Khúc nhạc đồng quê - Quyển 1 - Phần 3

Tôi thường nghiệm thấy
dụ ngôn con chiên lạc là cái khó chấp nhận nhất đối với một số tâm hồn vẫn tự
tin là sùng đức tin Ki-tô giáo. Cái điều cho rằng mỗi con chiên của đàn đem
tách riêng ra lại đến lượt nó có thể quý hơn tất cả đàn chiên như một khối dưới
mắt kẻ chăn chiên, lại chính là cái điều họ đã không thể nâng cao tâm hồn mình
lên để mà lĩnh hội. Và những câu như: “Nếu một kẻ có một trăm con chiên và một
con trong số đó bị lạc, không phải người ấy đã để chín mươi chín con kia lại
trên núi để đi tìm con chiên bị lạc hay sao?” - những lời lẽ hoàn toàn tỏa sáng
tinh thần bác ái đó, nếu như họ dám nói ra một cách thẳng thắn, họ sẽ tuyên bố
đó là những lời lẽ của sự bất công đáng phẫn nộ nhất.

Những cái mỉm cười đầu
tiên của Gertrude an ủi tôi tất cả và đền đáp công lao chăm sóc của tôi gấp
trăm lần. Bởi vì “con chiên này nếu kẻ chăn chiên tìm thấy, ta nói thật với
ngươi điều ấy, là nó sẽ gây cho ông ta niềm vui mừng hơn cả chín mươi chín con
không bao giờ bị lạc kia”. Vâng, tôi nói một cách rất thật, chưa bao giờ một nụ
cười của đứa nào trong đám con của tôi đã làm tràn ngập lòng tôi một niềm vui
thần tiên như con bé đã làm khi tôi thấy trên khuôn mặt vô cảm như một pho
tượng của nó vào một sáng nào đó ló rạng ra và thình lình con bé hình như bắt
đầu hiểu và chú tâm đến những gì mà tôi đã cố gắng dạy nó từ bao nhiêu ngày
nay.

Ngày 5 tháng 3.

Tôi ghi lại cái ngày
này như một ngày sinh nhật. Phải nói không phải chỉ là một nụ cười mà là cả một
sự thay hình đổi dạng. Thình lình nét mặt của con bé trở nên sinh động,
tựa như một sự chiếu rọi ánh sáng giống như cái ánh sáng đỏ tía trên các vùng
cao của rặng núi Alpes xảy ra trước cơn hừng đông, làm lung linh những đỉnh núi
tuyết phủ mà nó tô điểm ra khỏi bóng đêm, người ta bảo một sự tô điểm màu sắc
thần bí; và tôi cũng tưởng tượng ngang như cảnh hồ tắm của Bethesda vào lúc
thiên thần hiện xuống và đến đánh thức làn nước đang ngủ yên. Tôi cảm thấy một
nỗi hân hoan trước sự biểu lộ thiên thần mà Gertrude đã đột ngột có được, bởi
vì tôi thấy hình như cái điều xảy đến cho con bé vào lúc này không phải là sự
hiểu biết mà là tình yêu. Thế là cái niềm phấn khởi của sự biết ơn đã làm cho
tôi cảm thấy nhẹ nhàng, và hình như tôi đã dâng lên Thiên Chúa cái hôn mà tôi
đặt lên cái trán xinh đẹp đó.

