó. Nicholas, đợi đã, anh không thể đi.”
Anh quay lại đối diện với
cô. “Nếu ngươi muốn kết thúc cái ngươi đã bắt đầu,” anh hất đầu về phía nền
đất... “ta sẽ ở lại và ta sẽ trả công cho ngươi hậu hĩnh, nhưng ta không thể
kéo dài cái cách nói chuyện lầm lạc nàynữa.”
Dougless đứng đó, chớp
mắt nhìn anh, cố gắng hiểu anh đang nói gì. “Trả công cho em?” cô thì thầm.
“Nicholas, chuyện gì xảy ra với anh thế? Anh hành động cứ như thể anh chưa bao
giờ nhìn thấy em trước đây ấy.”
“Vâng, tiểu thư, ta
chưatừng,” anh nói, sau đó quay lưng lại với cô và rời khỏi khoảng rừng
thưa.
Dougless quá choáng váng
để có thể di chuyển. Chưatừngnhìn thấy cô trước đây? Anh đang nói
cái gì vậy? Cô chen qua những bụi rậm. Nicholas đang mặc bộ quần áo khác thường
nhất. Chiếc áo vét tông bằng sa tanh đen của anh dường như được trang trí
với...
“Chúng là kim cương à?”
cô thở hắt ra.
Mắt Nicholas hẹp lại
hướng vào cô. “Ta không đối xử tốt đẹp với bọn trộm đâu.”
“Em không định cướp của
anh; chỉ là em chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ ai đính kim cương lên quần áo
trước đây thôi.” Bước lùi lại, cô nhìn vào anh, thật sự nhìn vào anh và cô nhận
thấy rằng anh hoàn toàn khác. Không phải chỉ là áo quần hay anh đang lại để râu
ria, nhưng sự nghiêm túc đã biến mất khỏi khuôn mặt anh. Đây là Nicholas, nhưng
anh bằng cách nào đó dường như trẻ hơn.
Sao hàm râu của anh có
thể mọc lại nhanh như thế?
“Nicholas?” cô hỏi. “Anh
ở nhà lần cuối khi nào, không phải lần đầu tiên anh đến gặp em, mà là lần này,
năm nay là năm nào?”
Nicholas quăng chiếc áo
choàng không tay ngắn bằng sa tanh đen được gắn lông chồn ermine[40]lên vai, và từ sau bụi cây anh
dắt ra một con ngựa, con vật trông hoang dã như con ngựa thuê Sugar vậy. Dễ
dàng, anh nhảy tót lên bộ yên trông to như yên cương củadâncao bồi
Mỹ, nhưng nó có một thanh gỗ thẳng đứng ở ngay phía trước và sau chỗ ngồi. “Khi
lần cuối ta ở nhà vào sáng nay, là năm 1560 tính theo lịchThiên Chúa của
chúng ta. Giờ thì ngươi, phù thủy, biến khỏi tầm mắt của ta.”
[40] Ermine: còn được gọi là giống chồn đuôi ngắn,
phân bố ở Bắc bán cầu. Thời trung cổ, trang phục lông chồn ermine (chủ yếu là
áo khoác mùa đông và khăn choàng) là biểu trưng cho giới quý tộc châu Âu, rất
quý báu và đắt tiền.
Dougless phải bước lùi
vào bụi cây để khỏi bị ngựa của anh giẫm vào. “Nicholas, đợi đã!” cô gọi, nhưng
anh đã đi mất.
Không thể tin nổi,
Dougless nhìn trân trân theo sau anh cho đến khi anh nhỏ hơn một cái chấm ở
cuối chân trời; sau đó cô ngồi xuống một tảng đá to, đầu cô gục vào tay. Giờ
thì sao đây? Cô nghĩ. Cô sẽ phải bắt đầu lại tất cả và giải thích cho anh lại
một lần nữavề thế kỷ hai mươi ư? Lần cuối cùng cô nhìn thấy anh, anh đến
từ năm 1564, nhưng lần này là bốn năm sớm hơn. Những gì đã xảy ra vẫn chưa xảy
ra.
