Tôi Là Thầy Tướng Số - Quyển 3 - Chương 7
CHƯƠNG 7
NHÂN TÍNH KHÔNG BẰNG TRỜI TÍNH
TỔ GIA CHUYỂN ĐƯỜNG KHẨU VỀ THƯỢNG HẢI
Năm 1943, trong cục diện chiến sự rối ren, Tổ Gia thấy thời cơ đã đến, ông quyết định rời Đường khẩu trở lại Giang Hoài! Cùng lúc đó, quân dân Trung Quốc bắt đầu bước vào giai đoạn phản công chiến lược. Năm 1945, Mao Trạch Đông phát động cuộc đại phản công toàn diện kháng Nhật. Ngày 15 tháng 8, Thiên Hoàng Nhật Bản tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Vào thời điểm đó, Chưởng môn nhân Thiên Thánh Đạo Tả Vịnh Thiện đang lo ngay ngáy, ngay cả Tưởng Thiên Thừa của Thuận Thiên Giáo, hội đạo môn ở Sơn Đông cũng cuống cả lên. Mấy tên hộ pháp của Tả Vịnh Thiện bàn tính phân chia của nả, tìm đường sống khác.
Tả Vịnh Thiện đập bàn nói: “Mẹ kiếp! Thiên Thánh Đạo bao nhiêu năm như vậy, nói giải tán là giải tán sao? Triều đại nào mà chẳng cần tướng số? Quốc dân Đảng chẳng phải đã quay lại rồi ư? Ông đây sẽ làm theo cách cũ, vẫn là Đệ nhất tướng số Giang Hoài!”
Mấy tên hộ pháp thầm nghĩ: vẫn còn khoác lác cơ đấy! Nay đâu còn như xưa, quân Nhật đuổi đi rồi, tiếp theo là xử lý Hán gian! Ông không sợ chết chứ bọn tôi thì vẫn muốn sống lắm!
Đến đêm, mấy tên hộ pháp mò vào phòng Tả Vịnh Thiện, một dao đâm chết ông ta rồi vơ hết vàng bạc, mỗi người một ngả.
Đáng thương cho Tả Vịnh Thiện nửa đời lăn lộn, đầu tiên là mất đi một chân, cuối cùng lại bị chính đệ tử của mình giết chết, cơ đồ Thiên Thánh Đạo do một tay Trương Kế Nghiêu dựng nên cũng sụp đổ tan tành, ông ta chỉ còn đôi nạng lết xuống âm phủ thỉnh tội với sư phụ mình.
Đường khẩu của Tổ Gia mở cửa trở lại. Tối đến Tổ Gia bày tiệc, cho gọi tất cả các bá đầu đến, xúc động nói: “Mười năm trước, vùng Giang Hoài thiên hạ chia ba gồm Mộc Tử Liên, Mai Hoa Hội, Thiên Thánh Đạo, nay chỉ còn lại duy nhất Mộc Tử Liên. Là ý trời, cũng là ý người. Nay thiên hạ thái bình, cuộc sống của chúng ta cũng thảnh thơi rồi!” Nói đoạn, Tổ Gia cảm khái ngâm một bài thơ:
Cầu đạo
Bao năm cầu đạo đâu chẳng thấy,
Vạn nghề thấp kém tận cam lai.
Tay nắm âm dương gặt thiện quả,
Tam thiên thế giới rộng bao la.
“Hay!” Tam Bá đầu vỗ tay, các anh em cũng đứng dậy vỗ tay theo.
Sáng hôm sau, Tổ Gia mặc một bộ áo dài mới tinh ra phố. Xa cách đã sáu năm, bến Thượng Hải giờ đã thay đổi diện mạo, dấu vết chiếm đóng của quân Nhật vẫn còn: biểu ngữ cổ súy Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á, phòng tuyến cứ điểm đóng tại giao lộ, trại tập trung sừng sững u ám, kiều dân Nhật chưa kịp di tản, không còn dám ngang ngược hống hách mà trốn chui trốn lủi, chỉ sợ bị người Trung Quốc trả thù.
Tổ Gia lắc đầu thở dài, ông bỗng nhớ đến Tây Điền Mỹ Tử, nhớ đến câu nói của bà ta trước khi chết: chiến tranh không chỉ làm hại đối phương, mà còn hại cả bản thân mình.
Lúc này ở một góc tường cách đó không xa, một thanh niên khoảng 16-17 tuổi lặng lẽ nhìn Tổ Gia, rồi lén đi theo sau.
Lục Bá đầu và Nhị Bá đầu đi ngay sau Tổ Gia nhưng không để ý thấy, Tổ Gia không chú ý, các bá đầu cũng vậy. Mọi người đều nghĩ rằng người Nhật đầu hàng rồi, hội đạo môn Hán gian ở Giang Hoài cũng tan rã theo thì không còn kẻ địch nữa, do đó đều lơ là cảnh giác, thong thả dạo bước.
Tên đó quan sát một hồi, chầm chậm tiến lại gần, vừa đi vừa móc trong người ra một cái bát, bước đến trước mặt Tổ Gia, nói: “Xin ông bố thí cho vài đồng...”
Tổ Gia mỉm cười, đang cúi đầu lần tìm tiền trong áo thì đột nhiên hắn vung ra một con dao nhọn, nhằm Tổ Gia đâm tới, Tổ Gia đưa tay ra đỡ theo bản năng. Cánh tay bị trúng một dao, máu tuôn xối xả, nhuộm đỏ cả áo. Lục Bá đầu và Nhị Bá đầu thấy vậy lập tức lao lên, trong nháy mắt vật hắn ngã lăn ra đất.
“Chớ giết hắn!” Tổ Gia nhìn xung quanh, thấp giọng nói, “Giải về Đường khẩu tra hỏi!”
Tại Đường khẩu, quản gia băng bó vết thương cho Tổ Gia, ông ngồi trên ghế quan sát kỹ hắn ta, gương mặt này dường như ông đã gặp ở đâu rồi, nhưng nghĩ mãi không ra.
“Chúng ta có quen biết không?” ông hỏi.
“Tôi nhận ra ông!” hắn cao giọng nói.
“Chúng ta có thù oán gì sao?” Tổ Gia ngạc nhiên.
“Thù giết cha, thề không đội trời chung!” hắn gào lên.
“Giết cha?” Tổ Gia sững người, “Dám hỏi lệnh tôn là?”
“Cha ta là Mai Huyền Tử, mẹ ta là Cái Hà!”
“Hả?” Tổ Gia giật mình kinh ngạc, quan sát kỹ hắn một lần nữa, chả trách gương mặt rất quen.
Năm 1934, Mai Huyền Tử mời Tổ Gia đến nhà hàng phương Tây bàn chuyện hợp tác, khi đó đã để con trai làm tin ở Đường khẩu, lúc đó cậu bé mới 5 tuổi.
“Mau cởi trói, nó là cháu ta!” Tổ Gia nhớ đến người anh em kết nghĩa Mai Huyền Tử của mình, bèn gọi hắn là cháu.
Đại Bá đầu đứng ngây ra, Tổ Gia nhắc lại: “Còn không mau cởi trói?”
“Ai là cháu của ông? Ông đã hại chết cha tôi!” Cậu ta cũng không hiểu ra sao.
Tổ Gia không hiểu tại sao cậu ta lại nói như vậy, nhưng vẫn bảo Đại Bá đầu cởi trói, rồi nói: “Ta với cha cháu kết nghĩa anh em, chúng ta cùng lên đảo lập bẫy người Nhật, cha cháu không may gặp nạn, ta rất đau lòng!”
“Hừm, giả mèo khóc chuột! Chính lần đó các ông đã hại chết cha tôi!”
“Kìa, cớ sao cháu lại nói vậy?” Tổ Gia sốt ruột hỏi.
“Vậy tại sao ông và các anh em của ông đều không chết, chỉ có mỗi mình cha tôi chết? Hơn nữa không thấy cả xác!”
Tổ Gia ngẩn người: “Ta với lệnh tôn kết nghĩa anh em, việc này có mẹ cháu làm chứng, chúng ta cùng lên đảo lập bẫy, cha cháu chết bởi trúng đạn pháo của người Nhật, ta rất đau lòng... ”
“Ông là đồ lừa đảo! Vẫn còn mặt mũi nhắc đến mẹ tôi sao? Họ mắc lừa ông nên mới cùng ông lên đảo, cuối cùng người thì chết, người bị quân Nhật bắt đi, nhẫn nhục sống qua ngày...”
“Lệnh đường vẫn còn sống?” Tổ Gia vội hỏi.
“Thì ra ông mong cả nhà tôi chết hết! Bởi Mai Hoa Hội đe dọa đến phái Giang Tướng các ông phải không, ông phải truy cùng diệt tận phải không?”
Tổ Gia không nhịn được nữa, bước tới túm cổ áo định cho cậu ta một cái bạt tai. Ông giơ tay lên, nhưng lại từ từ hạ xuống, mặt mũi tên nhóc này thật giống Mai Huyền Tử, ông không nhẫn tâm.
“Lệnh đường làm...” Tổ Gia hỏi.
“Ông định hỏi mẹ tôi làm sao mà thoát chết được phải không? Đương nhiên là nhờ cha tôi! Người Nhật thấy cha tôi chết rồi mới tin là ông ấy không cùng một hội với phái Giang Tướng! Mẹ tôi nói hôm đó tất cả các ông lên thuyền chạy thoát, bỏ lại họ. Đối xử chân thành gì chứ, sống chết có nhau gì chứ, đều là giả dối!”
“Hóa ra là như vậy...” Tổ Gia gật đầu, “thế này đi, hãy dẫn ta đi gặp mẹ cháu, ta sẽ nói rõ việc này!”
“Ha ha ha ha!” Cậu thanh niên cười u uất, “Ông coi tôi là thằng ngu sao? Đến mẹ tôi ông cũng đòi giết sao? Hôm nay rơi vào tay ông rồi, muốn chém muốn giết, tùy ông! Tôi mà chớp mắt thì không phải là Mai Lập Nhân!”
Tổ Gia cũng mỉm cười: “Có khí phách! Thì ra tên của cháu là Mai Lập Nhân, lập theo nhân, mà hành theo đạo, tên rất hay! Ha ha!”
“Mẹ kiếp nhà ông đừng có làm trò nữa!”
Đại Bá đầu và Nhị Bá đầu đứng bên cạnh thấy chối tai, định xông lên vả mấy cái vào miệng cậu ta, nhưng bị Tổ Gia ngăn lại.
“Này cháu, xem ra chúng ta có sự hiểu lầm không nhỏ đâu. Như vậy đi, cháu thông minh như vậy, hãy thử nghĩ xem nếu ta muốn hại cả nhà cháu, giờ còn ngồi đây phí lời với cháu sao? Làm gì có ai đối tốt với kẻ thù như vậy?” Tổ Gia nói.
“Ông muốn moi tung tích của mẹ tôi, sau đó ra tay một thể.” Mai Lập Nhân cười khẩy.
“Ừ, có lý. Nếu ta là cháu, ta cũng nghĩ như vậy. Thôi thế này, ta cho cháu một khẩu súng, cháu cầm lấy gí sau lưng ta, rồi chúng ta cùng đi gặp mẹ cháu, đến lúc đó nếu không giải được sự hiểu lầm, cháu bắn hãy bắn chết ta, thế nào?”
“Ông dám không?” Mai Lập Nhân nghe vậy, lập tức trở nên hăng hái.
“Đương nhiên rồi!” Tổ Gia đáp.
“Tổ Gia, tuyệt đối không được! Tên nhóc này bụng dạ nham hiểm...”, các bá đầu nhất tề khuyên can.
Tổ Gia xua tay, đoạn rút ra một khẩu súng lục, tháo ổ xoay, dốc hết đạn ra ngoài rồi nói với Mai Lập Nhân: “Để chứng minh thành ý của ta, cháu xem nhé,” sau đó lắp từng viên đạn vào ổ trước mặt Mai Lập Nhân, “đây là sáu viên đạn, đã đầy ổ. Chỉ cần cháu bóp cò là ta sẽ chết chắc, yên tâm rồi chứ?”
Nói xong, ông đưa súng cho Mai Lập Nhân.
“Tổ Gia!” các bá đầu đầu thanh hô lên.
Tổ Gia xua tay ra hiệu cho bọn họ bình tĩnh: “Ta tin cháu giống như cha mình, nói là giữ lời, quang minh lỗi lạc!”
Mai Lập Nhân nhận lấy súng, tư lự một lát, nói: “Được thôi, cứ quyết định như vậy đi.”
Hai người rẽ qua mấy con hẻm, đi một đoạn khá xa mới đến nơi ở của Cái Hà. Tổ Gia thoạt nhìn là biết đây là khu quân Nhật từng chiếm đóng.
“Mẹ ơi...” Mai Lập Nhân gõ cửa.
Một phụ nữ bước ra, thấy Tổ Gia liền kêu lên một tiếng hoảng hốt: “Ôi!”
“Phu nhân đừng sợ!” Tổ Gia nhìn Cái Hà gương mặt khắc khổ, trong lòng vô cùng hổ thẹn, “Tôi đến đây là muốn kể rõ mọi chuyện với phu nhân!”
Mai Lập Nhân khua khua khẩu súng trong tay: “Mẹ! Ông ta chạy không thoát đâu, đừng sợ!”
Cái Hà nhìn xung quanh: “Vào nhà rồi nói!”
“Phu nhân, bà trách oan tôi rồi!” Sau khi bước vào, Tổ Gia thấy di ảnh của Mai Huyền Tử, liền lật đật thắp một nén nhang.
“Trách oan? Hừm,” Cái Hà cười nhạt, “Tổ Gia thật thông minh, dẫn chúng tôi lên đảo phối hợp lập bẫy, cuối cùng ông chạy thoát, chồng tôi thì bỏ mạng, Bùi Cảnh Long cũng chung số phận. Ba nhà lập bẫy, hai nhà chết, duy mình ông thoát được, tôi còn trách oan ông sao?”
“Phu nhân, khi đó tình hình cấp bách, sống hay chết không ai biết được. Tôi và các anh em mỗi người một ngả, phu nhân hãy nghe tôi...” Tổ Gia lần lượt kể lại quá trình thoát hiểm của các bá đầu.