Những kết quả ban đầu
càng khó đạt bao nhiêu thì những tiến bộ ngay sau đó càng nhanh chóng bấy
nhiêu. Hôm nay tôi phải cố gắng để nhớ lại tôi và con bé đã tiến hành bằng
những con đường nào; hình như đôi lúc đối với tôi Gertrude đã có những bước
tiến nhảy vọt gần như để chế nhạo lại mọi phương pháp. Tôi nhớ khi mới đầu tôi
hay nhấn mạnh trên phẩm tính của sự vật hơn là sự khác biệt của chúng: nóng,
lạnh, ấm, êm dịu, chua chát, thô nhám, mềm mại, nhẹ nhàng… rồi những chuyển
động: tách ra, gần lại, nâng lên, chéo lại, nằm, cột lại, rải ra, gom lại,… Và
chẳng mấy chốc, vượt bỏ phương pháp, tôi bắt đầu nói chuyện với con bé mà không
cần biết là trí óc nó có luôn luôn theo kịp tôi không; nhưng dần dần tôi mời
mọc khơi gợi cho con bé cứ tha hồ mà hỏi tôi. Chắc chắn là có một sự làm việc
trong trí óc con bé trong thời gian tôi để nó một mình; bởi vì mỗi lần tôi gặp
lại nó, thì lại là một sự ngạc nhiên mới và tôi cảm thấy như cái màn đêm của sự
ngăn cách tôi với con bé như bớt dày đi. Và cũng như thế, tôi tự nhủ, cái ấm áp
của không khí và sự kiên trì của mùa xuân đang từ từ chiến thắng mùa đông. Biết
bao lần tôi đã từng ngắm cảnh tuyết tan; người ta bảo cái áo choàng tuyết mòn
dần từ bên dưới, nhưng cái bề ngoài vẫn giữ nguyên. Mỗi mùa đông Amélie đều chú
ý cái điều này và bảo tôi: tuyết vẫn không thay đổi; người ta tưởng tuyết vẫn
còn dày, nhưng rồi thình lình tuyết nhường bước, và nơi này nơi kia, để lộ ra
cuộc sống.

E ngại nếu Gertrude cứ
bám gần ngọn lửa mãi sẽ làm cho con bé bị khô héo như một bà lão, tôi bắt đầu
đưa nó đi ra ngoài. Nhưng con bé chỉ thuận đi dạo khi được tôi nắm tay dẫn đi.
Sự ngạc nhiên và sự sợ hãi trước tiên của con bé khi nó vừa bước ra khỏi nhà
làm cho tôi hiểu điều đó ngay cả trước khi con bé biết nói cho tôi nghe là nó
chưa bao giờ phiêu lưu ra bên ngoài. Nơi cái nhà tranh mà tôi đã tìm ra nó,
không ai quan tâm đến nó về cái gì khác hơn ngoài việc cho nó ăn và giúp nó
khỏi phải chết, bởi vì tôi không dám nói đến: để sống. Cái thế giới tăm tối của
con bé cũng bị giới hạn bởi những bức tường của căn phòng duy nhất mà nó không
bao giờ rời, cho dù chỉ là một chút dò dẫm ra tới bực cửa, vào những ngày mùa
hè, khi cánh cửa để mở toang ra với cái thế giới rộng rãi sáng sủa. Con bé kể
cho tôi nghe sau này rằng khi nghe tiếng chim hót, nó đã hình dung ra lúc ấy
một tác dụng trong trẻo của ánh sáng, cũng như cái nóng ấm mà nó cảm thấy đang
mơn trớn trên má và trên bàn tay của nó, nhưng vì không suy nghĩ chính xác,
những cái đó hiện ra cho nó một cách rất tự nhiên như là không khí nóng ấm đã
chuyển thành hót cũng như nước trở thành sôi khi gần lửa. Sư thực là con bé đã
không hề lo lắng, không hề chú ý đến cái gì cả và đã sống trong sự đờ đẫn sâu
thẳm, cho đến ngày tôi bắt đầu săn sóc đến nó. Tôi nhớ lại nỗi hân hoan vô tận
của nó khi tôi dạy cho nó biết là những âm thanh nho nhỏ đó phát ra từ những
sinh vật sống động mà hình như cái nhiệm vụ duy nhất của chúng là cảm nhận và
bày tỏ niềm vui vô hạn của thiên nhiên. (Chính từ ngày đó mà con bé có thói
quen nói: Tôi vui vẻ như một con chim.) Tuy nhiên cái ý tưởng những tiếng hót
nói lên sự huy hoàng của cái cảnh vật mà con bé không thể nào chiêm ngưỡng
đã bắt đầu làm cho nó buồn.