Đầu cô ngẩng lên. Tất
nhiên rồi! Chuyện là thế. Khi anh tìm ra về Robert Sydney, anh đang ở trong tù
- hoặc trong cái gì đó thời trung cổ tương đương như thế - và anh không thể làm
gì nhiều để tự cứu lấy bản thân mình. Nhưng lần này anh tới sớm hơn bốn năm.
Giờ là lúc để ngăn chặn những gì là nguyên nhân cuộc hành hình của anh.
Cảm thấy vui vẻ hơn rất
rất nhiều, cô đứng dậy. Cô phải đi tìm anh trước khi anh làm chuyện gì đó ngu
ngốc, như là bước ra trước mũi xe buýt lần nữa. Nhặt chiếc túi du lịch nặng
trịch của mình từ mắt đất lên, cô quàng nó qua vai, sau đó bắt đầu đi theo
hướng Nicholas đã đi.
Đường xá tệ hơn cô đã từng
nhìn thấy: đầy ổ gà, đất đá lổn nhổn, hẹp và cỏ dại mọc đầy. Những con đường ở
nông thôn nước Mỹ không tệ thế này, và cô chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ cái gì
giống thế này trước kia ở Anh hết.
Cô bước vào lề đường khi
cô nghe thấy tiếng của một phương tiện giao thông vòng qua một khúc cua. Một
con lừa trông đầy mệt mỏi đang kéo một chiếc xe bò có hai bánh xe to làm bằng
gỗ. Bên cạnh chiếc xe bò là một người đàn ông đi bộ, đang mặc một chiếc quần
soóc trông cứ như thể nó được làm từ bao tải dứa vậy. Chân ông ta, để trần từ
giữa bắp chân trở xuống, có những vết phồng to tướng đau đớn trên chúng.
Dougless nhìn trân trân vào ông ta, miệng há ra đầy kinh ngạc, và người đàn ông
quay qua, thở hắt ra với cô theo cùng cách đó. Khuôn mặt ông ta trông như da
thuộc, và khi ông ta mở miệng, Dougless có thể nhìn thấy những chiếc răng bị
mục rữa. Ông ta nhìn cô từ đầu tới chân, mắt ông ta dính chặt lấy đôi chân đi
bít tất dài của cô; sau đó ông ta liếc mắt đầy dâm dậtvới cô, cười ngoác
tới tận mang tai và phô ra hết bộ răng đầy ghê tởm.
Nhanh chóng, Dougless
quay người và bắt đầu mau lẹ bước đi. Con đường trở nên tệ hơn, những cái ổ gà
sâu hơn, và phân chuồng ở khắp mọi nơi. “Ngày nay Anh quốc dùng phân chuồng để
lấp đầy mấy cái ổ gà chắc?” cô lầm bầm.
Ở trên đỉnh của một ngọn
đồi nhỏ cô dừng lại và nhìn xuống. Phía dưới cô là ba ngôi nhà nhỏ xinh, những
chỗ trú nhỏ xíu lợp mái tranh và những khoảng đất trống ở phía trước chúng nơi
mà lũ gà vịt và lũ trẻ đang bới đất kiếm mồi. Một người phụ nữ mặc một chiếc
váy dài bước ra khỏi cửa của một chiếc lều và đổ một cái với vại tròn bên cạnh
cửa.
Dougless nhìn trân trân
xuống dưới đồi. Có lẽ cô có thể hỏi đường người phụ nữ đó. Nhưng khi cô tới gần
ngôi nhà, cô đi chậm lại. Cô có thể ngửi được nơi này. Động vật, con người,
thức ăn đang thối rữa, những đống phân chuồng, tất cả chúng bốc mùi nồng nặc.