“Tổ Gia miệng lưỡi giảo biện, tôi nghe chỉ biết vậy thôi.” Cái Hà vẫn nhất mực không tin.
Tổ Gia nghĩ một lát rồi thở dài: “Mai sư phụ khi đó trúng phải đạn pháo, chắc phu nhân cho rằng thi thể rơi xuống biển không thể tìm lại được. Nhưng phu nhân biết không, hôm đó khi chạy thoát tôi có ôm theo thi thể của Mai sư phụ, rồi cho an táng tại Thiệu Hưng, nếu tôi muốn hại mọi người, trong lúc nguy cấp như vậy sao vẫn nhớ đến thi thể Mai sư phụ? Phu nhân thử nghĩ xem, tôi và Mai sư phụ là anh em kết nghĩa mà!”
Nghe đến đây, Cái Hà ngây người ra, bao nhiêu năm nay bà luôn cho rằng Mai Huyền Tử trúng phải đạn pháo, đã làm mồi cho cá rồi: “Những lời này là thật sao?”
“Phu nhân có thể cùng tôi đến Thiệu Hưng một chuyến!”
“Đợi đã!” Mai Lập Nhân nói, “Làm sao tôi biết ông sẽ không làm cái mộ giả lừa chúng tôi?”
Tổ Gia nhìn cậu ta nói: “Cháu nói rất có lý. Khi đó tình hình nguy cấp, sau khi an táng Mai sư phụ, ta cũng muốn lập bia viết tên, nhưng xét thấy không an toàn, sợ lộ thân phận của Mai sư phụ...”
“Mẹ xem, mẹ xem, có đúng không? Ông ta định dùng một ngôi mộ giả để lừa chúng ta!” Mai Lập Nhân nói.
Tổ Gia nhìn cậu ta, nói: “Nhưng ta cũng lo ngày sau khó tìm ra được, bèn đào một cái hố trước mộ phần rồi chôn một viên đá đen để đánh dấu! trên đó có khắc bút tích của ta - Kim tiền lục ngạc thụ, hương tự khổ hàn lai! Kim tiền lục ngạc là loài hoa mai đẹp nhất, tôi ngưỡng mộ Mai sư phụ khí tiết kiên trinh, giống như loài hoa mai không sợ khổ cực giá rét, là bậc chính nhân quân tử!”
“Những lời này là thật sao?” giọng Cái Hà bắt đầu lạc đi.
“Nếu có nửa câu giả dối, trời tru đất diệt!”
Ngay sau đó, Cái Hà, Mai Lập Nhân và Tổ Gia cùng đến Thiệu Hưng. Thật may bom đạn của quân Nhật chưa xới tung nơi này. Mười năm sương gió, phần mộ Mai Huyền Tử đã gần như bằng phẳng. Tổ Gia đào lớp đất trước mộ, một viên đá đen lộ ra, ông chầm chậm cầm lên, lau sạch đất rồi giơ lên nói: “Phu nhân, cháu à, hãy xem này!”
Cái Hà đón lấy, bút tích trên viên đá đúng với miêu tả của Tổ Gia.
“Phu quân’...” Cái Hà thốt lên một tiếng thảm thiết, quỳ sụp xuống trước mộ.
“Cha!” Mai Lập Nhân cũng quỳ xuống, nước mắt lã chã rơi.
Tổ Gia cũng không cầm được nước mắt, những hình ảnh năm xưa chợt ùa về vần vũ trong tâm trí ông.
Gạt nước mắt, Tổ Gia bố trí Đại Bá đầu, Nhị Bá đầu lập bia cho Mai Huyền Tử, ông đích thân đề chữ khắc tên người em kết nghĩa của mình lên bia.
Mọi việc xong xuôi, Cái Hà nói với Tổ Gia: “Mai Hoa Hội không còn, nhưng đạo quán vẫn giữ được, tôi muốn xuất gia hành thiện tại nơi phu quân khi sinh thời, sống nốt những năm tháng cuối đời.”
Tổ Gia gật đầu: “Nếu có khó khăn gì, hãy đến tìm tôi bất cứ lúc nào.”
Cái Hà nói với Tổ Gia: “Con tôi tuổi trẻ nông nổi, nhưng thiện căn chưa mất, hy vọng Tổ Gia dạy dỗ nhiều hơn.”
Tổ Gia gật gật đầu: “Xin phu nhân yên tâm, tôi coi cháu như con, nhất định không để nó đi vào con đường xấu!”
Sau khi Cái Hà đi rồi, Mai Lập Nhân chính thức xin gia nhập phái Giang Tướng.
Tổ Gia thở dài một tiếng: “Cháu làm gì cũng được, ta đều ủng hộ, duy việc gia nhập phái Giang Tướng thì không!”
“Tại sao ạ? chẳng phải thay trời hành đạo sao?”
Tổ Gia cười đau khổ: “Khi bằng tuổi cháu, ta cũng nghĩ như vậy. Nhưng nay chiến tranh kết thúc rồi, số cháu may mắn hơn ta, hãy cố chăm chỉ học hành! Muốn học trường nào? Ta sẽ cho cháu học.”
“Nhưng cháu học rất kém...”
“Vậy càng phải cố gắng lên, người xưa có câu ‘Đại khí vãn thành’*! Cha cháu tận trung vì nước, tất sẽ thành tựu thiện quả, để lại cho con cháu đời sau.”
“Vâng.”
Tổ Gia nhìn dáng vẻ gầy gò của Mai Lập Nhân, bỗng nảy ra một ý tưởng mới mẻ: “Cháu có muốn ra nước ngoài không?”
“Ra nước ngoài? Để làm gì ạ?” Mai Lập Nhân chưa từng nghĩ đến việc này.
“Nghe ta hỏi đây, vì sao Nhật Bản dám xâm lược Trung Quốc? Vì họ tiên tiến hơn ta, vũ khí mạnh hơn ta, như hai nhà sống bên cạnh nhau, nhà khá giả tất xem thường nhà kia nghèo hơn. Lạc hậu tất bị đánh bại. Cháu xem bến Thượng Hải này nơi nào sầm uất nhất? Chính là khu Thập Lý! Vì đó là công trình do người phương Tây xây dựng, những thứ như ngân hàng, chứng khoán đều là người nước ngoài mang đến! Hay những thứ hay ho như máy hát, máy quay đĩa, máy chiếu phim cũng đều là phát minh của họ, do đó cháu cần phải học hỏi những thứ đó, học được rồi trở về Trung Quốc, chế tạo cho dân mình chẳng phải rất tốt sao?” Tổ Gia nói.
“Vâng! Bác nói như vậy cháu thấy rất hay! Cháu rất thích máy quay đĩa, máy ảnh! Đến ngủ cháu cũng mơ mình có một chiếc máy ảnh! Trước đây làm việc ở hiệu ảnh, ông chủ không cho đụng vào!” Mai Lập Nhân phấn khích nói.
“Vì vậy, cháu phải đi học, học xong rồi quay về mở một hiệu ảnh, đến lúc đó chụp ảnh cho ta.”
“Quyết như thế nhé!” Mai Lập Nhân hân hoan. “Chắc chắn rồi!” Tổ Gia mỉm cười.
“Bác à, cháu đi nước nào vậy?” Mai Lập Nhân buột miệng hỏi.
“Nam Dương, Anh, Mỹ, tùy cháu chọn, ta sẽ nghĩ cách đưa cháu đi!”
Mai Lập Nhân suy nghĩ một lát, nói: “Vậy đi Mỹ nhé! Cháu nghe nói nước Mỹ có bom nguyên tử gì đó, cháu sang học món đó, trở về chế tạo mấy quả, để phòng ngày sau người Nhật lại sang xâm lược!”
“Ha ha ha ha’”, Tổ Gia cười lớn, “Tốt, tốt!”
Một tháng sau, vào một buổi tối, Tổ Gia viết một phong thư đưa cho Mai Lập Nhân, nói: “Ngày mai ta mua vé máy bay cho cháu, sang đến đó rồi, tất sẽ có người đón cháu, đến lúc đó hãy đưa bức thư này cho họ, họ sẽ sắp xếp việc ăn ở học hành cho cháu.”
“Bác à, cháu sẽ về thăm bác và mẹ...” Mai Lập Nhân nhận lấy bức thư, hai mắt bỗng đỏ hoe.
“Nam nhi chí tại bốn phương, không được khóc, phải giống như cha cháu, dám nghĩ dám làm, hơn nữa phải có tấm lòng lương thiện, không được làm mất mặt người Trung Quốc.”
“Cháu nhớ rồi.”
Sau khi Mai Lập Nhân đi rồi, mấy tháng sau, Tổ Gia nhận được thư của cậu bé. Đọc xong ông không khỏi bùi ngùi xúc động.
Thưa mẹ, thưa bác:
Đầu thư con chúc mẹ và bác mạnh khỏe. Sau khi con đến Mỹ, dì Liễu Liễu ra đón con. Con cảm thấy nước Mỹ rất tốt, hai người sẽ không thể tưởng tượng được ở đây phát triển đến mức nào đâu, hệ thống công nghiệp và giáo dục vô cùng tiên tiến! Người Mỹ ăn một loại bánh kẹp thịt gọi là hamburger được làm từ thịt bò băm viên và hành tây, con còn được uống thứ nước gọi là Coca cola, loại đồ uống khi xưa ở Thượng Hải chỉ có những người giàu được uống.
Bên này cũng có một khu tập trung rất nhiều người Hoa sinh sống, con không biết tiếng Anh nên thường chỉ giao lưu qua lại với người Hoa. Dì Liễu Liễu bảo con, nếu muốn hòa nhập ở nước Mỹ, muốn học thật nhiều kiến thức thì nhất định phải học tốt tiếng Anh. Thế là con bắt đầu học tiếng Anh, dì Liễu Liễu rất giỏi, nói tiếng Anh lưu loát, lần nào cũng bắt con dùng tiếng Anh nói chuyện với dì.
Dì Liễu Liễu chọn cho con một trường chuyên đào tạo về nghệ thuật nhiếp ảnh, thầy giáo chúng con chính là một phóng viên từng chụp rất nhiều bức ảnh vạch trần tội ác của người Nhật trong thời kỳ chiếm đóng ở Trung Quốc, nghe nói ông ấy còn giành được giải Pulitzer.*
Mẹ và bác à, cuối cùng con đã có được chiếc máy ảnh cho riêng mình, là dì Liễu Liễu mua cho con, nhưng con nghĩ rồi, sau này kiếm được tiền, con nhất định sẽ trả lại cho dì ấy. Ở Mỹ, mọi người rất coi trọng cam kết, con và dì Liễu Liễu đã thỏa thuận rằng, dì cho con mượn tiền, sau này con nhất định phải trả, nếu không từ sau con sẽ không nhận sự giúp đỡ của dì ấy nữa. Dì đã đồng ý với yêu cầu đó của con.
Mẹ, bác, hai người biết không? Cuộc sống ở Mỹ tốt bao nhiêu, con càng nhớ hai người bấy nhiêu, trước đây ở trong nước, con chưa từng có khái niệm về quốc gia, cũng như ý thức về lòng yêu nước, nhưng giờ đã cảm nhận được rồi. Con không ngại hai người chê cười, con thực sự rất muốn học tốt để trở về thay đổi diện mạo quê hương bằng chính năng lực của mình, con muốn ngày càng nhiều đứa trẻ biết rằng ngoài chiến tranh và nghèo đói ra, thế giới này còn cả sự tốt đẹp và giàu mạnh, con muốn tất cả mọi người đều được ăn hamburger và uống Coca cola.
Mẹ, bác, con xin dừng bút tại đây, đã đến giờ con và dì Liễu Liễu luyện tiếng Anh rồi. Cuối cùng, con xin dùng tiếng Anh nói một câu: Mẹ, bác, I love you!
Mẹ và bác hãy giữ gìn sức khỏe, con sẽ về thăm hai người.
Ồ, còn nữa, dì Liễu Liễu nhờ con chuyển lời hỏi thăm đến bác. Dì nhờ con nói với bác rằng dì đã sinh được hai bé gái, đứa lớn tên là Hồ Ái Trung, đứa bé là Hồ Ái Hoa. Ngoài giờ lên lớp ở trường, hằng ngày dì còn đích thân dạy hai cô bé hai môn nữa là Đệ tử quy và Liễu Phàm tứ huấn.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946
Lập Nhân
Thấy trong thư nói đến Đệ tử quy Liễu Phàm tứ huấn, Tổ Gia biết Hoàng Pháp Dung đã thực sự tỉnh ngộ. Mắt ông nhòe đi, miệng nở một nụ cười thanh thản.
LUẬN ĐẠO CỦA HAI VỊ THẦY TƯỚNG SỐ DÂN QUỐC
Tổ Gia chuyển thư cho Cái Hà ở Mai Hoa đạo quán, cầm bức thư trên tay, bà không cầm được nước mắt. Hai người đến trước mộ đọc thư cho Mai Huyền Tử nghe, sau đó hóa bức thư ngay trước mộ. Tổ Gia bùi ngùi nói: “Mai hiền đệ à, cháu trai là người khiêm tốn ham học, ngày sau tất sẽ nên người, ông có thể yên lòng rồi.”
Đến đêm khi trở về Đường khẩu, Tổ Gia trăm mối tâm tư. Bến Thượng Hải giờ đã náo nhiệt như xưa, dấu tích tô giới gần trăm năm cũng không còn nữa, khắp Thượng Hải đâu đâu cũng đều là ảnh Tưởng Giới Thạch, tiếng ca tụng công đức vang khắp hang cùng ngõ hẻm. Đồng cốt được dịp thi nhau nổi lên, rút quẻ xem tướng nô nức mở hiệu, dân chúng sống sót sau cơn đại nạn bắt đầu đổ lên chùa miếu, đạo quán lễ tạ.
Mộc Tử Liên tái xuất giang hồ, xuất hiện trên trang nhất các báo với mỹ danh “đại sư yêu nước”, nào là “Thiết Bản tiên sinh đã trở lại”, nào là “Nam Viên bắc Vi đông Nhạc Ngô, tam tiên quy lai vấn Tổ Gia”. Năm đó Viên Thụ San 65 tuổi, Vi Thiên Lý 35 tuổi, Từ Nhạc Ngô 60 tuổi, Tổ Gia 44 tuổi. Đó là những bậc thầy tướng số nổi danh khắp cả nước, từ góc độ tướng số mỗi vị đều tổng kết, quy nạp nên “luận đạo nhân sinh” của riêng mình.
