Khúc nhạc đồng quê - Quyển 1 - Phần 2
Không thể chối cãi là người con bé đáng thương nhung nhúc chí rận: và tôi cũng đã không thể ngăn nổi một cử chỉ ghê tởm khi nghĩ lại là tôi đã ép sát con bé rất lâu vào mình lúc còn trong xe.
Hai phút sau tôi trở vào sau khi đã tẩy sạch người tôi hết sức mình, tôi thấy vợ tôi đang ngồi úp mình trong một chiếc ghế bành, hai tay bưng lấy đầu, như sẵn sàng cho một cơn tức giận khác.
- Tôi không nghĩ là đã để cho sự kiên nhẫn của em rơi vào một sư thử thách như thế. - Tôi nói một cách dịu dàng với nàng. - Dù sao đi nữa, đêm nay cũng đã khuya rồi và người ta cũng không thể thấy rõ được. Tôi sẽ thức canh ngọn lửa mà con bé sẽ nằm ngủ cạnh đó. Ngày mai chúng ta sẽ cắt tóc cho con bé và tắm rửa kỹ lưỡng cho nó. Em chỉ bắt đầu săn sóc nó khi nào em có thể nhìn thấy nó mà không nhờm tởm. Và tôi yêu cầu nàng là đừng nói tí nào cho bọn trẻ biết về cái việc này.
Đã đến giờ ăn tối. Mụ Rosalie, vừa phục vụ bữa ăn cho chúng tôi vừa ném cho con bé được tôi bảo trợ đang hau háu nuốt cái dĩa xúp mà tôi chìa cho những cái nhìn hết sức thù địch. Bữa ăn thật im lặng. Tôi cũng muốn kể lại chuyến đi vừa qua, nói chuyện với bọn trẻ, gây xúc động nơi chúng bằng cách làm cho chúng hiểu và cảm được cái điều kỳ lạ của một sự thiếu thốn đủ mọi thứ, khích động lòng thương hại của chúng, sự cảm thông của chúng đối với kẻ mà Thượng đế đã mời gọi chúng tôi hãy đón nhận; nhưng tôi e sợ làm sống lại cơn tức giận của Amélie. Hình như ai cũng nghĩ thầm trong bụng là lúc này nên bỏ qua và quên sự việc này đi trong khi mỗi người trong chúng tôi hãy còn chưa ai chắc chắn có một điều suy nghĩ nào khác.
Một giờ sau khi tất cả đã đi ngủ và Amélie cũng đã để tôi lại một mình trong căn phòng, tôi vô cùng xúc động khi thấy con bé Charlotte của tôi mở hé cánh cửa, tiến đến một cách nhẹ nhàng trong bộ đồ ngủ và chân trần, rồi ôm chầm lấy cổ tôi, vừa siết chặt tôi một cách thật mãnh liệt vừa thì thầm:
- Con đã không ngoan ngoãn chúc an ba tối nay.
Rồi dùng đầu ngón tay trỏ chỉ ngay vào con bé mù đang ngủ một cách hồn nhiên mà nó tò mò muốn nhìn lại trước khi mình cũng đi ngủ, nó thấp giọng:
- Tại sao con lại không ôm hôn cô bé ấy?
- Con sẽ ôm hôn nó ngày mai. Bây giờ hãy để cho nó yên. Nó đang ngủ. - Tôi bảo với con bé như thế trong khi tôi cùng đi với nó ra tận cửa.
Xong, tôi trở lại ngồi xuống bàn và làm việc cho đến sáng, đọc sách hoặc soạn bài giảng cho kỳ thánh lễ tới.
Chắc chắn là, theo tôi nghĩ (tôi vẫn thường nhớ lại), Charlotte bây giờ vẫn tỏ ra trìu mền nhiều hơn các anh chị của nó; nhưng đứa nào trong bọn chúng, vào cái tuổi này, đã không trước hết cho tôi thấy sự thay đổi; cả thằng Jacques lớn của tôi bây giờ sao mà xa lạ, dè dặt… Người ta đã tin là chúng dịu dàng, chúng nó là những đứa thích chiều chuộng và thích mơn trớn.
27 tháng 2.