Dougless bịt tay lên mũi và thở qua miệng. Thật là! Cô nghĩ, chính phủ nước Anh
nên làm gì đó về nơi này. Con người không thể sống như thế được.
Cô đi tới ngôi nhà đầu
tiên, cố gắng giữ cho giày cô được sạch nhưng không thành công cho lắm. Một đứa
bé, khoảng ba tuổi, đang mặc một chiếc áo ngủ bẩn thỉu, người nhìn lên cô. Sinh
vật tội nghiệp đó trông như thể nó chưa được tắm đã cả năm rồi ấy, và nó chắc
chắn không mặc tã rồi. Dougless thề rằng khi cô làm rõ xong mọi chuyện với
Nicholas cô sẽ phàn nàn về nơi này với chính phủ Anh quốc. Nó thật như trò may
rủi với sức khỏe vậy.
“Xin lỗi,” cô gọi với vào
trong phần phía trong tối thui của ngôi nhà. Dường như bên trong cũng chẳng
ngửi mùi khá gì hơn bên ngoài. “Xin chào? Có ai ở nhà không?”
Không ai trả lời, nhưng
Dougless cảm thấy như thể cô đang bị theo dõi. Khi cô quay người lại, cô thấy
ba người phụ nữ và hai đứa trẻ đang ở đằng sau cô. Những người phụ nữ cũng
chẳng sạch sẽ gì hơn đứa bé mà cô đã nhìn thấy, những bộ váy dài của họ phủ một
lớp ngoài với thức ăn và chắng biết là cái gì nữa.
Dougless cố gắng mỉm
cười. “Xin lỗi, nhưng tôi đang tìm nhà thờ Ashburton. Có vẻ như tôi bị lạc
đường rồi.”
Những người phụ nữ không
nói, nhưng một người bước tới trước Dougless. Thật khó để tiếp tục mỉm cười, vì
cái mùi sực nức trên cơ thể cô ta.
“Cô có biết đường tới
Ashburton không?” Dougless lặp lại.
Người phụ nữ chỉ bước
vòng quanh Dougless, nhìn trừng trừng vào cô, vào áo quần cô, tóc cô, khuôn mặt
cô.
“Một phường đầu óc có vấn
đề,” Dougless lầm bầm. Sống bẩn sống thỉu như họ, họ có khả năng không được
sáng sủa cho lắm. Cô bước ra xa khỏi người đàn bà bốc mùi và kéo mở khóa của
chiếc túi du lịch của cô. Người đàn bà nhảy lùi lại phía sau trước âm thanh đó.
Dougless lôi ra tấm bản đồ phía nam nước Anh và nhìn vào đó, nhưng nó chẳng
giúp được gì vì cô không biết mình đang ở đâu, thế nên cô không thể tìm ra làm
thế nào để đến được nơi cô đang định đến.
Cô hạ thấp tấm bản đồ
xuống khi cô nhận ra một trong những người đàn bà đang ở rất gần, đầu cô ta gần
như cho cả vào trong túi của Dougless. “Xin cô thứ lỗi,” cô nói sắc lẻm. Đầu
của người đàn bà đó phủ đầy vải vóc đóng bánh bởi bụi đất và dầu mỡ.
Người đàn bà đó nhảy ra
xa nhưng không trước khi cô ta giậtlấy chiếc kính râm của Dougless ra
khỏi túi của cô. Cô ta chạy lại với những người phụ nữ khác, và ba bọn họ kiểm
tra cáimắtkính.
“Thế này là quá nhiều
rồi.” Dougless hiên ngang đi về phía những người đàn bà, chân cô bị trượt bởi
cái gì đó, nhưng cô không nhìn xuống. “Tôi có thể lấy lại nó được không?”
Những người đàn bà nhìn
cô với khuôn mặt rắn đanh lại. Một người trong số họ có những cái sẹo rỗ hoa
sâu trên cổ, và cô ta giấu cái kính phía sau lưng mình.