Tổ Gia rất muốn được nghe lý luận về tướng số của ba người họ, bao nhiêu năm qua, ông luôn muốn đến bái kiến ba vị cao nhân này. Nhưng cũng vì bận chỉnh đốn Đường khẩu, lại tự thấy mình bản lĩnh chưa đủ, không dám tùy tiện hành sự, sau lại mải mê đấu trí với hội đạo môn và người Nhật, lang bạt khắp nơi nên chưa có được cơ hội. Nay ông nghiễm nhiên trở thành bậc đại sư được mọi người công nhận, hơn nữa còn là đại sư yêu nước, bất luận là thân phận hay bản lĩnh, ông đều đã đủ tư cách.
Đầu tiên, Tổ Gia đến bái kiến Viên Thụ San, vị lão tiền bối đã 65 tuổi.
Viên Thụ San bản tính rất lương thiện, có hai người ông ta khâm phục nhất trong đời: một là Phục Hy, tức người sáng tạo ra Tiên thiên bát quái; một là Võ Huấn, người đi tiên phong trong việc lập trường tư, được gọi là nhà giáo của dân nghèo. Viên Thụ San không coi trọng tiền bạc, có tiền ông đều đem đi làm từ thiện. Tại quê nhà, ông lập một trường tiểu học, không những không thu học phí mà còn phát sách vở bút mực miễn phí cho học sinh nghèo. Trong thời kỳ kháng chiến, do quê nhà bị chiến tranh tàn phá, ông bất đắc dĩ phải bỏ dạy học, chạy đến tô giới Anh ở Thượng Hải lánh nạn. Dân Thượng Hải nghe tin đại sư tướng số đến, lũ lượt kéo đến xem quẻ.
Sau do người đến xem tướng số quá đông, Viên Thụ San buộc phải cho mọi người xếp hàng chờ đợi, đồng thời yêu cầu người đến xem phải điền thông tin bát tự ngày giờ sinh vào phiếu trước rồi mới chuyển lên, sau khi xem xét xong xuôi, người đó mới được vào nghe ông luận giải.
Cửa hiệu tướng số của ông trở nên nổi tiếng, khiến đám lưu manh quanh vùng nóng mặt. Thế là cửa hiệu thường xuyên bị đám lưu manh côn đồ đến uy hiếp: “Ông kiếm được nhiều như vậy, phải nôn ra vài đồng chứ, bằng không bọn ta sẽ đập nát quán của ông!”
Viên Thụ San không chút sợ hãi, nói: “Tốt thôi! Đập hết đi! Ta cũng đâu muốn bói toán!”
Đám lưu manh chưng hửng, nhưng ngay sau đó chúng lại nghĩ ra một cách tiểu nhân: ăn vạ trước cửa hiệu. Thấy có người xem tướng xong đi ra, chúng liền sán lại hỏi: “Xem bói thế nào?”
Thông thường mọi người đều nói: Ừm, bói rất chuẩn.”
Chúng bèn nói: “Vậy ông ta không bói được hôm nay anh có họa đổ máu sao?”
“Thế là ý gì?”
“Tao đánh đồ chó chết nhà mày! Ai bảo mày đến biếu tiền cho lão ta!” Nói rồi, chúng xúm vào đánh người ta mặt mũi bầm đập.
Thấy tình hình như vậy, Viên Thụ San chịu không nổi, phải làm thế nào đây?
Lúc này, một trong ba tay anh chị ở Thượng Hải là Hoàng Kim Vinh cũng nghe tin Viên Thụ San chuyển đến sống tại Thượng Hải, bèn tìm đến thỉnh giáo. Viên Thụ San giúp Hoàng Kim Vinh bói bát tự vô cùng chính xác, Hoàng Kim Vinh nghe xong thốt lên: “Tiên sinh bác thông Dịch lý, khâm phục, khâm phục!”
Nói rồi định móc tiền ra.
Viên Thụ San nói: “Tiền không cần trả đâu, tại hạ có việc thỉnh cầu...”
“Tiên sinh cứ nói!”
Viên Thụ San đem việc đau đầu gần đây kể với Hoàng Kim Vinh.
Hoàng Kim Vinh nghe xong, nổi giận đùng đùng: “Có còn phép tắc gì nữa không?”
Trở về bang hội, Hoàng Kim Vinh đích thân làm một bức tranh cuộn “Anh hùng độc lập”, rồi sai thuộc hạ lái xe jeep chở đội nhạc, dọc đường kèn trống rộn ràng, đem tặng Viên Thụ San.
Đám lưu manh thấy vậy sợ vãi cả ra quần, lão thầy tướng số này là anh em với thủ lĩnh Thanh bang, hỏng rồi, lần này chẳng những nuốt không trôi mà còn rước thêm vạ! Thế là lũ lượt kéo đến hiệu tướng số của Viên Thụ San xin tha mạng.
Viên Thụ San rất khéo léo, không những không trách tội mà còn mỉm cười nói: “Các anh em đều là lục lâm hảo hán, chỉ là cướp nhầm chỗ mà thôi. Tiền chỗ ta kiếm được đều đã dùng cả, một phần dành cho kháng chiến, một phần để xây dựng trường học, nên mong các vị anh hùng giơ cao đánh khẽ.” Nói rồi, lấy ra một ít tiền, nói: “Nhiều thì không có, mỗi vị xin cầm tạm hai đồng, coi như chút tiền rượu!” Đám lưu manh nhận tiền, lần lượt cảm tạ rồi lễ phép rút lui.
Việc này truyền khắp Thượng Hải, ngay cả Hoàng Kim Vinh cũng thán phục Viên Thụ San khéo léo xử trí.
Tổ Gia rời Thượng Hải bao năm, khi trở lại cũng nghe nói về việc này, ông càng khâm phục lão tiền bối hơn. Duy có điều khiến ông lo lắng là bản thân năm xưa đã dùng mánh khóe trên mặt báo, hùng hồn tuyên bố “Nam Viên bắc Vi đông Nhạc Ngô, tam tiên quy lai vấn Tổ Gia”, không biết Viên lão tiên sinh có để bụng không.
Tổ Gia tìm đến nhà Viên Thụ San, gõ cửa một hồi thì một cô gái bước ra: “Ông tìm ai?”
“Tôi tìm Viên lão tiên sinh.”
“Sư phụ tôi đã không còn xem tướng số nữa.”
“Ồ, tôi không đến xem tướng, phiền cô vào báo rằng có Thiết Bản tiên sinh xin cầu kiến.”
“Ông đợi một chút.” Cô gái nói xong liền quay vào.
Một lát sau, cô gái trở ra: “Mời tiên sinh vào.”
Tổ Gia trong lòng bớt thấp thỏm, vội theo cô gái bước vào nhà.
“Xin chào Viên lão tiên sinh, vãn bối xin có lễ.” Tổ Gia bước vào, cung kính thi lễ với Viên Thụ San.
Viên Thụ San cười hiền từ: “Tổ Gia chính là nhân tài ở đất Giang Hoài, Dịch lý tinh thâm, ái quốc cao thượng, không như lão hủ ta chỉ biết trốn trong tô giới, ép dạ cầu toàn.”
“Lão tiên sinh quá khen rồi, vãn bối thực không dám nhận. Nghe đại danh lão tiên sinh đã lâu, luôn muốn đến thăm, tiếc rằng bị cuốn vào chiến sự, tẩu bắc bôn nam, mới vừa trở về, hôm nay xin đến bái yết.”
“Đại danh của Tổ Gia, lão hủ từ lâu đã nghe như sấm rền bên tai, Thiết Bản Thần Số tự lập trường phái riêng, tay cầm bàn tính là có thể đoán số, 52 vạn bát tự, ngón tay lướt một cái, tức thì bói ra...”
Tổ Gia đỏ mặt, vội nói: “Đều là hư danh, hư danh mà thôi, trước đây... trước đây vãn bối tuổi trẻ bồng bột, lại thêm mới lập Đường khẩu, do đó có hư trương thanh thế trên mặt báo, nếu có chỗ mạo phạm lão tiền bối, kính mong...”
Tổ Gia chưa nói hết câu, Viên Thụ San tươi cười nói: “Tổ Gia lo xa rồi, ha ha! Trường Giang sóng sau xô sóng trước. Một người học Dịch nếu không có tấm lòng rộng mở, sao có thể đạt đến trình độ quán thông âm dương vạn vật đây? Ta là như vậy, sau này Tổ Gia cũng phải như vậy, có người sau xuất hiện thì chớ nên đố kỵ, càng không nên đả kích, phải bảo vệ, bồi dưỡng, như vậy tài năng Dịch học mới đời đời lưu truyền!”
Tổ Gia nghe xong, trong lòng vô cùng khâm phục: “Lão tiên sinh quả là đức nghệ song hinh!”
“Tổ Gia ghé thăm hàn xá, có điều gì chỉ giáo?” Viên Thụ San đổi đề tài.
“Không dám, không dám, kỳ thực vãn bối lần này đến đây là muốn hỏi một câu, xin lão tiên sinh chỉ bảo...”
“Xin mời.”
“Tiên sinh nghiên cứu mệnh lý bao năm như vậy, cảm ngộ lớn nhất là gì?” Tổ Gia hỏi.
“Cảm ngộ lớn nhất của ta là: âm dương có định số, nhân sinh lại vô thường.”
“Xin lão tiên sinh chỉ giáo thêm.” Tổ Gia khiêm cung nói.
Viên Thụ San gật đầu, nói: “Bản thân Tổ Gia cũng là đại sư mệnh lý, tất biết sự tinh diệu của Kinh Dịch, vạn sự vạn vật đều trong âm dương ngũ hành, nắm được nguyên lý ngũ hành thì có thể hiểu rõ quỹ đạo nhân sinh. Bất luận là bát tự, lục hào, kỳ môn hay lục nhâm, tuy khác đường nhưng chung một đích đến, đạo lý đều như vậy, dùng những phương pháp khác nhau xem tướng cho một người thì kết quả đưa ra phải là như nhau, nếu không há chẳng phải một người có hai hay nhiều mệnh ư? Con người sinh ra đã có khí ngũ hành, ngũ hành có quy luật, nhân sinh tất nhiên có quy luật, đây chính là nói âm dương có định số, cũng là gốc rễ và giá trị sinh ra của Kinh Dịch. Nhưng phải chăng có định số này rồi, vận mệnh con người là nhất thành bất biến? Đáp án là không phải vậy. Ta và Tổ Gia đều xem tướng số mấy chục năm rồi, phải chăng thường gặp trường hợp mệnh của một người nếu chiếu theo Kinh Dịch, đến năm này tất có đại họa, nhưng cuối cùng anh ta vẫn bình an vô sự? Hay có trường hợp bói vào tháng này năm này sẽ phát tài, nhưng người đó lại chẳng hề phát tài, hoặc chỉ có được một món nho nhỏ?”
Tổ Gia gật đầu: “Quả vậy, bất kỳ thầy tướng số nào cũng gặp phải trường hợp như vậy.”
“Vậy Tổ Gia tổng kết được quy luật tương quan trong đó chưa, vì sao xuất hiện trường hợp như vậy?” Viên Thụ San hỏi lại.
Tổ Gia cung kính gật đầu: “Vãn bối đã có tổng kết. Phàm là quỹ đạo vận mệnh có sự thay đổi, không nằm ngoài hai loại người, một là người đại thiện, hai là kẻ đại ác. Người lương thiện gặp hung cũng có thể hóa cát, gặp nạn có thể hóa lành; ngược lại kẻ đại ác, dù trong mệnh có tài có phúc, cũng sẽ dần tiêu tan theo nghiệp ác của mình, cuối cùng chẳng còn gì cả!”
“Ha ha,” Viên Thụ San cười hiền từ, “Tổ Gia đã thấu hiểu huyền cơ của nhân sinh, sao còn đến hỏi ta làm gì?”
“Đây có phải là nguyên nhân lão tiên sinh không còn màng đến xem tướng số?” Tổ Gia hỏi.
“Là bởi một nguyên nhân. Bản thân ta đã tạo cái nhân này, nhất thời chưa thể giải thoát được. Ngày nào cũng có người đến gõ cửa, ta bảo đồ đệ ra ngăn lại, nếu không ngăn được thì cũng đành phải đón tiếp. Tổ Gia, hành nghề này chúng ta đều hiểu rằng, người đến xem tướng số gồm có ba loại: một là bị kích động mạnh, hai là ham danh hám lợi, ba là gặp bước đường cùng. Do đó, bất luận thế nào cũng phải đả thông cho họ, với người trầm luân, phải khiến anh ta lấy lại dũng khí; với kẻ cuồng vọng, phải cho họ hiểu được thu liễm.”
“Lão tiên sinh dạy rất phải.” Tổ Gia gật đầu, trong lòng vô cùng tâm đắc.
Viên Thụ San ngước nhìn ra ngoài cửa sổ, cảm khái dâng trào: “Tướng số ấy à, dù anh giỏi đến mấy cũng vẫn có chỗ không thể bói được, đây gọi là nhân tính không bằng trời tính. Giống như đời người, dù anh mưu tính thế nào, vẫn luôn có điểm anh không thể ngờ đến, đây gọi là ý trời. Do đó, thế gian không phân người thông minh hay kẻ ngu đần, chỉ có phân thiện và ác, người càng thông minh càng tính toán nhiều, tất có lúc sa cơ lỡ bước, đó là không thể qua được mắt trời, ý trời là không thể làm trái.”
Cuối cùng Viên Thụ San nói một câu, trên đường về Tổ Gia nghiền ngẫm thật kỹ, song ông không biết đó là lời khuyên răn hay lời tiên tri: “Bang phái càng lớn, tạo nghiệp càng nặng, không thể khác được, là nhân quả vậy.”
Sau đó Tổ Gia không đến thăm hỏi Vi Thiên Lý, cũng không làm phiền Từ Nhạc Ngô. Ông đã tìm được đáp án. Kể từ đó, ông bắt đầu trù tính, bẫy một vụ cuối cùng của đời người.
Năm 1947, Viên Thụ San đăng bài Luận tướng số trên tờ Hộ báo, Tổ Gia đọc xong, cảm xúc dâng trào.