- Có thực là, - Con bé
nói. - trái đất cũng xinh đẹp như lời chim hót kể? Tại sao người ta lại không
nói đến điều ấy nhiều hơn? Tại sao thầy không nói cho con nghe hả thầy? Phải
chăng vì sợ làm con đau lòng khi nghĩ là con không thể nhìn thấy? Thầy đã sai
lầm. Con nghe rất rõ tiếng chim: con tin là con hiểu hết tất cả những gì chúng
nói lên.

- Những kẻ có thể nhìn
thấy không nghe được tường tận như con, Gertrude của ta. - Tôi nói với con bé
với hy vọng an ủi con bé.

- Tại sao những con vật
khác lại không hót? - Con bé lại hỏi tiếp. Đôi khi những câu hỏi này làm tôi
ngạc nhiên và trở nên bối rối trong chốc lát, bởi vì con bé buộc tôi phải suy
gẫm về những điều mà từ trước cho tới nay tôi đã chấp nhận mà không hề ngạc
nhiên thắc thắc. Cũng như thế mà lần đầu tiên tôi cân nhắc suy nghĩ là những
động vật càng gắn mình gần với mặt đất bao nhiêu và càng nặng nề thì càng buồn
nản bấy nhiêu. Đó là cái điều tôi cố làm cho con bé hiểu; và tôi nói với nó về
con sóc và những thú vui của nó.

Lúc đó con bé mới hỏi
tôi phải chăng loài chim là loài động vật duy nhất biết bay.

- Còn có những con bướm
nữa. - Tôi nói với con bé.

- Thế chúng có hót
không?

- Chúng có một cách
thức riêng để nói lên niềm vui của chúng. - Tôi trả lời. - Nó được ghi khắc
bằng màu sắc lên trên cánh của chúng…

Và tôi miêu tả những
nét sặc sỡ của bướm cho con bé.

28 tháng 2.

Tôi trở lùi lại một
chút, bởi vì ngày hôm qua tôi đã để mình bị lôi cuốn theo câu chuyện.

Để dạy Gertrude học tôi
cũng phải tự mình học loại chữ nổi dành cho người mù, nhưng chẳng mấy chốc con
bé đã trở thành giỏi hơn tôi trong việc đọc cái loại chữ viết mà tôi khá vất vả
mới nhận ra, và hơn thế nữa tôi lại sẵn lòng đọc bằng mắt nhìn hơn là bằng tay
sờ. Ngoài ra thì không có gì khác để cho tôi phải học. Và trước hết tôi thây
sung sướng được có người giúp đỡ, bởi vì tôi còn nhiều việc phải làm cho cộng
đồng giáo dân, mà nhà ở thì quá tản mác đến nỗi những cuộc thăm viếng người
nghèo hay người bệnh bắt buộc tôi phải thực hiện nhiều chuyến đi đôi khi khá
xa. Jacques đã sơ ý làm cho mình bị gãy tay trong khi trượt pa-tanh trong kỳ
nghỉ lễ Giáng sinh nên đã về sống gần chúng tôi tại nhà - bởi vì trong thời
gian này nó đã trở lại Lausanne nơi mà nó đã bắt đầu đi học để theo học
phân khoa Thần học. Vết thương của Jacques không đến nỗi trầm trọng và bác sĩ
Martins mà tôi đã cho mời đến ngay lúc đó đã dễ dáng làm cho vết thương thuyên
giảm mà không cần phải nhờ đến bác sĩ giải phẫu, nhưng những sự phòng ngừa phải
tuân theo bắt buộc Jacques phải lưu lại nhà một thời gian. Nó đột nhiên bắt đầu
quan tâm đến Gertrude mà từ trước tới giờ nó không hề nhìn đến và tự mình đảm
nhận giúp tôi dạy cho con bé tập đọc. Sự hợp tác của nó chỉ kéo dài trong thời
gian nó dưỡng bệnh, khoảng ba tuần lễ, nhưng trong thời gian ấy Gertrude đạt
được những kết quả trông thấy. Một nhiệt tình kỳ diệu thúc đẩy con bé lúc này.
Cái đầu óc mới hôm qua hãy còn đờ đẫn, thì hình như hôm nay từ những bước đầu
tiên và gần như trước cả khi biết đi, đã phóng chạy. Tôi thán phục con bé đã
không mấy khó nhọc để tìm cách hình thành tư tưởng, và mới nhanh chóng làm sao
để đạt đến chỗ diễn tả bằng một cách thức không còn ấu trĩ, mà đã chính xác
giúp cho nó hình dung được ý tưởng một cách chúng tôi không ngờ nhất nhưng cũng
hài lòng nhất, những sự vật mà người ta vừa dạy cho nó nhận biết hoặc những gì
chúng tôi nói chuyện với nó và mô tả cho nó, trong khi chúng tôi chỉ có
thể đặt để sao cho vừa tầm con bé, bởi vì chúng tôi luôn luôn dùng đến những gì
mà con bé có thể sờ mó hay cảm giác để cắt nghĩa những gì mà nó không đạt đến
được, như những kẻ đo đạc bằng viễn trắc lượng.