Dougless chống tay vào
sườn. “Xin các cô vui lòng trả lại tài sản của tôi?”
“Ngươi cút đi,” một người
đàn bà nói, và Dougless nhìn thấy ba cái răng hàm trên bị thiếu và hai cái khác
ở hàm dưới đang bịrữa nát.
Khi đó cô bắt đầu hiểu
ra. Cô nhìn ngôi nhà phía trước cô, nhìn vào đống củi được chất phía bên ngoài,
và nhìn thấy những dây hành được treo rủ xuống từ mái nhà. Đất bẩn, cái xe bò,
những người chưa bao giờ biết đến sự tồn tại của nha sĩ.
“Ai là nữ hoàng của các
cô?” cô thì thầm.
“Elizabeth,” một người
đàn bà nói bằng âm giọng thật kì lạ.
“Đúng,” Dougless thì
thầm, “và ai là mẹ của bà ấy?”
“Phù thủyAnne
Bullen.”
Giờ thì những người đàn
bà đang vây quanh cô, nhưng Dougless quá choáng váng để có thể chú ý. Nicholas
đã nói rằng sáng nay là năm 1560; sau đó anh đã cưỡi ngựa phóng đi trên một bộ
yên cương trông thật buồn cười. Anh không có vẻ gì là bị mất phương hướng hay
không chắc chắn anh đang đi đâu. Anh không hành động như là anh đã trong lần
đầu tiên anh tới thế kỷ hai mươi. Thay vào đó, anh hành động như thể anh ở ngay
tại nhà.
“Oái!” Dougless nói, vì
một trong những người đàn bà kéo tóc cô.
“Ngươi là phủ thủy?” một
người đàn bà hỏi, đứng rất gần với Dougless.
Bất thình lình, Dougless
đầy sợ hãi. Cười vào một người đàn ông trong thể kỷ hai mươi khi anh ta gọi ai
đó là phù thủy là một chuyện, nhưng ở thế kỷ mười sáu người ta bị thiêu chết
chỉ vì là phù thủy.
“Tất nhiên tôi không phải
là phù thủy rồi,” Dougless nói, lùi lại, nhưng có một người đàn bà ở phía sau
cô.
Một người đàn bà kéo vào
tay áo của Dougless. “Quần áo của phù thủy.”
“Không, tất nhiên là
chúng không phải rồi. Tôi sống... à, ở một ngôi làng khác, thế thôi. Năm tới
tất cả các cô đều sẽ mặc cái này.” Cô không thể lùi hay tiến lên phía trước, vì
những người đàn bà vây quanh đã chắn hết đường của cô rồi.Mày tốt nhất là nghĩ lẹ lên, Dougless, cô
nghĩ,hoặc là mày có thể sẽ thành
món thịt nướng trong bữa tối đấy. Trong khi vẫn để mắt tới những người đàn
bà, cô thọc tay vào trong chiếc túi du lịch của mình, lục lọi một vật mà cô
cũng chẳng biết là cái gì nữa. Tay cô vớ được một bao diêm cô lấy từ một khách
sạn ở đâu đó.
Cô lôi hộp diêm ra, xé ra
một que diêm, và đánh lửa. Với một tiếng thở hắt ra, những người đàn bà lùi
lại. “Vào trong nhà,” cô nói, giữ que diêm cháy sáng cách một cánh tay. “Tiếp
tục, đi vào nhà.”
Những người đàn bà giật
lùi và bước vào trong cánh cửa ngay lúc que diêm cháy xuống đến ngón tay của
Dougless. Cô thả rơi que diêm và bắt đầu chạy.
Bỏ lại những căn nhà bốc
mùi và con đường đầy ổ gà phía sau, cô chạy vào rừng. Khi cô thở không ra hơi
được nữa, cô ngồi xuống đất và dựa lưng vào một cái cây.