Mệnh, tạo bởi tiên thiên vậy; vận, là đi tám bước vậy. Mệnh, mang khí ngũ hành, tứ trụ là sự diễn toán, nhập đại vận tất âm dương giao hòa, gặp lưu niên thì can chi chuyển hóa, đại vận như nơi mà ta đến, lưu niên như người mà ta gặp, trong ngoài tác động, là phép biện chứng vậy.
Mệnh có thể, mà cũng không thể bói được. Bói được, là bởi suy luận âm dương vậy, không thể bói được là bởi định luật nhân quả vậy. Tướng số không phải là mục đích, mà là phương thức, dùng phép đoán mệnh nhằm đạt mục đích đón cát tránh hung, thuật số thịnh hành, duy có nguyên nhân này mà thôi! Vậy làm thế nào đón cát tránh hung? Mệnh có thể cải không? Hành nghề thuật số hơn 30 năm, thường dùng phong thủy, tên hiệu, bùa chú làm phép đón cát tránh hung cho đời, rốt cuộc kết quả của nó chỉ mang lại hiệu quả rất nhỏ!
Tại sao vậy? Phong thủy không bằng lòng người, thần thông không mạnh hơn nghiệp lực.
Phong thủy, bùa chú là nhân tố bên ngoài, là bổ trợ, là thứ yếu. Cá nhân tu hành là căn bản, là chính yếu, là nhân tố bên trong. Kẻ nhân tính độc ác xấu xa, dù có điều chỉnh thế nào, mệnh cuối cùng vẫn không tốt, như một người bỏ ra mấy trăm lượng bạc đi tìm nơi phong thủy vượng, rốt cuộc chẳng thể có được; mà người tâm tính thiện lương lại không cần nhọc công tốn sức, tự nhiên được sống trong cách cục vượng địa, đây gọi là phúc nhân cư phúc địa, phúc địa cư phúc nhân.
Kinh Dịch là cuốn sách thượng thiện, trong đó bao hàm đạo làm người, thế nhân chỉ cần hiểu đạo lý làm người là có thể đón cát tránh hung, gặp dữ hóa lành, đâu cần phải tìm đến bàng môn tả đạo như phong thủy, bùa chú, đặt tên để đổi mệnh cải vận. Một lòng hướng thiện, núi đao tự tan, mãn tâm thanh tịnh, biển lửa tự tắt!
Người giỏi Kinh Dịch thì không xem bói, ta đến tuổi biết mệnh trời mới hiểu đạo lý này, nay dặn hậu sinh lấy đó làm gương. Duy có điều ước nguyện, sau này các bậc hiền nhân hãy mở mang Dịch lý, bớt sử dụng phương thuật, có như vậy mới không đi ngược ý của thánh nhân.
Viên Thụ San đã nói là làm. Khi về già, con trai ông là Viên Phúc Nho muốn theo cha học nghề tướng số, Viên Thụ San bèn nghiêm nghị nói: “Cha có hai bộ y bát, một là tướng số, một là y học. Sau khi ta chết, con hãy đem bộ tướng số hủy đi, kế thừa nghề y của cha!”
Viên Phúc Nho rất nghe lời cha, từ đó đoạn tuyệt hẳn với mệnh lý, một lòng theo nghề y, sau này sang Nhật du học, tiếp tục học y thuật. Sau nữa lại đến Mỹ định cư rồi mở bệnh viện Đông y, cứu người làm phúc, trở thành bác sĩ nổi tiếng.
Trong bốn vị đại tướng số thời Dân quốc, Vi Thiên Lý về già dùng Kinh Dịch để chơi cổ phiếu, thua lỗ đến mức khuynh gia bại sản, Từ Nhạc Ngô qua đời vì bệnh tim, Tổ Gia sống chết không rõ, duy có Viên Thụ San là rút lui trong vinh quang, bởi ông là người sớm ngộ ra rằng tướng số là tạo nghiệp, do đó kịp thời rửa tay, tiêu nghiệp giải nạn.
ĐỚI LẠP ĐẶT TÊN VÀ CÁI CHẾT CỦA HẮN
Một buổi sáng sớm, Tam Bá đầu đang ngồi xem tướng, bỗng có một người đội mũ mỏ vịt cúi đầu đi lại.
“Tiên sinh muốn xem gì, hôn nhân, tài vận hay quan vận?” Tam Bá đầu ngáp ngắn hỏi.
Người đó vẫn cúi gằm, hạ thấp giọng: “Ta muốn hỏi Tổ Gia nhà anh có khỏe không?
“Hử?” Tam Bá đầu tỉnh cả ngủ, “Ông là...”
Người đó chầm chậm nhấc mũ lên, Tam Bá đầu liền nhận ra ngay, ngạc nhiên nói: “Tăng giáo đầu!”
“Mau theo tôi đến hậu đường!” Tam Bá đầu nhìn ngó đám người náo nhiệt ngoài cửa, thấp giọng nói.
Tại hậu đường, Tổ Gia đang ngồi uống trà.
“Tổ Gia, thầy xem ai đến này?” Tam Bá đầu chưa bước vào cửa đã gọi to.
Tổ Gia nhìn lên, vội đứng bật dây: “Tăng giáo đầu!”
“Tổ Gia!” Tăng Kính Võ vui mừng khôn xiết. Hai người bước tới ôm chầm lấy nhau.
“Lão Tam, ngươi lui ra trước đi.” Tổ Gia dặn dò.
Tam Bá đầu gật đầu đi ra.
“Tăng giáo đầu gần đây thế nào?” Tổ Gia vẫn chưa tin vào mắt mình.
“Đều tốt, đều tốt cả. Tổ Gia trở lại như xưa rồi ư?” Tăng Kính Võ cười nói.
“Quân xâm lược đi rồi, thiên hạ giờ đã thái bình, hơn trăm anh em cũng phải ăn cơm chứ. Ha ha, đúng rồi, Tăng giáo đầu chẳng phải đang ở Thiểm Bắc ư, sao lại về Thượng Hải thế này?”
Tăng Kính Võ nhìn ra ngoài cửa, nghe ngóng động tĩnh: “Tổ Gia không biết đó thôi, hai năm trước tôi đã bí mật về Thượng Hải, ở đây chúng tôi có tổ chức ngầm, trung ương đảng thấy tôi thông thuộc Thượng Hải nên cử tôi trở về!”
“Đảng bí mật?” Tổ Gia khẽ hỏi.
“Ừm,” Tăng Kính Võ gật đầu, “nếu không, chúng ta sao có thể biết được nhiều tin tình báo của quân Nhật như vậy?”
“Ồ,” Tổ Gia gật đầu, “nay quân Nhật đã đầu hàng, Tăng giáo đầu phải đi sao?”
Tăng Kính Võ nhìn Tổ Gia, nói: “Tổ Gia thực sự cho rằng thiên hạ thái bình rồi sao?
“Còn thế nào nữa?” Tổ Gia không hiểu.
“Lại sắp có đánh nhau rồi!” Tăng Kính Võ nói.
“Đánh nhau? Với ai?
“Hai đảng Quốc, Cộng.” Tăng Kính Võ đáp.
“Quốc, Cộng đánh nhau? Chẳng phải cách đây không lâu đã đàm phán ở Trùng Khánh rồi sao, trên báo còn công bố “Hiệp định Song Thập”*, nói rằng hai đảng Quốc, Cộng đi đến thống nhất, hòa bình dựng nước!” Tổ Gia vô cùng ngạc nhiên.
“Hòa bình gì chứ? Tưởng Giới Thạch hoàn toàn không có thành ý đàm phán! Chỉ là muốn kéo dài thời gian, chỉnh đốn quân bị nhằm phát động nội chiến!” Tăng Kính Võ tức giận nói.
“Gì cơ? Vậy cuộc đàm phán Trùng Khánh thì sao?” Tổ Gia hỏi.
“Sau khi Nhật Bản đầu hàng, Tưởng Giới Thạch đánh điện thông báo toàn quốc, tuyệt đối không cho Cộng sản Đảng tiếp quản địa bàn quân Nhật chiếm đóng, cũng như thu gom vật tư chiến lược, vậy là có ý gì? Chiến trường sau lưng địch là do Cộng sản Đảng lập nên, để mở được những căn cứ địa này, chúng tôi đã phải đổ biết bao nhiêu xương máu! Chỉ tính riêng năm 1942, trong một lần càn quét của quân Nhật, chúng tôi tổn thất đến hàng vạn người! Một tấc đất, một tấc máu, nay quân xâm lược đầu hàng rồi, vong linh các chiến hữu tôi vẫn còn đó, không thu lại những địa bàn này sao có thể an ủi họ đây, sao có thể ăn nói với dân chúng ở đó đây? Tưởng Giới Thạch một mặt muốn cướp thành quả thắng lợi kháng Nhật, một mặt bắt chúng tôi không được hành động, vậy có khác gì bảo chúng tôi bó tay chịu chết? Để tiêu diệt Cộng sản Đảng, ông ta cố ý đặt cái bẫy đàm phán ở Trùng Khánh, tưởng rằng Chủ tịch Mao và Phó Chủ tịch Chu không dám đến Trùng Khánh, kết quả cả hai người đều đến, khiến Tưởng Giới Thạch trở tay không kịp, do đó cuộc đàm phán Trùng Khánh đã được tiến hành dựa trên cơ sở điều khoản chúng tôi đưa ra, vì hoàn toàn không có thành ý nên Tưởng Giới Thạch không hề có sự chuẩn bị, hai bên tiến hành đàm phán trên cơ sở đó. Cùng lúc đó, Tưởng Giới Thạch âm thầm điều binh, vây quét căn cứ địa của chúng tôi, kết quả bị đánh bật!”
Nói đến đây, Tăng Kính Võ ngừng lại hỏi: “Tổ Gia có biết lần đàm phán này, Tưởng Giới Thạch đã đánh giá Mao Chủ tịch thế nào không?”
“Hai nhân vật lớn gặp nhau, tất có việc thú vị. Ông ta đánh giá thế nào?” Tổ Gia hào hứng.
“Tưởng Giới Thạch nói Chủ tịch Mao là người rất kiên quyết!”
“Tại sao?”
“Đó là bởi Quốc dân Đảng đều biết Chủ tịch Mao nghiện thuốc lá, dù họp hành hay phê duyệt công văn, trên tay luôn kẹp một điếu thuốc, nhả khói mù mịt, đây đã là thói quen nhiều năm rồi. Vậy mà khi đàm phán ở Trùng Khánh, hội kiến với Tưởng Giới Thạch, Mao Chủ tịch không hề hút lấy một điếu, bởi ông biết Tưởng Giới Thạch không thích mùi thuốc lá.”
Tổ Gia nghe xong, gật gù tán thưởng.
Bỗng nhiên Tăng Kính Võ mặt mày ủ rũ: “Đại chiến lại sắp bắt đầu rồi...”
“Tưởng Giới Thạch muốn đánh thật sao?” Tổ Gia hỏi.
“Hết cách rồi. Chúng tôi muốn hòa bình, Quốc dân Đảng không cho. Mao Chủ tịch nói rồi, Tưởng Giới Thạch muốn đánh, chúng tôi sẽ đánh đến cùng! Nhưng...”
“Nhưng sao?”
“Nhưng lần này không phải đánh quân xâm lược, mà là người mình đánh người mình...”
Tổ Gia nghe vậy, lòng đầy thất vọng: “Đúng thế, là người Trung Quốc đánh người Trung Quốc.”
“Còn nữa...” Tăng Kính Võ nói.
“Còn điều gì nữa?”
“Tình báo cho biết, Tưởng Giới Thạch còn muốn quật mộ tổ nhà Mao Chủ tịch! Ông ta cho rằng phong thủy mộ tổ nhà Mao Chủ tịch quá vượng, là tượng chân long thiên tử, phải quật lên mới có thể đánh bại được Mao Chủ tịch!” Tăng Kính Võ nói.
“Vậy... Mao Chủ tịch của các anh nói thế nào?” Tổ Gia nhớ lại việc mộ tổ nhà mình bị đào xới.
“Ha ha, Mao Chủ tịch chỉ cười và nói: ‘Tưởng Giới Thạch muốn đào mộ tổ nhà ta, đây là việc đánh mất lòng dân, mất lòng dân là mất thiên hạ!’”
Tổ Gia nghe vậy, thầm khâm phục Mao Chủ tịch: quả không hổ danh là lãnh tụ Cộng sản Đảng, khí phách như vậy không thắng mới lạ!
Tổ Gia chợt nhớ ra, hỏi: “Tăng giáo đầu lần này đến thăm, chỉ là muốn báo cho tôi biết sắp có đánh nhau thôi sao?”
Tăng Kính Võ gật đầu: “Mấy hôm trước ra ngoài làm việc, bỗng thấy Đường khẩu của Tổ Gia khai trương, bao nhiêu năm không liên lạc, tôi còn cho rằng là kẻ khác mạo danh, quan sát suốt mấy ngày, thấy quả đúng là Tổ Gia trở về rồi. Trên báo còn nói Tổ Gia trợ giúp Bạch Sùng Hy lập bẫy Côn Luân quan ở Quảng Tây, giữ vững long mạch Trung Quốc, thanh thế của Tổ Gia lớn thật đấy!”
Tổ Gia lắc đầu: “Ôi, Tăng giáo đầu không biết đó thôi, rất nhiều việc đều là trùng hợp, cả anh và tôi đều không ngờ được. Loại người trên giang hồ như chúng tôi, không thể tự mình làm chủ cuộc đời nữa rồi. Mười năm lại đây, ngàn cân treo sợi tóc, nhiều khi tôi còn nghĩ rằng mình không thể quay về Thượng Hải để gặp Tăng giáo đầu nữa! Ông trời có mắt, để tôi sống mà trở về.”
“Ha ha, như câu người trong giới tướng số thường nói là Tổ Gia ‘cát nhân tự có thiên tướng’.”
“Ha ha, đâu có đâu có, mười phần chết chín, nguy hiểm vô cùng.”
“Tổ Gia, như nay thời cuộc là vậy. Quốc, Cộng khai chiến đến nơi rồi, mười năm trước, tôi mời Tổ Gia cùng đi lên Thiểm Bắc, ông không đồng ý, nay liệt cường đã không còn, chỉ còn hai thế lực lớn là Quốc, Cộng, Tổ Gia có nghĩ đến việc theo bên nào không?” Cuối cùng, Tăng Kính Võ cũng nói ra điều muốn nói.