Nhưng tôi tin là vô ích
khi ghi lại ra đây tất cả những nấc tiến đầu tiên của sự dạy dỗ này mà chắc
chắn ai cũng có thể tìm thấy trong những sách giáo dục cho người mù. Chính vì
thế mà tôi nghĩ vấn đề màu sắc đối với mỗi người trong đám người mù đều
gây cùng một sự bối rối cho mỗi ông thầy. (Và về đề tài này tôi như được nhắc
nhở cho chú ý là trong Kinh thánh không có phần nào nói về vấn đề màu sắc.) Tôi
không biết những người khác dạy về vấn đề này như thế nào, còn về phần tôi, tôi
bắt đầu gọi tên các màu sắc của lăng kính theo thứ tự mà cái cầu vồng cho chúng
ta thấy, nhưng liền đó nó lại tạo ra một sự lẫn lộn giữa màu sắc và ánh sáng
trong trí con bé, và tôi nhận ra rằng trí tưởng tượng của con bé không tài nào
phân biệt nổi giữa đặc tính của sắc thái và cái mà các họa sĩ gọi là, tôi tin,
cái “sắc độ”. Con bé càng gặp khó khăn hơn để có thể hiểu được là mỗi màu
sắc lại còn có thể đậm hay nhạt và lại còn có thể trộn lẫn vào nhau. Không có
gì làm cho con bé bối rối hơn và con bé trở lại vấn đề này không ngừng.

Tuy nhiên tôi đã có dịp
đưa con bé đi Neuchâtel để có thể cho con bé nghe một cuộc hòa nhạc. Vai trò
của mỗi nhạc khí trong bản giao hưởng cho phép tôi trở lại vấn đề màu sắc này.
Tôi gợi cho Gertrude nhận xét cái âm vang khác nhau của những nhạc khí đồng,
những nhạc khí dây và nhạc khí gỗ, và mỗi một thứ nhạc khí đó trong cách thế
riêng lại có khả năng phát ra với cường độ mạnh hay yếu, toàn nấc thang của các
âm thanh, từ trầm nhất đến bổng nhất. Tôi gợi cho con bé tưởng tượng cũng bằng
cách như thế trong thiên nhiên, những màu đỏ và màu cam tương đồng với
những âm vang của tù và và kèn trôm-bôn, màu vàng và màu xanh lục như âm thanh
của vĩ cầm, đại hồ cầm và những âm thanh trầm, màu tím và màu xanh dương ở
đây gợi lên bằng tiếng sáo, tiếng kèn cla-ri-nét, tiếng kèn ô-boa. Một sự hân
hoan nội tâm từ đó thay thế cho những hoài nghi của con bé:

- Thế thì phải là đẹp
lắm! - Con bé lặp lại. Rồi thình lình. - Nhưng mà màu trắng thì sao? Con chưa
hiểu màu trắng giống như thế nào…

Và tôi chợt nhận ra
ngay sự so sánh của tôi rất là bấp bênh. Tuy nhiên tôi thử nói với con bé:

- Màu trắng là
giới hạn sắc sảo nhất mà tất cả các âm điệu lẫn lộn vào nhau, cũng như màu đen
là giới hạn bóng tối.

Nhưng điều này không
làm cho tôi lẫn con bé hài lòng, và nó làm cho tôi nhận thức ngay là những nhạc
khí gỗ, đồng và vĩ cầm vẫn khác biệt rành rẽ cái này với cái khác trong âm
thanh trầm nhất cũng như âm thanh bổng nhất. Biết bao lần, như bây giờ, tôi
phải giữ yên lặng trước tiên, bối rối và tìm kiếm bằng bất cứ sự so sánh nào tôi
có thể trông cậy vào. Cuối cùng tôi nói với con bé:

- Này! Hãy tưởng tượng
như màu trắng là một cái gì đó rất trinh nguyên, một cái gì đó không còn màu
sắc nào cả mà chỉ là ánh sáng, còn màu đen trái lại, giống như là quá nhiều màu
sắc đến nỗi chỉ còn là tối…

Tôi chỉ nhắc lại đây
những mẩu đối thoại như là một thí dụ về những cái khó khăn mà tôi thường xuyên
va chạm phải. Gertrude có một cái hay là không bao giờ làm bộ như đã hiểu như
nhiều kẻ thường làm, điều ấy khiến cho họ dễ mang lại cho tâm trí của mình
những dữ kiện không chính xác hay sai lầm, từ đó những suy luận của họ về sau
thành ra sai lạc. Trong bao lâu con bé chưa có được một ý tưởng rõ rệt, mỗi
khái niệm vần cứ là một nguyên nhân của sự lo lắng và bực bội đối với nó.

Như tôi đã nói trên đây,
sự khó khăn gia tăng đền nỗi khái niệm về anh sáng và khái niệm về nhiệt đầu
tiên đã gắn bó với nhau chặt chẽ trong trí con bé cho nên về sau tôi rất chật
vật để tách rời hẳn chúng ra.

Cũng qua con bé mà tôi
không ngừng rút được kinh nghiệm rằng cái thế giới của nhìn thấy khác với cái
thế giới của âm thanh và vế mặt nào đó tất cả những sự so sánh mà người ta tìm
kiếm từ mặt này để giải thích cho mặt kia đều có tính cách khập khễnh.

Ngày 29.

Quá chăm chú vào cái
việc so sánh, tôi hãy còn chưa nói đến sự hài lòng vô cùng mà Gertrude đã có
tại cuộc hòa nhạc ở Neuchâtel. Người ta trình diễn đúng ngay bản La
Symphonie pastorale
. Tôi nói “đúng ngay” bởi vì, người ta có
thể hiểu một cách dễ dàng rằng không có một tác phẩm nào khác hay hơn mà tôi
muốn để cho con bé nghe. Khá lâu sau khi chúng tôi đã rời phòng hòa nhạc,
Gertrude vẫn còn giữ im lặng và như còn đắm chìm trong một sự ngây ngất. Cuối
cùng con bé nói:

- Có thật là những gì
thầy nhìn thấy cũng đẹp như thế?

- Cũng đẹp như gì hả
con, cưng của ta?

- Như cái “cảnh bên
bờ suối
” ấy.