Có vẻ như là cô ngất xỉu
trong nhà thờ, và cô tỉnh dậy ở tại thế kỷ mười sáu. Thế nên, cô ở đây, một
mình - Nicholas không biết cô - trong thời đại xà phòng chưa được phát minh -
hoặc ít ra là trước khi nó được sử dụng rộng rãi - và mọi người dường như coi
cô như là một kẻ tội đồnào đó.
“Vậy thì làm cách nào
mình kể được cho Nicholas tất cả những gì anh cần được biết nếu mình ngay cả
gặp anh cũng không được?” cô thì thầm.
Hạt mưa đầu tiên rơi lạnh
ngắt trên người Dougless. Cô lôi một chiếc ô ra khỏi túi du lịch của mình và mở
nó ra. Trong khoảnh khắc đó cô thật sự nhìn vào chiếc túi dã chiến cũ rích của
cô. Cô đã có nó hàng năm nay rồi. Nó đã chu du với cô tới bất cứ nơi nào cô đi,
và cô dần dần chất đầy nó với tất cả mọi thứ một người có thể cần trong khi đi
du lịch. Bên trong là đồ trang điểm, hộp cứu thương, đồ dùng vệ sinh cá nhân,
một bộ đồ dùng khâu vá, một bộ đồ dùng văn phòng, mấy cuốn tạp chí, một cái áo
ngủ, một đôi nút tai dùng khi đi máy bay, mấy cái bút máy, và không thể nói được
cái gì ở tít dưới đáy.
Cô kéo cái túi vào dưới
chiếc ô cùng với cô, cảm thấy như thể chiếc túi là người bạn duy nhất của cô.
Nghĩ đi, Dougless, nghĩ đi, cô tự nhủ với bản thân mình. Cô phải kể cho
Nicholas những gì anh phải biết; sau đó cô phải trở lại thời đại của mình. Cô
đã biết rằng cô không muốn ở lại cái nơi lạc hậu với những kẻ bẩn thỉu, ngu
dốt. Chỉ trong một thời gian ngắn mà cô đã nhớ tắm vòi sen nước nóng và chăn
điện rồi.
Cô co ro bên dưới chiếc ô
khi cơn mưa bắt đầu trút xuống mạnh hơn. Nền đất phía dưới cô bắt đầu trở nên
ướt sũng, và cô nghĩ đến việc ngồi lên những tờ tạp chí, nhưng ai mà biết được?
Cô có thể kết thúc với việc bán tạp chí để sống lắm chứ.
Cô gục đầu vào đầu gối.
“Ôi, Nicholas, anh đang ở đâu?” cô thì thầm.
Sau đó cô nhớ đến buổi
tối ngày đầu tiên cô gặp anh và cô đã ở trong cái lán đựng dụng cụ lao động đó
khóc lóc như thế nào. Khi đó anh đã tới vì cô, và sau đó anh đã nói anh nghe
thấy cô “gọi” anh. Nếu khi đó nó có tác dụng, có lẽ nó cũng có tác dụng lúc
này.
Đầu cúi thấp xuống, cô
tập trung vào việc gọi Nicholas đến với cô. Cô mường tượng ra anh cưỡi ngựa đến
chỗ cô; sau đó cô nghĩ tới tất cả những lúc họ ở bên nhau. Cô mỉm cười, nhớ tới
bữa tối, được chọn bởi cô, mà bà chủ quán trọ đã nấu cho họ:món
bắp-ngô-nguyên-trái(p), quả
lê, sườn lợn nướng, và một quả xoài tráng miệng. Nicholas đã cười phá lên như
một cậu nhóc. Cô nhớ những bản nhạc anh đã chơi, sự vui thích của anh với những
cuốn sách, cách anh đã phê bình như thế nào về quần áo thời hiện đại.
“Đến với em, Nicholas,”
cô thì thầm. “Đến với em.”
Khi trời nhá nhem và cơn
mưa trút xuống dữ dội và lạnh lẽo hơn thì Nicholas xuất hiện, ngồi trên con
ngựa đen to lớn của anh.