Tổ Gia trong lòng ngạc nhiên, không biết phải trả lời thế nào, hồi lâu sau mới nói: “Tôi... tôi là kẻ tầm thường, đảng không ra đảng, chính không ra chính, cũng chẳng có tư cách tham gia...”
“Tổ Gia sai rồi, bao nhiêu năm qua, ông giết nhiều người, lừa đảo cũng không ít, nhưng đều là những kẻ đáng bị giết, đáng bị lừa. Giống như Cửu gia chuyên hành nghề ám sát, ông ấy tự vấn lương tâm không có gì phải hổ thẹn. Gia nhập đảng cũng không khó đến thế, khi xưa thời khắc khó khăn nhất là lúc bị quân xâm lược càn quét, lúc người em họ tôi xin gia nhập đảng, tổ chức chỉ hỏi hai câu: Có yêu nước không? Có sợ chết không? Tốt, thông qua, chỉ đơn giản như vậy!”
Tổ Gia vẫn im lặng. Rất lâu sau mới đứng lên mở cửa, thở dài một tiếng: “Tăng giáo đầu hãy xem, hơn một trăm anh em của tôi hung hăng bất trị, không ai giống ai, nếu tôi đi rồi, họ biết làm thế nào?”
Tăng Kính Võ nhìn rất lâu, trầm ngâm suy nghĩ, cũng không trả lời.
Cuối cùng, Tăng Kính Võ nói: “Tổ Gia cũng có chỗ khó của mình, sở dĩ tôi đến tận đây nói rõ việc này, cũng là... cũng là... cũng là sợ...”
Tổ Gia bỗng chốc hiểu ra: “Tăng giáo đầu sợ sau này chúng ta trở thành kẻ thù trong cuộc đối đầu giữa hai đảng?”
Tăng Kinh Võ khẽ gật đầu: “Tôi thực lòng không muốn anh em biến thành địch-ta...”
Tổ Gia cũng gật đầu, đứng dậy chắp tay sau lưng vừa đi vừa nghĩ, sau đó nói giọng dứt khoát: “Xin Tăng giáo đầu yên tâm, tôi bảo đảm các anh em của tôi đời này không gia nhập bất cứ đảng phái nào! Đường khẩu này tự có khí số cuối cùng của nó. Ngày sau, bất kể Quốc, Cộng ai giành được thiên hạ, chỉ cần tôi còn sống, tôi quyết không để Đường khẩu làm những việc thương thiên hại lý!”
Tăng Kính Võ ngẩng đầu lên, nắm tay Tổ Gia: “Quân tử nhất ngôn!”
“Tứ mã nan truy!” Tổ Gia tiếp lời.
Lúc này, Lục Bá đầu bỗng hốt hoảng chạy vào: “Tổ Gia! Tổ Gia!” Vừa vào cửa thì nhìn thấy Tăng Kính Võ, sửng sốt: “Tăng thúc thúc!”
Tăng Kính Võ ôm chấm lấy Lục Bá đầu: “Tiểu Lục Tử!” Hai người anh em của bang Búa rìu năm xưa nay lại được gặp nhau.
Tiểu Lục Tử mừng rơi nước mắt, bỗng quay lại nói: “Ngoài cửa có một toán lính Quốc dân Đảng đến, nói là bắt Cộng phỉ!”
Tổ Gia và Tăng Kính Võ mặt mày biến sắc.
“Tăng giáo đầu tạm lánh vào phòng trong, tôi ra ngoài xem sao!” Tổ Gia bước nhanh ra ngoài, bỗng quay lại, nói với Tiểu Lục Tử, “báo cho Nhị Bá đầu, châm kim cho Tăng giáo đầu!”
“Châm kim?” Tăng giáo đầu thắc mắc.
Tổ Gia không đáp, bước nhanh ra ngoài.
“Ôi, Tổ Gia đấy ư? Đúng là trái đất tròn!” Tổ Gia nhìn về nơi phát ra tiếng nói, thì ra là chính là gã định cưỡng bức Chu Cẩn khi vây ráp Hồng lão hổ ở Hồ Nam.
“Ha ha, đúng vậy! Mấy năm không gặp, tôi vẫn chưa được biết quý tính đại danh của trưởng quan?” Tổ Gia chắp tay nói.
“Ấy chết, ngài giờ tiếng tăm lừng lẫy thế, gọi như vậy chẳng phải khiến tiểu nhân tổn thọ sao? Tiểu nhân họ Sái, tên Học Trung, ngài cứ gọi tôi là cậu Sái là được rồi.” tên đó dị hợm nói.
“Ờ... Sái gia!” Tổ Gia mỉm cười nói.
“Chớ! Chớ! Lời này đến tai Đới Cục trưởng, chẳng phải bị xử theo quân pháp ư?” Sái Học Trung vẫn để bụng chuyện Tổ Gia ngăn cản hắn hôm đó.
“Sái gia cứ đùa...”
“Đừng phí lời!” Sái Học Trung đột nhiên giở giọng, ngắt lời Tổ Gia, “Sái mỗ hiện là đại đội trưởng đội 1, Cục Cảnh sát Thượng Hải, giờ đang làm việc công, có người báo rằng Cộng sản Đảng đang nấp trong phủ Tổ Gia, mời ngài hợp tác điều tra.”
“Ha ha ha ha! Đội trưởng Sái làm việc theo phép công, đương nhiên là phải hợp tác rồi. Chỉ có điều, đội trưởng Sái dẫn theo nhiều người đến như vậy, thứ nhất sẽ ảnh hưởng đến việc làm ăn của nhà tôi; thứ hai nếu tra không ra Cộng sản Đảng, há chẳng phải hủy hoại danh tiếng của tôi sao? Dù gì tôi cũng là thầy tướng số yêu nước do Đới Cục trưởng đích thân phong tặng, đội trưởng Sái nên nghĩ xem...” Tổ Gia kéo dài thời gian.
“Hừ, không điều tra sao biết có phải hủy hoại danh tiếng của Tổ Gia hay không?” Sái Học Trung cười khẩy.
“Ừm! Có lý! Đội trưởng Sái có biết mặt mũi Cộng phỉ thế nào không?”
“Ha ha, xưa nay tôi luôn hành sự rất cẩn trọng!” Sái Học Trung miệng nói tay rút ra một tờ giấy, rồi chỉ hình vẽ trên đó, “Tên này dù hóa thành tro tôi cũng nhận ra, hắn trước là người của bang Búa rìu, sau chạy sang Cộng sản Đảng! Tôi đây theo dõi hắn lâu rồi, thân thủ không tồi, năm lần bảy lượt đều chạy thoát, nhưng hôm nay hắn có mọc cánh cũng chẳng thoát nổi. Có điều tôi lo nhất là nếu bắt được hắn rồi, Tổ Gia sẽ ăn nói thế nào với Đới Cục trưởng đây? Chứa chấp Cộng phỉ, tội đáng rơi đầu...”
“Ha ha ha!” Tổ Gia cũng cười theo, “được thôi, đội trưởng Sái đã tự tin như vậỵ, xin mời... Nói rồi, đưa tay, làm bộ nhún nhường.
“Lục soát cho ta!” Sái Học Trung hạ lệnh, mấy chục tên liền xông vào.
Sục sạo một hồi, người của đội cảnh sát lần lượt quay ra: “Báo cáo, không có!”
“Gì cơ?” Sái Học Trung có chút nghi hoặc, “Chẳng phải rõ ràng thấy hắn vào đây sao?” nói rồi, tự mình đi vào.
Vào buồng trong, Sái Học Trung thấy một người đang nằm đắp chăn trên giường: “Đây là ai?”
Tổ Gia nói: “Đó là cha của một đồ đệ, bị trúng phong cách đây không lâu, đang dưỡng bệnh ở chỗ tôi.”
“Dưỡng bệnh?” Sái Học Trung nhìn Tổ Gia với ánh mắt hồ nghi, rồi đột nhiên lật chiếc chăn lên, ngay sau đó giật mình lùi lại, lảo đảo suýt ngã, “Mẹ kiếp! Cái gì vậy? Làm ông giật cả mình!” Vội vàng vứt chiếc chăn xuống.
“Tôi đã nói rồi mà, bị trúng phong.”
Tăng Kính Võ được Nhị Bá đầu dùng thuật châm cứu khiến ngũ quan lệch lạc, nhất là bên mặt trái chảy xệ xuống, thớ thịt bị liệt kéo xuống tận dưới cằm.
Lúc này một tên cảnh sát nói nhỏ: “Vừa rồi rõ ràng tôi thấy hắn đi vào đây...”
Sái Học Trung vả cho tê n cảnh sát đó một cái vào mồm: “Mẹ kiếp nhà ngươi! Mắt ngươi có làm sao không? Lần trước thì nói có con kỹ nữ này xinh lắm, làm ông lao vào hôn tới tấp một chặp, nào ngờ son phấn rơi ra, mẹ ơi có dễ đến năm mươi rồi!”
Sái Học Trung chỉnh lại mũ kê-pi, quay sang giả lả cười nói: “Tổ Gia, thật ngại quá!”
“Đội trưởng Sái bớt giận, bớt giận, bọn tay chân làm việc cũng không dễ dàng gì, hãy tha cho hắn lần này đi.” Nói rồi, ông bước lại trước mặt tên cảnh sát bị đánh, “Người anh em, lần sau nhìn rõ một chút nhé.”
“Không phải, là bọn tai mắt báo tin nên tôi mới đi theo...” tên cảnh sát ôm quai hàm nói.
“Mẹ kiếp!” Sái Học Trung xông lên vả thêm cho hắn ta cái nữa, “Tao bảo mày khép cái mồm lại, khép cái mồm lại hiểu không? Mẹ kiếp cái miệng mày còn rộng hơn cả lưng quần bọn kỹ nữ!”
Tăng Kính Võ nằm trên giường nghe không sót câu nào, tai mắt sao? Xem ra nội bộ có kẻ phản bội!
“Cút hết về cho ta!” Sái Học Trung thẹn quá hóa giận.
Đám cảnh sát lủi thủi rút về.
“Tổ Gia, xin cáo từ!” Sái Học Trung nói.
“Đội trưởng Sái, về nhé, rảnh rỗi ghé chơi.”
• • •
Đến đêm, Tổ Gia tự mình giải huyệt cho Tăng Kính Võ, Tăng Kính Võ dần lấy lại dung mạo.
“Có kẻ phản bội,” Tăng Kính Võ lầm bầm, “tôi phải phát ám hiệu để mọi người chuyển địa điểm.”
“Ừ,” Tổ Gia gật đầu, “tên hôm nay đến trước kia là người của Đới Lạp, Đới Lạp đúng là chỗ nào cũng nhúng tay vào.”
Tăng Kính Võ nói: “Thế lực Đới Lạp ngày càng lớn mạnh, hắn nắm giữ Quân thống, không chỉ nhúng tay vào các sự vụ quân chính mà còn cả các lĩnh vực khác như quốc phòng, giao thông, ngoại giao, cảnh chính, tài chính... nhưng đây chưa hẳn là việc không tốt.”
“Nghĩa là sao?” Tổ Gia hỏi.
“Tưởng Giới Thạch là người thế nào chứ? Là một kẻ đa nghi! Đới Lạp khoa trương như thế, Tưởng Giới Thạch liệu có thể yên tâm được sao?”
Tăng Kính Võ nói chơi mà lại trúng thật. Lúc này đây, Đới Lạp như ngồi trên bàn chông.
Đới Lạp thông minh quá lại bị thông minh hại. Ngày 1 tháng 4 năm đó, Quân thống tổ chức lễ kỷ niệm 10 năm thành lập, Tưởng Giới Thạch cùng phu nhân Tống Mỹ Linh đến tham dự. Nhằm thể hiện năng lực và công trạng của mình trước mặt cấp trên, hơn nữa để thể hiện quyết tâm Quân thống trên dưới một lòng phục vụ Uỷ viên trưởng, Đới Lạp cho các đội đặc vụ Quân thống thực hiện một cuộc đại duyệt binh, thậm chí để buổi lễ thành công tốt đẹp, ông ta còn yêu cầu tập dượt trước ba lần.
Khi Tưởng Giới Thạch bước lên bục duyệt quân, thấy đội quân đặc vụ trang bị kiểu Mỹ ngay ngắn chỉnh tề, tư thế hùng dũng tiến qua lễ đài, ông ta đã sinh lòng nghi ngờ. Mười năm trước, tổ chức này chỉ là một sở đặc vụ nhỏ với vài chục người, nay dưới tâm sức của Đới Lạp, đã trở thành tổ chức quân đội có sức chiến đấu mạnh mẽ, cả hệ thống lên đến mấy trăm ngàn người, trong đó đặc vụ chìm 180 ngàn, du kích vũ trang 70 ngàn, đội biệt động 20 ngàn, đội cảm tử 10 ngàn, nguy hiểm hơn là đội ngũ này chỉ nghe hiệu lệnh của mình Đới Lạp.
Khi đó Tưởng Giới Thạch khẽ mỉm cười, Đới Lạp cũng cười. Chỉ là Tưởng Giới Thạch cảm ơn bản thân đã phát hiện kịp thời, còn Đới Lạp thì cho rằng lòng trung thành của mình đã được ghi nhận.
Sau khi quân Nhật đầu hàng, Tưởng Giới Thạch đột nhiên hạ lệnh “giải tán Quân thống”.
Lúc này Đới Lạp mới hiểu ra rằng, bản thân quá tài giỏi, quá thông minh, khiến cho Uỷ viên trưởng nghi kỵ.
Ông ta than thở với thân tín: “Ta không chết trong tay Cộng sản Đảng, cũng sẽ chết trong tay lão ta.”
Quân thống sắp giải tán, giờ phải đi đâu về đâu? Đới Lạp mông lung suy nghĩ. Đúng như Viên Thụ San nói, người đến xem tướng có ba loại, Đới Lạp lúc này thuộc loại lâm vào đường cùng.
Đầu tháng 2, Đới Lạp bí mật trở về Thượng Hải.