Tôi không trả lời con
bé ngay, bởi vì tôi ngẫm nghĩ rằng cái sự hài hòa chải chuốt khó tả thành lời
này, không phải là cái thế giới đang có mà là cái thế giới lẽ ra có thể có, cái
thế giới có thể có nếu như không có cái xấu và cái tội lỗi. Và tôi cũng đã chưa
bao giờ dám nói với Gertrude về cái xấu, về tội lỗi, về cái chết.

- Những kẻ có đôi mắt,
- Cuối cùng tôi nói. - không biết được hạnh phúc của họ.

- Nhưng con không có
mắt nhìn thấy, - Con bé lập tức nói lớn lên. - con biết được hạnh phúc bằng
nghe thấy.

Con bé nép vào tôi
trong khi đi và nó tì vào cánh tay tôi như mấy đứa bé làm.

- Mục sư, thầy có cảm
thấy con hạnh phúc đến mức nào không? Không, không, con không nói điều ấy để
làm vui lòng thầy đâu. Hãy nhìn con: có phải điều ấy có thể nhìn thấy trên
khuôn mặt, khi mà cái điều người ta nói là không thật? Phần con, con nhận biết
rất rõ điều ấy bằng giọng nói. Thầy có nhớ cái ngày mà thầy trả lời con là thầy
không khóc, sau khi dì con (con bé gọi vợ tôi như thế) trách móc thầy là đã
không biết làm một tí gì cho dì ấy, con đã la lên: mục sư, thầy nói dối! Ôi!
Con đã cảm thấy điểu ấy ngay trong giọng nói của thầy rằng thầy đã không nói
thật với con, con cũng không cần sờ má thầy để biết là thầy đã khóc. Và con bé
lặp lại rất lớn tiếng: “Không, con đã không cần phải sờ vào má thầy” điều ấy
làm cho tôi đỏ mặt, bởi vì chúng tôi hãy dang còn ở trong thị trấn và những
người qua lại quay nhìn. Tuy nhiên con bé tiếp:

- Đừng tìm cách đánh
lừa con, thầy có thấy không. Trước hết bởi vì đó là một việc rất hèn nhát khi
tìm cách đánh lừa một kẻ mù… Vả lại điều ấy chả mang lại được gì cả, con bé vừa
cười vừa nói thêm. Hãy nói cho con, mục sư, thầy không đau khổ chứ, có phải vậy
không?

Tôi nâng tay con bé lên
môi tôi như thể để làm cho nó cảm nhận mà không cần thú nhận với nó rằng một
phần cái hạnh phúc của tôi là do nó mang đến, và trả lời:

- Không. Gertrude,
không, ta không khổ sở. Làm sao ta lại khổ sở được?

- Tuy thê đôi khi thầy
có khóc?

- Ta có khóc đôi khi.

- Không lần nào kể từ
lần con nói với thầy?

- Không, từ lần ấy ta
không còn khóc nữa.

-Và thầy sẽ không còn ý
muốn khóc chứ?

- Không, Gertrude ạ.

- Và nói đi… có phải từ
lúc ấy thầy có ý muốn nói dối?

- Không, con cưng.

- Thầy có thể hứa với
con là sẽ không bao giờ tìm cách đánh lừa con?

- Ta hứa với con.

- Được rồi! Hãy nói cho
con nghe ngay lập tức: có phải con đẹp không?

Câu hỏi bất chợt này
làm tôi sửng sốt, hơn nữa cho tới lúc này tôi vẫn chưa muốn để cho mình
chú ý đến sắc đẹp không thể chối cãi của Gertrude, và tôi cho là hoàn toàn vô
ích, thêm vào đó, con bé cũng tự biết.

- Điều ấy có gì quan
trọng đối với con để cho con muốn biết? - Tôi nói ngay với con bé.