Đêm ấy tuyết còn đổ nhiều hơn. Bọn trẻ rất vui mừng bởi vì, chúng nói, chẳng mấy chốc mọi người bắt buộc phải ra ngoài bằng cửa sổ. Thực tế thì sáng hôm đó cửa chính đã bị lấp bít và mọi người chỉ có thể ra ngoài bằng cửa chái phòng giặt đồ. Hôm qua tôi đã chắc chắn là dân làng có đầy đủ lương thực, bởi vì không còn nghi ngờ gì nữa là chúng tôi sắp sửa bị cô lập với thế giới bên ngoài một thời gian. Đây không phải là mùa đông đầu tiên mà tuyết đã phong tỏa chúng tôi, nhưng tôi cũng không nhớ ra có lần nào tuyết rơi dày đến mức này không. Tôi lợi dụng cơ hội này để tiếp tục câu chuyện mà tôi vừa bắt đầu từ hôm qua.
Tôi đã nói là tôi không hề hỏi mình khi đem con bé tật nguyền này về, nó sẽ có thể chiếm một vai trò gì trong nhà này. Tôi hiểu sự phản đối ít nhiều của vợ tôi, sự ăn ở và khả năng tài chánh của chúng tôi rất hạn hẹp. Tôi đả hành động, cũng giống nhừ tôi vẫn thường làm là theo sự đưa đẩy tự nhiên hơn là bằng vào nguyên tắc, cũng chẳng hề tính toán đến sự tổn phí mà niềm hứng khởi của tôi lôi cuốn tôi theo (cái điều luôn luôn tỏ ra cho tôi thấy là nghịch với lời dạy của Phúc âm). Thôi thì cứ trông cậy vào Thiên Chúa hoặc là làm nhẹ bớt bằng cách trút gánh nặng qua cho kẻ khác. Lập tức tôi cảm thấy tôi đã đặt lên cánh tay của Amélie một phận sự quá nặng nề, nặng nề đến nỗi mới đầu tôi rất bối rối.
Tôi đã giúp nàng hết sức mình để cắt tóc cho con bé, cái điều mà tôi thấy là nàng đã làm với một vẻ ghê tởm. Nhưng qua đến cái việc tắm rửa và kỳ cọ cho con bé thì tôi đành phải giao phó cho vợ tôi; và tôi hiểu rằng tôi lại đã thoát được những cái việc săn sóc nặng nề và khó chịu nhất.
Về việc ăn ở, Amélie không còn nêu lên chút phản đối nào nữa. Hình như trong đêm nàng đã suy nghĩ lại và dự phần vào cái phận sư mới này, không những thế nàng còn tỏ vẻ hơi hài lòng và tôi thấy nàng mỉm cười sau khi nàng đã ăn mặc xong cho Gertrude. Một cái mũ trùm màu trắng che phủ cái đầu trọc mà tôi đã thoa lên một lớp kem; vài cái quần áo cũ của Sarah và vài thứ đồ dùng bằng vải sạch thay cho mớ quần áo rách rưới bẩn thỉu của nó mà Amélie vừa ném hết vào lò lửa. Cái tên Gertrude thì đã doCharlotte chọn và được tất cả chúng tôi chấp nhận ngay tức thì, vì không biết cái tên thật mà chính con bé mồ côi cũng không biết và tôi thì cũng không biết tìm đâu cho ra. Nó có lẽ hơi nhỏ tuổi hơn Sarah, vì những quần áo cũ mà Sarah phải thải ra cả năm nay rồi vẫn còn vừa vặn cho nó.