“Tiên sinh vẫn khỏe chứ?” Đới Lạp bí mật gặp Tổ Gia.
“Nhờ hồng phúc của Tướng quân, mọi việc vẫn ổn.”
“Tôi nhớ trước đây tiên sinh từng nói, mười năm sau tôi tất có tướng vương công. Tính từ năm 1936, đến nay cũng sắp mười năm rồi nhỉ?”
“Tướng quân dẫn dắt Quân thống, đánh bại quân Nhật, nay đứng vào hàng công thần, còn không được coi là tướng vương công ư?” Tổ Gia nói.
“Tiên sinh đừng có lừa ta, có cái gì thì nói cái đó!” Đới Lạp lên giọng.
“Không dám! Không dám! Tại hạ chưa hề lừa Tướng quân phải không?”
“Nhưng nay lão già kia lại muốn giải tán Quân thống!” Đới Lạp gầm lên như con thú bị thương.
“Lão già?” Tổ Gia ngơ ngác.
“Tưởng Giới Thạch...” Đới Lạp nói.
“Ồ, giải tán Quân thống có thể là sự sắp xếp bình thường của ủy viên trưởng, còn Đới Tướng quân... biết đâu sẽ có sự trọng dụng khác.”
“Trọng dụng khác sao? Quân thống là cuộc sống của Đới mỗ! Quân thống không còn, Đới Lạp khác gì nước không nguồn, cây không gốc, chẳng là cái đinh gì!”
“Như vậy, xem ra ủy viên trưởng sắp sờ gáy Đới Tướng quân?” Tổ Gia chợt nhớ đến mấy câu Tăng Kính Võ nói hôm trước, Đới Lạp thực sự sắp đi đời rồi.
“Nhưng tôi chưa từng ăn ở hai lòng! Từ khi theo lão già đến nay, Đới mỗ lúc nào cũng nghĩ cho nỗi khổ tâm của cấp trên, theo sát bên cạnh không hề oán hận, dốc sức khuyển mã mấy chục năm nay! Lão già chắc chắn hiểu điều đó! Việc khác không nói, nhưng sự biến Tây An bao nhiêu kẻ muốn lão già chết, tôi lại mạo hiểm tính mạng hộ tống Tống phu nhân đi Tây An, những việc này lão già không thể không biết được!” Giọng Đới Lạp bất giác run lên.
“Tướng quân chớ lo. Có lẽ do đồng liêu hãm hại chăng?” Tổ Gia gợi mở.
Nghe thấy câu này, Đới Lạp bỗng nổi da gà: bao nhiêu năm nay, để hạ gục đối thủ, bản thân đã giết hại bao nhiêu người, nhiều kẻ trong Quốc dân Đảng hận ta đến tận xương tủy, kẻ muốn ta chết đâu chỉ một người. Nhưng những điều này đều phải được sự gật đầu của lão già, ta giống như con chó nhất mực trung thành luôn nghe lệnh chủ, nay chủ muốn vứt bỏ ta, không còn sự bảo vệ của chủ, những kẻ đó sẽ nghiền nát ta trong nháy mắt. Không được, không được rồi, không thể bó tay chịu trói như vậy! Đánh cuộc lần nữa! Phải đánh cuộc lần nữa!
Đới Lạp vã mồ hôi hột. Khi đó Tổ Gia không hề thấy vui trước cảnh quẫn quá hóa liều của Đới Lạp, chỉ có một nỗi thê lương bủa vây trong tâm trí ông, đời người hồng trần muôn nẻo, mấy hồi rạng rỡ mấy hồi lo âu, ai có thể nghĩ rằng “Thái bảo cái thế” vẻ vang của ngày xưa lại rơi vào cảnh ngộ như hôm nay.
“Tiên sinh có kế sách gì hay cứu ta không?” Đới Lạp nhìn chằm chằm vào Tổ Gia, ánh mắt như van lơn.
Thấy Đới Lạp trong hồi tuyệt vọng, Tổ Gia không muốn nhắc đến Chu dịch bát quái gì cả, mà thẳng thắn hỏi: “Đới Tướng quân chịu nghe một lời của ta không?”
“Tiên sinh cứ nói!” Đới Lạp sốt sắng.
“Đới Tướng quân hãy học theo Trương Lương đời Hán, biết dừng đúng lúc. Không cần ủy viên trưởng nói mà hãy tự xin từ chức Cục trưởng Quân thống, sau đó cũng chẳng cần mưu cầu chức khác, cáo bệnh về quê, không màng đến việc trên quan trường...” Tổ Gia thực sự có ý tốt.
“Gì cơ?” Không đợi Tổ Gia nói hết câu, Đới Lạp đã cuống lên, “Bảo ta chủ động rút lui? Đừng nói ta không rút lui, dù có chủ động rút lui cũng có thể giữ được tính mạng không? Không còn quyền lực, đám người đó ắt di ta như di một con kiến! Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, tiên sinh không thể không hiểu đạo lý đó.”
“Tướng quân hãy nghe ta nói. Tướng quân luôn nhất mực trung thành với ủy viên trưởng, nếu rút lui trong vinh quang có thể được Uỷ viên trưởng ban cho tấm kim bài miễn tử, khi đó đám đồng liêu Quốc dân Đảng có thể làm gì được Tướng quân đây? Mặt khác, ủy viên trưởng tất niệm tình Tướng quân lao tâm khổ tứ bao nhiêu năm, cũng sẽ cho Tướng quân một con đường sống.” Tổ Gia nói.
Nói xong câu này, lòng Tổ Gia mênh mang vô định, đối diện với tên đao phủ đã giết chết Vương Á Tiều này, ông bỗng động lòng Bồ tát.
Đới Lạp cúi đầu nghĩ ngợi, bỗng cảm thấy có gì đó không ổn: tên thầy tướng số này sao cứ một mực khuyên ta giao lại binh quyền? Không biết chừng đã bị lão già thu phục nên cố ý khuyên nhủ ta chăng?
Thấy hai con ngươi của Đới Lạp đảo không ngừng, là một A Bảo lão luyện, Tổ Gia chợt hiểu ra: thôi xong, Đới Lạp đa nghi rồi!
Quả không ngoài dự liệu, Đới Lạp bỗng cười vang: “Ha ha, tiên sinh năm xưa bói rằng sau này ta tất làm quan lớn, nay lại khuyên ta rút rui, há chẳng phải tiền hậu bất nhất ư?”
Tổ Gia lắc đầu, nhắc lại câu nói của Viên Thụ San: “Âm dương có định số, nhân sinh lại vô thường. Có những việc nhân tính không bằng trời tính. Mong Tướng quân thứ tội.”
“Ha ha. Hay cho câu nhân tính không bằng trời tính! Tiên sinh e là đã gặp lão già rồi!”
“Tuyệt đối không có!” Tổ Gia nhìn Đới Lạp không chớp mắt.
Đới Lạp nham hiểm nhìn Tổ Gia: “Ta muốn đi trước một bước, có thể hay không?”
“Tướng quân muốn thế nào?” Tổ Gia nghĩ hắn đã phát điên lên rồi.
“Ta muốn làm Tư lệnh Hải quân Trung Quốc” Đới Lạp nói.
“Ơ...” Tổ Gia mơ hồ.
“Lão già sẽ không bỏ mặc ta! Chắc chắn là không! Phía Mỹ cũng có người ủng hộ ta. Quốc, Cộng sắp đánh nhau, lão già phải thành lập hải quân, vẫn phải cần đến ta, ta vẫn còn hữu dụng! Ta phải liều mạng một phen!” Mắt Đới Lạp long lên sòng sọc, như điên như dại.
“Việc này...” Tổ Gia không biết phải nói gì.
“Tiên sinh hãy đợi tin tốt của ta.” Đới Lạp đứng dậy bỏ về, khi ra đến cửa, bỗng quay lại nói, “Trước đây tiên sinh bảo ta đặt một cái tên có ngũ hành thuộc Thổ, ta vẫn chưa đặt, lần này sẽ thử xem!” Nói rồi quay đầu đi thẳng.
Tổ Gia suy nghĩ giây lát rồi cấp tốc triệu tập Đường hội, tuyên bố giải tán.
“Tại sao, Tổ Gia? Vừa mới khai trương, làm ăn đang phát đạt, tại sao phải giải tán?” Các bá đầu không hiểu vì sao.
“Sắp chết đến nơi rồi!” Tổ Gia nói một câu, rồi không giải thích gì thêm.
Các bá đầu và đám tay chân vội vã giải tán, về quê ẩn náu.
Tổ Gia phân tích rất đúng, một người nham hiểm như Đới Lạp nếu dốc nỗi lòng với ta, liệu có thể để ta sống không? Nhất là với một thầy tướng số đã biết quá nhiều bí mật của hắn như ta, bất luận thế nào cũng phải trừ bỏ.
Quả nhiên, bọn Tổ Gia vừa đi không lâu, Sái Học Trung dẫn theo một đội, súng vác vai, đạn lên nòng xộc thẳng vào Đường khẩu, kết quả vồ hụt.
Đới Lạp nghe được tin này lại càng không yên tâm, hắn cho rằng Tổ Gia đã bị bên trên mua chuộc, vậy thì bao nhiêu bí mật của ta chắc chắn sẽ bị lộ, phải làm sao bây giờ?
Lúc này, chuông điện thoại bỗng reo, Đới Lạp hốt hoảng, chầm chậm bước lại nghe: “Alô?”
“Đới Cục trưởng phải không?”
Đới Lạp nghe thấy giọng thư ký Viên mới bình tâm đáp lại: “Ta đây, có việc gì vậy?
“Quân thống phân lại biên chế, tất cả biệt hiệu cũng phải đổi, Cục trưởng cũng vậy, lần này ngài định lấy tên gì? Vẫn mang bộ Thủy phải không?” Thư ký Viên hỏi.
“Ờ...” Đới Lạp tư lự giây lát rồi trầm giọng nói, “lần này chọn cho ta cái tên mang bộ Thổ...”
“Hả?”, thư ký Viên ngẩn ra, ngỡ rằng mình nghe nhầm, Đới Cục trưởng luôn cho rằng mệnh mình thiếu Thủy, xưa nay đều thích tên mang bộ Thủy kia mà, bèn hỏi lại, “mang... bộ Thổ, phải không ạ?”
“Phải! Nhất định phải mang bộ Thổ, càng nhiều càng tốt.” Đới Lạp lặp lại.
“Ồ, tôi biết rồi.”
Thế là trong danh sách biệt hiệu của Quân thống Đới Lạp có biệt hiệu cuối cùng trong đời mình là: Cao Sùng Nhạc.
Cái tên này nghe hiếu thắng đến lạ lùng, ngũ hành hoàn toàn thuộc Thổ, núi non trùng điệp, Ngũ nhạc sừng sững, trên dưới trong ngoài đều là Thổ. Để bổ sung Thổ cho ông ta, thư ký lấy cái tên chỉ kém tên “Cao Địa Cầu” chút xíu.
Đới Lạp nghe xong, gật gù đắc ý.
Ngày 12 tháng 3, Đới Lạp hội kiến Trịnh Giới Dân tại Bắc Bình, lần lượt bàn giao công việc sau khi giải tán Quân thống.
Ngày 13 tháng 3, Đới Lạp đi Thiên Tân, cùng với đặc vụ Quân thống ở đó xử lý vụ án tham ô.
Ngày 15 tháng 3, Đới Lạp trở lại Bắc Bình, hội đàm với Đỗ Duật Minh.
Cũng trong thời gian này, Tưởng Giới Thạch liên tục gọi điện thoại, thúc giục Đới Lạp trở về Trùng Khánh. Đến nỗi mỗi khi điện thoại đổ chuông, tim ông ta lại đập thình thịch.
Đới Lạp kéo dài thời gian, đợi Tư lệnh Hạm đội 7 Hoa Kỳ Alan Goodrich Kirk đến, ông ta muốn gặp Kirk, bởi Kirk từng nhận lời giúp ông ta xây dựng lại lực lượng hải quân Trung Quốc. Có được sự ủng hộ của Kirk, ông ta mới dễ dàng đánh bài ngửa với lão Tưởng, để được tiếp tục dốc sức khuyển mã.
Đới Lạp chạy đôn chạy đáo, lần lữa không quay về Trùng Khánh khiến Tưởng Giới Thạch càng thêm nghi ngờ: tên tiểu tử này liệu có chó cùng dứt giậu, chạy sang phía Cộng sản Đảng?
Mối nghi kỵ giữa hai người ngày càng sâu sắc.
Ngày 16 tháng 3, cuối cùng Đới Lạp cũng đợi được tin của Kirk, Kirk nói rằng hiện ông ta đang ở Thanh Đảo, Sơn Đông, nhưng chưa thể đến Bắc Bình ngay được, hy vọng Đới Tướng quân đợi thêm hai ngày nữa.
Đới Lạp sốt ruột, bố trí chuyên cơ bay thẳng đến Thanh Đảo.
Đến nơi thì trời đã tối, Đới Lạp lại hay tin Kirk có việc công đã bay đi Thượng Hải, đành phải lưu lại Thanh Đảo.
Buổi tối, ông ta tuyệt vọng giam mình trong phòng, đèn cũng chẳng buồn bật lên. Trong căn phòng tối om, Đới Lạp ôm đầu khóc nức nở. Không ai biết đêm đó ông ta đã nghĩ đến điều gì, phải chăng là nghĩ đến cuộc đời đặc vụ tung hoành ngang dọc, hay nghĩ đến những thời khắc huy hoàng, hống hách năm xưa? Cũng có thể ông ta chẳng nghĩ gì cả, chỉ là nghĩ đến mẹ già nơi quê xa, hay thời niên thiếu trong sáng, chẳng hề có âm mưu và giết chóc...
Khi trời hửng sáng, Đới Lạp tắm rửa sạch sẽ, thay chiếc áo sơ mi mới, trước khi đi, ngắm nghía mình lần nữa trong gương. Hai mươi năm trước, vào đêm trước khi dự thi vào trường quân sự Hoàng Phố, ông ta cũng nhìn ngắm mình trong gương và tự nhủ rằng: “Mình có thể làm được.” Kết quả ông ta thi đỗ vào trường thật, hơn nữa còn may mắn trở thành phó thị vệ của Tưởng Giới Thạch, từ đó dấn thân vào cuộc đời đặc vụ... Xuân thu mấy độ, việc xưa như gió thoảng, nay lại lần nữa đối gương, không biết phải nói gì với bản thân, cuối cùng ông ta cười, cười đau khổ với chính mình...