- Đó là nỗi lo lắng của
con. - Con bé nói tiếp. - Con muốn biết phải chăng con không… thầy gọi cái đó
như thế nào? Phải chăng con không lạc điệu lắm trong bản hòa tấu. Con có thể
hỏi ai khác điều này hả mục sư?

- Một mục sư không bao
giờ lo lắng đến sắc đẹp của khuôn mặt. - Tôi nói, tự biện hộ bằng mọi cách.

- Tại sao?

- Tại vì vẻ đẹp của tâm
hồn đủ cho vị ấy rồi.

- Thầy thích để cho con
tin là con xấu hơn. - Bấy giờ con bé nói với một cái bĩu môi duyên dáng
đến nỗi tôi không còn kiềm chế được và la lên:

- Gertrude, con thừa
biết là con xinh đẹp.

Con bé nín thinh và
khuôn mặt nó biểu lộ một nét rất nghiêm trang mà mãi đến khi về tới nhà mới
thôi.

Vừa về đến nhà, Amélie
đã tìm cách làm cho tôi hiểu là nàng không chấp nhận việc dùng ngày giờ của
tôi. Lẽ ra nàng có thể nói trước, nhưng nàng đã để cho chúng tôi đi, Gertrude
và tôi, không nói một tiếng, theo thói quen của nàng là cứ để cho làm và sau đó
là dành cho mình cái quyền trách móc. Vả lại nàng không trách móc tôi điều gì
chính xác, nhưng thái độ im lặng của nàng cũng đã là lời cáo buộc, bởi vì không
lẽ nào nàng lại không tự nhiên tìm biết về cái gì chúng tôi đã nghe, từ khi
nàng biết là tôi đưa Gertrude đi nghe hòa nhạc? Vẻ vui sướng của con bé lại
không làm tăng thêm tí nào chú tâm mà nàng đã cảm thấy là người ta nói về sự
hài lòng của nó sao? Vả lại Amélie cũng không giữ yên lặng mà làm bộ giả lả chỉ
nói về những điều rất bâng quơ, chỉ đến chiều tối, sau khi bọn nhỏ đã đi ngủ,
tôi kéo nàng ra riêng và hỏi nàng một cách nghiêm khắc:

- Em bực mình về cái
chuyện tôi đã đưa Gertrude đi nghe hòa nhạc?

Tôi được nàng trả lời:

- Ông làm cho con bé
những cái mà không bao giờ ông làm cho vợ con của ông.

Cũng cái kiểu luôn luôn
cùng một lời phàn nàn và một kiểu từ chối không chịu hiểu là người ta ăn mừng
đứa con trở về mà không phải là những đứa vẫn ở yên chỗ như bài dụ ngôn đã
chứng tỏ; tôi cũng khổ tâm thấy nàng không để ý về sự tật nguyền của Gertrude,
kẻ không thể vui với sự ăn mừng cách nào khác hơn. Và phải chăng, do ý Thiên
Chúa, mà ngày hôm đó tôi thấy tôi được rảnh rỗi, tôi vốn là một kẻ luôn bận bịu
với công việc mục vụ, lời trách móc của Amélie lại càng thêm bất công khi nàng
biết mấy đứa con tôi đứa nào cũng có một việc gì đó phải làm, hoặc là một việc
gì đó cầm chân chúng ở nhà, kể cả nàng. Hơn nữa, Amélie lại không có sở thích
vê âm nhạc, đến nỗi khi sắp đặt giờ giấc cho mình, không bao giờ ý tưởng nghe
nhạc đến với nàng, cho dù cuộc hòa nhạc có diễn ra ngay trước cửa nhà.

Điều làm cho tôi phiền
não hơn, đó là Amélie đã dám nói lên cái điều ấy trước mặt Gertrude, bởi vì mặc
dù tôi đã kéo riêng vợ tôi ra một chỗ, nhưng nàng cũng đã cất tiếng lớn lên để
Gertrude cũng có thể nghe.

Báo cáo nội dung xấu