Tới phải thú thật ra đây nỗi thất vọng sâu thẳm mà tôi cảm thấy vào những ngày đầu tiên. Chắc chắn là tôi sẽ viết nguyên một quyển tiểu thuyết về câu chuyện dạy dỗ Gertrude mà thực tế đã quá bắt buộc nên tôi không còn lùi lại được. Cái vẻ thờ ơ, u tối nơi khuôn mặt của con bé hay đúng hơn, cái sự đờ đẫn tận cùng của nó đã làm tê tái tận cùng cái thiện chí của tôi. Suốt ngày con bé chỉ ở lì gần bên ngọn lửa, luôn đề phòng, và vừa khi nghe có tiếng chúng tôi, nhất là khi có ai tiến đến gần, nét mặt nó càng như chai đần ra; nó chỉ ngừng đờ đẫn để biểu lộ vẻ thù địch; và chỉ một chút cố gắng khơi gợi sự chú ý của nó là nó bắt đầu rên rỉ, càu nhàu như một con vật. Sự hờn dỗi này chỉ lùi bớt khi gần đến bữa ăn mà chính tôi phải phục vụ cho nó, và con bé đã lăn xả vào thức ăn với tất cả cái háu ăn của loài vật, trông rất đau lòng khi nhìn thấy. Và cũng giống như tình yêu đáp lại tình yêu, tôi cảm thấy một thú tình cảm ghét cay ghét đắng tràn ngập trong lòng trước sự khăng khăng một mực khước từ của cái tâm hồn này. Vâng, quả thật thế, tôi thú nhận là mười ngày đầu tôi đã gần đi dến chỗ tuyệt vọng, và gần như muốn dứt nợ với con bé khi tôi lấy làm hối hận về cái niềm phấn khởi đầu tiên của tôi và tôi cũng đã ước phải chi đừng bao giờ mang con bé về nhà. Và còn xảy ra cái điều nhức nhối này nữa, đó là thắng thế phần nào trước những tình cảm mà tôi không tài nào che giấu nổi, Amélie lại hình như ra công săn sóc và thật lòng hơn từ khi nàng cảm thấy Gertrude trở nên cái gánh nặng cho tôi và sự hiện diện của nó giữa chúng tôi đã hành hạ tôi.
Đang lúc đó thì một người bạn của tôi, bác sĩ Martins. Ở Val Travers ghé thăm, trong một chuyến đi chăm sóc các thân chủ bệnh nhân của ông ta. Ông ta chú ý rát nhiều đến những gì tôi nói cho ông ta nghe về tình trạng của Gertrude. Thoạt tiên ông ta rất ngạc nhiên về sự kiện con bé vẫn nằm trong tình trạng trì trệ của sự phát triển không chỉ hoàn toàn do mù lòa; nhưng tôi đã giải thích cho ông ta là ngoài sự mù lòa còn cọng thêm cái tật điếc của bà lão từ trước đó là kẻ duy nhất chăm nuôi con bé, và vì không nói năng với con bé bao giờ đến nỗi con bé đáng thương đã phải sống trong một tình trạng bị bỏ rôi mọi mặt. Thế là ông ta bảo cho tôi thấy là tôi đã sai trái khi tuyệt vọng; mà chỉ vì tôi không biết nắm vững phương pháp.
- Bạn đã muốn bắt đầu công tác xây dựng. - Ông ta nói với tôi, trước khi có sự hiểu biết chắc chắn về mảnh đất. - Hãy nghĩ rằng tất cả hãy còn hỗn độn trong cái tâm hồn này và ngay cả những nét phác đầu tiên cũng hãy còn chưa ổn định. Để bắt đầu, chuyện phải làm là liên kết thành từng bó một số cảm giác về xúc giác và vị giác và gắn vào đó như là một cái nhãn cho mỗi một âm thanh mỗi một tiếng nói mà cậu sẽ nói đi nói lại cho con bé nghe đến độ phát nhàm ra, rồi cố gắng làm sao cho con bé nói lại. Điều trên hết là đừng tìm cách đi quá nhanh; hãy dành việc dạy dỗ cho con bé vào những giờ đều đặn nhất định và cũng đừng kéo dài quá lâu…