Khoảng 10 giờ sáng, sau khi gọi điện và chắc chắn rằng Kirk vẫn ở Thượng Hải, Đới Lạp lập tức lên máy bay đi Thượng Hải.
Ngày hôm đó, dường như mọi thứ trên thế gian đều chống lại Đới Lạp. Máy bay vừa cất cánh không lâu, bầu trời đang quang đãng đột nhiên biến đổi, cuồng phong nổi lên, mưa to như trút, máy bay chao đảo, mất thăng bằng trong cơn mưa bão.
“Cục trưởng, mưa to quá, máy bay không thể bay theo tuyến Thượng Hải được.” Thủ hạ của Đới Lạp báo cáo.
Đới Lạp im lặng không nói, nhìn trời mưa gió vần vũ qua cửa sổ máy bay, thầm nghĩ: ông trời muốn tuyệt đường ta đây mà!
“Có quay lại không?” Tên đặc vụ hỏi.
“Không! Bay đến Nam Kinh trước, đợi thời tiết tốt lên thì đi Thượng Hải.” Đới Lạp hạ lệnh.
“Vâng!”
Máy bay lắc lư trong màn mưa bay vào không phận Nam Kinh.
Không ngờ ở Nam Kinh mưa còn to hơn, sấm chớp đùng đùng, máy bay không thể hạ cánh được.
Viên cơ trưởng căng thẳng điều khiển máy bay lượn vòng quanh trên bầu trời Nam Kinh. Cơn mưa quá lớn khiến máy bay bay chệch hướng, phía trước buồng lái bỗng xuất hiện một ngọn núi.
“Mau bay lên! Mau bay lên đi!” Cơ phó hét lên, “Mau! Mau! Mau!”
“Không kịp rồi! Không kịp nữa rồi! A a a!...”
• • •
Tín hiệu máy bay chở Đới Lạp biến mất, nhân viên mặt đất của sân bay Nam Kinh vội vàng báo cáo lên cấp trên: máy bay của Đới Cục trưởng mất tích rồi!
Tưởng Giới Thạch đón nhận tin này với thái độ bình thản đến lạnh lùng, rồi lập tức chỉ đạo cho nhân vật số hai của Quân thống là Mao Nhân Phụng: “Sống phải thấy người, chết phải thấy xác!”
Tưởng Giới Thạch nghi ngờ, không biết là máy bay gặp nạn hay Đới Lạp tắt vô tuyến điện, bay sang phía Cộng sản Đảng.
Hai ngày sau, xác máy bay và thi thể Đới Lạp được tìm thấy, máy bay quả thực đã đâm vào núi.
Người thu gom thi thể sau khi trở về báo cáo lên Tưởng Giới Thạch: “Máy bay của Đới Cục trưởng đâm vào ngọn núi có tên là Đại Sơn, rồi rơi xuống kênh Khốn Vũ.”
Nội bộ Quân thống đều vô cùng ngạc nhiên, bàn tán xôn xao: Đới Lạp, tự Vũ Nông, bát tự thiếu thủy, do đó luôn đặt cho mình cái tên mang ngũ hành Thủy, như nay vừa đặt cái tên Cao Sùng Nhạc có ngũ hành thuộc Thổ này thì đâm phải núi Đại Sơn, chết dưới kênh Khốn Vũ! Thời vậy? Số vậy?
Tên đầu sỏ Quân thống tội ác tày trời đã đặt dấu chấm hết cho đời mình như vậy.
Sau khi biết tin này, Tổ Gia trầm ngâm không nói.
Giang Phi Yến gửi thư đến: chúc mừng Tổ Gia, cuối cùng đã báo được thù cho Cửu gia! Bà tưởng rằng chín năm trước, bà và Tổ Gia cùng lừa xem tướng cho Đới Lạp, gợi ý ông ta đặt tên mang ngũ hành thuộc Thổ, nay đã có tác dụng.
Tổ Gia thì không nghĩ như vậy, trải qua bao cơn phong ba bão tố, ông hiểu rằng đây không phải là việc một cái tên có thể quyết định được. Bằng không, cứ đặt một cái tên xấu là sẽ đẩy người ta vào chỗ chết sao? Ngược lại, đặt một cái tên tốt thì có thể khiến họ trở nên giàu có ư? Đúng là chuyện ngàn lẻ một đêm!
Tổ Gia biết, cái chết của Đới Lạp chỉ là vấn đề thời gian. Bởi bậc đế vương nào cũng sợ thần tử công cao che lấp chủ, làm bạn với vua như chơi với hổ, khéo thì nhận được “chén rượu giải binh quyền”, cầm ít ngân lượng về quê dưỡng lão, không khéo thì có kết cục như Hàn Tín, Hồ Duy Dung*. Đới Lạp giở mọi thủ đoạn, bày mưu tính kế giết hại bao người, lại không hề nghĩ rằng bản thân sẽ bị Tưởng Giới Thạch ép vào chỗ chết.
Mãi đến lúc này, Tưởng Giới Thạch mới có phần tỉnh ngộ: có lẽ Đới Lạp không có ý tạo phản. Ông ta cho điều tra kỹ lộ trình trước khi chết của Đới Lạp, Đới Lạp đi Thiên Tân là để xử lý một vụ án tham ô trong nội bộ Quân thống; gặp gỡ Quân đoàn trưởng Quân đoàn 94 cũng không phải để mưu phản, mà là thu xếp vụ bê bối cưới vợ bé của ông này; Đới Lạp đến Bắc Kinh là thăm hỏi bệnh tình của Đỗ Duật Minh, chứ không phải âm mưu gì cả; còn lần đi Thanh Đảo rồi đến Thượng Hải là muốn thượng lượng với Alan Goodrich Kirk về việc xây dựng lực lượng hải quân Trung Quốc...
Khi đó, Tưởng Giới Thạch lại nhớ đến cuộc đối thoại trước đó không lâu trong văn phòng Quân thống ở Bắc Bình: “Năm ngoái lãnh đạo bảo tôi làm Ủy viên trung ương, tôi kiên quyết từ chối, vì tranh quyền đoạt lợi không xứng làm một người cách mạng... Mới đây Trung ương mở Hội nghị Trung ương 2 khóa VI, tình hình diễn biến trong mười mấy ngày này không nằm ngoài dự liệu của tôi. Đối với vấn đề của Cục Điều tra Thống kê, xem ra có khen có chê. Có kẻ muốn lật đổ chúng ta, tôi không biết thế nào là lật đổ, thế nào là bãi bỏ, tôi chỉ sợ các đồng chí của chúng ta không tiến bộ, quan liêu hủ hóa. Nếu vậy, người ta không đánh, bản thân cũng sẽ tự đổ. Tôi lúc nào cũng nghĩ rằng làm thế nào để xứng đáng với các bậc tiên liệt, làm thế nào gìn giữ được lịch sử vinh quang, tuyệt đối không hề nghĩ đến việc người khác đánh đổ tôi thế nào. Con người tôi chủ trương vô chính trị, mọi việc duy có tuân theo ý của Uỷ viên trưởng, cắm đầu mà làm, như vậy quốc gia có triển vọng, bản thân mới có tiền đồ...”
“Xem ra Đới Lạp thực sự không có ý làm phản, là ta đã ép hắn thái quá.” Tưởng Giới Thạch tự trách mình: đại chiến sắp nổ ra, bản thân lại mất đi một viên tướng tài hết mực trung thành! Nghĩ đến đây, Tưởng Giới Thạch vò đầu bứt tai.
Sau này bại trận chạy ra Đài Loan, Tưởng Giới Thạch từng nhiều lần kể khổ: “Đồng chí Đới Vũ Nông không chết, hôm nay chúng ta đâu phải rút ra Đài Loan!”
TÌM LẠI ĐƯỢC HÀI CỐT
Đường khẩu của Tổ Gia mở cửa trở lại.
Một ngày nắng ráo, trên phố ngựa xe đồng như mắc cửi, Tam Bá đầu ngồi nghiêm trang xem tướng số ngay mặt chính của tiệm, bỗng có một người đàn ông trung niên đội mũ nỉ màu đen đi đến.
Người này nhìn trước ngó sau như đang tìm gì đó.
Tam Bá đầu đưa mắt ra hiệu cho tên tay chân bên cạnh: “Ra xem xem.”
Tên tay chân đi ra, vỗ vai người đó: “Tiên sinh, muốn xem tướng phải không?”
Người đó mỉm cười: “Không, không, tối tìm người quen.”
“Ông tìm ai?” Tên tay chân hỏi.
Người đó quan sát một lượt, lắc đầu, mỉm cười nói: “Cậu còn nhỏ, e là cũng không biết người này.”
Tên tay chân nghe vậy trong lòng bực bội, nhưng đám A Bảo trong đầu luôn có sẵn chủ ý lừa đảo, hắn nhanh trí nói: “Ông nói rất đúng, tiểu nhân mới mười mấy tuổi đầu, kiến thức có hạn, nhưng ông có thể nhờ sư phụ tôi xem cho một quẻ, bói xem người ông cần tìm đang ở đâu. Nếu không bến Thượng Hải rộng lớn thế này, ông tìm thế nào đây?”
Người đó mắt sáng lên: “Có chuẩn không?”
“Bói chuẩn hay không cứ xem thì biết! Mời vào trong!” Tên tay chân miệng lưỡi dẻo quẹo, điệu người đó vào.
Tam Bá đầu ngồi trong tiệm nghe rõ mồn một, thầm nghĩ: mẹ kiếp, thằng này có tiền đồ đây.
“Tiên sinh muốn tìm người ư?” Tam Bá đầu cười hỏi.
“Ừm.” Người đó gật đầu.
“Là nam hay nữ?”
“Nam.”
“Bao nhiêu tuổi?”
“Khoảng 45 tuổi.”
“Ừm,” Tam Bá đầu gật đầu nói, “là một người bạn cũ, phải không?”
“Đúng đúng đúng!” ông ta xúc động, đáp liền ba tiếng.
Tam Bá đầu cười thầm trong bụng: đương nhiên là bạn cũ rồi, nếu không ông tìm người ta làm gì? Ha ha, con gà này thật đáng yêu.
Tam Bá đầu nói tiếp: “Người đó có ơn với ông...”
“Quá đúng luôn!” Người đó sửng sốt, thiếu chút nữa là đứng bật dậy.
Tam Bá đầu mừng húm: hẳn là có ơn, nếu có thù oán, ông đã chẳng mang bộ mặt đó vào đây.
Ông ta đã vào tròng của Tam Bá đầu, không kìm được nữa bèn tự mình nói: “Người này là đồng hương của tôi, tôi chỉ biết rằng ông ấy ở Thượng Hải, hình như cũng hành nghề như các ông đây, là một đại sư. Mười mấy năm trước ông ấy còn về quê tế lễ tổ tiên, sau đó quân Nhật đánh đến thì bặt vô âm tín...”
Câu nói này khiến Tam Bá đầu giật mình: “Đại sư sao? Vậy ông có biết tên ông ấy không?”
“Nhỏ gọi là Quán Sinh, tên chính là Thành Minh, họ kép Thượng Quan...”
Tam Bá đầu toát mồ hôi lạnh, đưa mắt ra hiệu, tên tay chân vội đóng cửa tiệm lại. Sau đó Tam Bá đầu và tên tay chân nhất tề xông lên trói người này lại.
Ông ta hoảng sợ kêu lên: “Làm gì vậy? Làm gì vậy?”
Tam Bá đầu lấy một dải lụa nhét vào mồm ông ta, rồi nói với tên tay chân: “Mau gọi Tổ Gia đến đây!”
Tổ Gia đang ngồi uống trà trong phủ, bỗng thấy tên tay chân hấp tấp lao vào: “Tổ Gia, có chuyện rồi!”
Tổ Gia đặt tách trà xuống, cùng tên tay chân đến tiệm của Tam Bá đầu. Hai người nhìn quanh, thấy không có người theo dõi thì mới đẩy cửa bước vào.
“Chính là người này!” Tam Bá đầu chỉ vào người đàn ông đội mũ đen nói.
Tổ Gia cúi xuống nhìn kỹ, toàn thân run lên: “Ngai Phúc!”
Vừa thấy Tổ Gia, người đó nước mắt tuôn rơi, ra sức ú ớ kêu lên.
“Mau! Mau thả ông ấy ra!”
Tam Bá đầu và tên tay chân ngẩn ra: “À ờ... vâng, vâng!”
Sau khi được cởi trói, người này ôm chầm lấy Tổ Gia, khóc nức nở: “Quán Sinh, em tìm được anh rồi!”
Mắt Tổ Gia đỏ lên: “Người anh em, từ từ hẵng nói...”
Tam Bá đầu gãi đầu gãi tai không hiểu chuyện gì. Tổ Gia giới thiệu: “Đây là người anh em đồng hương Ngai Phúc của ta, chúng ta lớn lên cùng nhau, hai cậu phải gọi là chú Ngai Phúc!”
Một con gà bỗng chốc biến thành bậc cha chú, Tam Bá đầu chưa thể quen ngay được: “Ồ, chú... Ngai Phúc.”
“Năm xưa già trẻ lớn bé nhà ta chết thảm, ông nội, bà nội, mẹ và anh trai ta đều do một tay Ngai Phúc mai táng...” Tổ Gia nói thêm.
Nghe câu này, Tam Bá đầu và tên tay chân lập tức quỳ xuống, gọi to một tiếng: “Chú Ngai phúc, xin nhận của vãn bối một lạy!”
Ngai Phúc chưa từng gặp tình huống này, hốt hoảng nói: “Đừng! Đừng! Các vị... nói gì thế... mau... mau đứng dậy!”
“Đi, về nhà nói chuyện.” Tổ Gia vỗ vỗ vai Ngai Phúc, rồi sau đó quay sang Tam Bá đầu và tên tay chân vẫn đang quỳ, “Lão Tam, cùng về luôn đi.”
“Vâng, Tổ Gia.”
Về đến phủ đệ, Tổ Gia đích thân pha trà cho Ngai Phúc.