- Còn lại, phương pháp này, - Ông ta nói thêm sau khi đã trình bày tỉ mỉ cho tôi. - chẳng có gì là thần sầu cả. Tôi không phát minh ra và nhiều người khác cũng đã áp dụng rồi. Bạn còn nhớ không? Thời gian mà chúng ta còn theo học chung môn triết học, các giáo sư của chúng ta, trong câu chuyện Condillac và pho tượng linh hoạt của nàng, cũng đã nói cho chúng ta một trường hợp tương tự con bé này… Nếu không thì, - Ông bạn tiếp tục nói. - tôi cũng đã đọc chuyện này trong một tạp chí tâm lý học sau đó… Điều đó không quan trong; câu chuyện kia đã đập vào trí tôi và tôi nhớ cả cái tên của đứa bé đáng thương đó, còn thiệt thòi hơn cả Gertrude, bởi vì con bé mù và câm điếc. Mà một vị bác sĩ tôi không còn biết là một bá tước nào đó của xứ Anh đã nhận về nuôi vào khoảng giữa thế kỷ trước. Con bé có tên là Laura Bridgeman. Vị bác sĩ này đã ghi nhật ký, cũng như bạn cũng sẽ phải làm, những tiến bộ của con bé, hoặc ít ra, để bắt đầu, những cố gắng của ông ta đối với con bé để dạy cho nó học. Trong nhiều ngày và nhiều tuần lễ, ông ta kiên trì bắt con bé luân phiên sờ mó và nắn nót hai vật nhỏ, một cái đinh ghim, rồi một cây bút, xong sờ vào một tờ giấy có in chữ nổi dành cho người mù hai chữ tiếng Anh pin và pen. Và qua nhiều tuần lễ, ông ta không đạt được kết quả nào. Cái xác như không có hồn. Tuy nhiên ông ta vẫn không mất lòng tin. Tôi tự cho mình cái ấn tượng của một kẻ, ông ta kể, cúi mình trên thành một cái giếng sâu và tối đen, quơ qua lại một cách tuyệt vọng một sợi dây thừng trong niềm hy vọng cuối cùng sẽ có một bàn tay nắm lấy. Bởi vì không có một giây phút nào tôi nghi ngờ là không có một kẻ nào đang ở dưới đó, tận cùng của vực thẳm, và sợi dây này cuối cùng lại không có kẻ nắm lấy. Và cuối cùng, một hôm, ông ta thấy cái khuôn mặt thản nhiên của Laura loé lên một nụ cười mơ hồ; tôi tin chắc là vào lúc đó những giọt nước mắt biết ơn và thương yêu trào lên mắt ông ta và ông ta quỳ xuống để tạ ơn Chúa. Laura đột nhiên hiểu ra cái điều vị bác sĩ muốn đòi hỏi nó; thế là được cứu thoát! Tư hôm đó trở đi con bé bắt đầu chú ý; sự tiến bộ của con bé rất nhanh chóng; chẳng mấy chốc con bé tự học lấy, và sau đó đã trở thành nữ giám đốc của một viện người mù - ít ra đó không phải chỉ một kẻ khác đã làm… bởi vì những trường hợp khác được nói đến gần đây thôi, mà báo chí đã tường thuật dài dòng, mạnh ai nấy làm một cách đáng ngạc nhiên, có lẽ hơi xuẩn động theo ý tôi, để cho những kẻ không may mắn như vậy cũng có thể thấy hạnh phúc. Bởi vì, một sự kiện không thể chối cãi: mỗi một người trong số những kẻ kém may mắn đã từng bị giam hãm trong sự mù lòa kia đều sung sướng, và khi người ta cho phép họ được phát biểu, họ đều kể lại niềm hạnh phúc của mình. Tất nhiên là mấy ông nhà báo cứ mê mẫn lên để từ đó rút ra một bài học giáo điều cho những kẻ “vui hưởng” ngũ quan, lại có cái trán để than phiền…
Đến đây thì lại bắt qua một cuốc tranh luận khác giữa Martins và tôi khi tôi nói móc lại sự bi quan của ông ta và không nhìn nhận như ông ta có vẻ đã nhìn nhận là rốt cuộc ngũ quan chỉ mang lại cho ta sự thất vọng.
- Đấy cũng không phải là cái điều tôi muốn nói, ông ta cãi lại, tôi chỉ muốn nói một cách đơn giản là tâm hồn của con người dễ dàng và sẵn lòng tưởng tượng về cái đẹp, sự thoải mái và sự hài hòa hơn là cái vô trật tự và tội lỗi thường làm cho lu mờ, giảm giá và xé rách cái thế giới này mà ngũ quan của chúng ta đã dạy cho chúng ta và chính chúng ta cũng góp phần vào. Đến nỗi rằng, tôi sẽ sẵn lòng theo câu châm ngôn Fortunatos nimium của Virgile, câusi sua mala nescient, hơn là câu si sua bona norint mà người ta dạy chúng ta: Con người sẽ hạnh phúc biết bao, nếu như họ có thể không biết đến cái xấu!
Rồi ông bạn nói cho tôi nghe về một câu truyện ngắn của Dickens, mà ông ta tin là đã lấy cảm hứng trực tiếp tù tấm gương của Laura Bridgeman và ông bạn hứa là sẽ gửi ngay cho tôi. Và thực vậy bốn ngày sau đó tôi đã nhận được quyển Le Grillon du Foyer, mà tôi đọc với tất cả niềm thích thú mãnh liệt. Đó là một câu chuyện hơi dài, có lúc cảm động, về một người mù còn trẻ mà cha anh ta, một kẻ chế tạo đồ chơi nghèo, đã nuôi dưỡng anh ta trong cái ảo tưởng của sư tiện nghi sung túc và hạnh phúc; sự nói dối mà tài nghệ của Dickens đã nâng lên hàng đức hạnh để thành kính, nhưng mà thôi! Tạ ơn Chúa! Tôi sẽ không phải dùng đến cách đó đối với Gertrude.
Từ hôm sau ngày Martins đến thăm, tôi bắt đầu đem cái phương pháp của ông ta ra thực hành và đặt hết sức mình vào việc này. Bây giờ tôi mới thấy hối là đã không ghi lại, như lời ông bạn đã khuyên tôi, những bước đầu tiên của Gertrude trên con đường mịt mờ mà chính tôi đầu tiên cũng chỉ hướng dẫn con bé một cách mò mẫm. Vào những tuần lễ đầu tiên, phải kiên nhẫn đến mức không tưởng tượng nổi, không phải chỉ riêng vấn đề thì giờ mà công việc dạy dỗ đòi hỏi, mà còn có cả những sự trách móc mà con bé đã làm cho tôi phải gánh lấy. Thật đau lòng cho tôi khi phải nói rằng những lời trách móc này đến từ Amélie; vả lại, nếu tôi nói ra đây chính là vì tôi không nuôi giữ một ác cảm nào, một sự chua chát nào - tôi xin xác nhận điều này một cách trịnh trọng để trường hợp về lâu về dài những trang giấy này sẽ được chính nàng ghé mắt đọc. (Chẳng phải sự tha thứ cho những điều xúc phạm cũng đã được đáng Ki-tô chỉ dạy cho thấy ngay lập tức sau bài dụ ngôn về con chiên lạc?) Tôi nói thêm: ngay cả lúc mà tôi chịu đựng nhiều nhất những sự trách móc của nàng, tôi cũng đã không thể oán trách nàng về chuyện nàng phản đối cái thời gian dài mà tôi dành cho Gertrude. Điều tôi trách nàng hơn cả là đã không có sự tin tưởng rằng sự chăm nom của tôi có thể mang lại chút kết quả nào đó. Vâng, chính sự thiếu đức tin này mới làm cho tôi đau lòng; nhưng không làm tôi nản lòng chút nào. Thường biết bao lần tôi đã phải nghe nàng lặp đi lặp lại: “Phải chăng ông lại cứ phải mang lại kết quả…” Và nàng ngoan cố cho rằng công lao của tôi chỉ phí phạm một cách vô ích, đến nỗi nàng thấy một cách tự nhiên rằng cái việc tôi dành cho việc này số thì giờ mà nàng luôn luôn cho là có ích hơn nếu như làm việc khác. Và cứ mỗi lần tôi chăm sóc cho Gertrude thì nàng lại tìm cách chỉ cho tôi thấy là tôi không biết có những ai hay những việc gì cũng đang cần đến tôi, và tôi đã xén bớt để lo cho con bé này cái thời gian lẽ ra tôi phải dành cho những kẻ khác. Cuối cùng, tôi tin là một thứ ganh tị của tình mẫu tử đã hướng dẫn nàng, bởi vì đã hơn một lần tôi nghe nàng nói với tôi: “Ông chưa bao giờ chăm nom một đứa con ruột nào của mình như thế cả.” Điều ấy đúng; bởi vì nếu tôi yêu mấy đứa con nhiều, tôi không bao giờ tin là tôi đã chăm sóc chúng đầy đủ.