Ngai Phúc ngắm nghía căn phòng rộng rãi sáng sủa của Tổ Gia, ngượng nghịu cười mãi không thôi: “Nhà anh to thật, đẹp thật đấy.”
Lúc sau Ngô quản gia bê điểm tâm và hoa quả lên, Tổ Gia tự mình lấy một miếng bánh hoa quế đưa cho Ngai Phúc: “Người anh em, ăn bánh đi... đừng nhút nhát thế...”
Ngai Phúc ngượng nghịu đón lấy, rồi đưa lại cho Tổ Gia: “Anh, anh ăn... anh ăn trước đi.”
Tổ Gia mỉm cười đẩy lại, rồi tự lấy một miếng đút tọt vào miệng: “Chúng ta cùng ăn!”
Tam Bá đầu biết Tổ Gia không bao giờ ăn đồ ngọt, những thứ này đều dùng để tiếp khách, hôm nay để Ngai Phúc được tự nhiên, ông mới ăn trọn cả miếng bánh, xem ra Tổ Gia và lão nhà quê này tình cảm không thường đâu.
“Lão Tam, cậu cũng ăn đi!” Tổ Gia nói.
“Thôi, thôi, cám ơn Tổ Gia.” Tam Bá đầu nghĩ thầm: thứ này có gì ngon chứ!
“Sao?” Tổ Gia liếc xéo.
Tam Bá đầu rụt cổ, trộm nghĩ: mình thầy ăn không được sao, lại còn kéo thêm mình vào! Thế rồi đành phải lấy một miếng, miễn cưỡng bỏ vào mồm.
Ngai Phúc thấy mọi người đều ăn, cũng không ngại ngùng nữa, liền ăn lấy ăn để.
Ăn xong một hồi, Tổ Gia lại mời uống trà, Ngai Phúc uống liền mấy hớp, súc sòng sọc rồi nuốt ực luôn. Tam Bá đầu thấy vậy suýt chút nữa thì ọe ra.
“Anh à, mấy năm nay anh đi đâu vậy? Mười mấy năm trước anh về quê để lại cho em một mẩu giấy, nói có việc gì cứ theo địa chỉ này đến Thượng Hải tìm anh... Năm kia em đến Thượng Hải, đâu đâu cũng thấy người Nhật, em sợ không dám vào thành phố. Sau khi quân xâm lược bị đuổi đi rồi, em tìm đến địa chỉ ghi trên giấy, nhưng ở đó đều là tiệm quần áo, là nơi buôn bán... Đây là lần thứ tư em đến Thượng Hải tìm anh, lộ phí đều do bà con họ hàng góp lại...” Nói đến đây, giọng Ngai Phúc lại run run.
Tổ Gia thở dài một tiếng: “Chú à, chuyện dài lắm, mấy năm này anh đều không ở Thượng Hải... Ôi, một lời khó kể hết được... mà chú tìm anh có việc gì vậy? Cứ nói đi, đừng ngại!”
“Anh à... ” Cuối cùng Ngai Phúc không kiềm chế được nữa, nước mắt lưng tròng, “từ đường ở quê bị máy bay Nhật thả bom nổ tung rồi! Ngôi từ đường 300 năm tuổi của gia tộc Thượng Quan bị phá hủy hoàn toàn! Không những thế, năm nay hạn hán to, không thu hoạch được hạt lúa nào, các cụ đều nói đó là do phong thủy từ đường tổ tiên bị phá hỏng, bài vị tổ tiên và gia phả chẳng còn, đời chúng ta bị tuyệt tử tuyệt tôn rồi...”
Tổ Gia nghe vậy lòng đau như cắt, nhớ đến mộ tổ bị bọn Tả Vịnh Thiện phá hoại, tim ông quặn thắt từng cơn.
“Anh à, lần này em đến là nhận sự ký thác của bà con họ hàng, mọi người đều nói anh ở thành phố có vai vế, có tiếng tăm, còn là đại sư nữa. Xem xem... xem xem có thể quyên góp chút tiền... xây dựng lại từ đường?...” Ngai Phúc nói.
Tam Bá đầu thoạt nghe hiểu ngay: hóa ra đến xin tiền! Tổ Gia tuy là người đứng đầu Đường khẩu, nhưng tiền đều do các anh em vất vả kiếm về, hơn nữa hài cốt cha mẹ Tổ Gia đã bị thất tán, đâu cần phải giúp bọn họ xây lại từ đường chứ!
Nghĩ đến đây, Tam Bá đầu thu hết can đảm nói một câu: “Ôi... chú Ngai Phúc à, tấm lòng của chú Tổ Gia nhà chúng tôi rất hiểu, kỳ thực ông còn đau lòng hơn các chú gấp bội, từ đường nhà các chú tuy bị phá, nhưng mộ tổ vẫn còn, chỉ cần dựng lại từ đường, mỗi nhà lập lại bài vị là có thể như xưa... Đáng thương cho Tổ Gia nhà chúng tôi... hài cốt lão thái công, lão tổ mẫu đều không còn, lập bài vị suông phỏng có ý nghĩa gì, nghĩ đến là tôi thấy đau lòng thay cho Tổ Gia...” Tam Bá đầu vờ chấm chấm nước mắt, chờ Tổ Gia lên tiếng.
Lời của Tam Bá đầu mang hai hàm ý: thứ nhất, nhắc Tổ Gia không cần phải quyên tiền đóng góp xây dựng từ đường; thứ hai, trách móc đám bà con họ hàng và Ngai Phúc ngay cả việc chăm nom mộ phần mà cũng không làm nổi, lại còn vác mặt đến xin tiền.
Tổ Gia nhìn Tam Bá đầu, sau đó bưng tách trà lên, uống một hớp, nói: “Ta sinh là người gia tộc Thượng Quan, chết làm ma gia tộc Thượng Quan, nếu không có gia tộc Thượng Quan huyết mạch truyền đời, sao có Quán Sinh ta ngày hôm nay? Gia phụ vốn xuất thân hàn vi, sau bỏ nghiệp văn theo nghề buôn bán, gia cảnh mới dần khá lên. Con người bất luận đi đến đâu, sống như thế nào, đều không được quên gốc gác... Còn việc hài cốt cha mẹ ta bị thất tán, âu cũng là số kiếp...”
Nghe đến đây, Ngai Phúc bỗng chen ngang: “Anh à, hài cốt ông nội, bà nội, chú, thím và anh cả có bị mất đâu?”
Tổ Gia sững người, tay bê tách trà ngưng lại giữa chừng, thất thần nhìn Ngai Phúc. Tam Bá đầu cũng không hiểu ra sao, sửng sốt nhìn Ngai Phúc.
“Anh không biết gì sao?” Ngai Phúc nói tiếp, “Ôi, cũng phải thôi, anh đi đâu chẳng biết! Mấy năm trước đánh nhau liên miên, phe nào đánh với phe nào chúng ta cũng chẳng biết. Tóm lại, ở quê ta luôn có quân đội đi qua, lúc thì quân trung ương, khi thì quân đông bắc, rồi đến quân Tứ Xuyên, quân Nhật, tốt xấu đủ cả, quân tốt đến cùng lắm là xin chút đồ ăn nước uống, quân xấu đến thì phiền phức rồi, chúng hết cướp bóc lại bắt bớ phụ nữ; còn có đám bại binh, không có gì để cướp thì nổ mìn phá mộ, trộm đồ tùy táng. Sau này, đội trưởng an ninh đã bàn bạc với trưởng lão của các gia tộc, âm thầm di dời mộ tổ các nhà đi nơi khác, mộ mới không đắp thành gò nên khó có thể nhận ra đó là khu mộ, bởi bên trên vẫn trồng hoa màu bình thường, còn khu mộ cũ vẫn giữ nguyên, chỉ có điều bên dưới không phải là hài cốt tổ tiên, mà là xương lợn, dê, không nhìn kỹ thì chẳng nhận ra được!”
Mắt Tổ Gia sáng bừng.
Ngai Phúc ngừng lại một chút, gãi gãi đầu nói tiếp: “Nhưng cũng thật nguy hiểm. Đêm hôm di dời mộ, em đẩy chiếc xe đẩy nhỏ, vừa bọc hài cốt ông bà nội, chú thím xong bỗng thấy một đám người đen ngòm xuất hiện. Mọi người đều hoảng sợ, lại gần thì ra là đám người chạy nạn, họ tưởng trên xe chúng em là đồ ăn được, liền xông đến cướp. Bà con không cho động vào, thế là đánh lộn lẫn nhau, em liều mạng ôm chặt hài cốt chú thím, họ liền dùng đá đập vào đầu em. Sau đó đội trưởng an ninh lấy súng bắn một phát chỉ thiên, họ mới bỏ chạy!” Nói đến đó, Ngai Phúc cúi đầu, bỏ cái mũ nỉ xuống, “Anh xem này, đây là vết sẹo bị đánh đêm đó, mất một mảng thịt, nhẵn thín không mọc được tóc. Ha ha, nên bây giờ em phải đội mũ để che đi...”
Tổ Gia đứng dậy xem mảng da nhẵn thín trên đầu Ngai Phúc, rồi ôm chặt lấy người anh em đồng hương.
“Chú liều mạng quá...” Tổ Gia vỗ lưng Ngai Phúc, cố kìm cho nước mắt không trào ra.
Ngai Phúc cười ngây ngô: “Anh à, anh quên rồi sao, mạng sống cả nhà em là do thím ban cho! Năm đó cha em qua đời, trong nhà không có nổi một đồng, bèn đến nhà địa chủ vay lãi, sau này lãi mẹ đẻ lãi con không thể trả nổi, địa chủ cho người đến nhà đòi nợ, còn cho người đi quật mộ cha em, mẹ em liều mạng với bọn chúng, bị chúng đánh gãy chân. Thế rồi... thế rồi nhờ thím bỏ tiền ra trả hộ, chủ nợ mới bỏ qua. Sau đó mẹ em nói với thím rằng số tiền này e là không thể trả ngay cho bà được, thím nói khi nào có thì trả cũng được, nhưng... nhưng chưa kịp đợi đến khi em có tiền trả... thím... thím đã...” Nói đến đó, Ngai Phúc bật khóc.
Nhớ đến người mẹ hiền từ của mình, Tổ Gia cũng không nén được nữa, nước mắt rơi lã chã.
Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo, đây là quy luật ngàn xưa không đổi. Mẹ Tổ Gia sinh thời làm nhiều việc thiện, chết đi vẫn phù hộ cho con cháu, Tổ Gia vốn đã tuyệt vọng, ở một đất nước có quan niệm tông tộc vô cùng sâu sắc này, một người đàn ông mà mộ tổ không còn thì đi đến đâu cũng chẳng thể ngẩng đầu lên được. Ngai Phúc đến khiến Tổ Gia như được hồi sinh.
Tin tốt lành này như trời ban cho cả Đường khẩu! Đã lâu lắm rồi các anh em mới thấy nụ cười xuất hiện trên gương mặt Tổ Gia. Đường hội cũng nhất trí thông qua: xuất ngân lượng khởi công xây dựng từ đường.
• • •
Hôm khánh thành từ đường, Tổ Gia đích thân viết sáu đôi liễn, tính từ hai bên cửa chính, cho đến hai bên phả hệ, lần lượt là:
Đôi thứ nhất: Thiên chi quy nhất bản, vạn gia tổng đồng nguyên;
Đôi thứ hai: Thượng Quan bách thế bất dịch, chưng thường vạn cổ như tư;
Đôi thứ ba: Tổ đức chấn thiên thu đại nghiệp, tông công khải bách thế văn minh;
Đôi thứ tư: Nhân nghĩa lễ trí tín, trung hiếu tiết đức hạnh;
Đôi thứ năm: Trí trung hòa, tộc duệ huyết mạch bản nguyên xuất; Tri vinh nhục, tông môn cốt khí đồng cân lai;
Đôi cuối cùng: Tổ đức tông công lưu bách thế, phụ từ tử hiếu vạn niên trường.
Hôm đó, Tổ Gia đã uống rất nhiều rượu.
Sau khi về lại nhà cũ, ông lăn ra ngủ. Trong giấc mơ, người mẹ hiền từ mỉm cười với ông, kể lại cho ông nghe câu chuyện trong Liễu Phàm tứ huấn.
Hôm sau trở về Thượng Hải, được vài hôm, Tổ Gia lại một mình ra ngoài. Đây là thói quen nhiều năm nay của ông, có lúc đi không dẫn theo đệ tử hay bá đầu, đến Tiểu Lục Tử luôn theo sát bảo vệ cũng không cho theo. Không ai dám hỏi ông đi đâu, càng không dám hỏi ông đi làm gì.
Tổ Gia nhớ đến một người từng là lão bá đầu phúc hậu, trung thành của Đường khẩu, người nay đã nương nhờ cửa Phật - Thanh Phong đại sư Chu Chấn Long.
Kháng chiến 8 năm, Tổ Gia không biết ngôi chùa nhỏ đó có còn hay không, người vẫn còn hay mất. Đôi khi, Tổ Gia cảm thấy mình chỉ có thể luận đàm được với người xuất gia.
Cuối cùng, ông đã thấy lại bóng dáng thân thuộc đó.
“Đại sư có khỏe không?” Tổ Gia chắp tay chào hỏi.
“A Di Đà Phật. Nhờ Tổ Gia nhớ đến, bần tăng vẫn khỏe,” Thanh Phong đại sư quan sát Tổ Gia, “ấn đường sáng sủa, màu sắc sáng nhuận, xem ra có hỷ sự.”
Tổ Gia mỉm cười, nói: “Là nghiệp báo nhân quả vậy.” Rồi chậm rãi kể lại chuyện hài cốt thất tán cho Thanh Phong đại sư nghe.
Thanh Phong đại sư nghe xong, gật gù: “Nhân quả tương báo, như ảnh tùy hình*.”
Tổ Gia chợt dâng lên một nỗi thương cảm, bất giác hỏi: “Nói đến nhân quả, có lúc tôi cũng mê muội. Gia mẫu một đời tính tình lương thiện, thích làm việc thiện, tại sao cuối cùng lại bị chết thảm dưới tay cường đạo? Người đáng chết phải là tôi đây...”
“A Di Đà Phật, thứ ông nhìn thấy là quả báo một đời, thứ bần tăng nhìn thấy là quả báo ba đời. Thời nhà Tống, ở Khai Phong có một người tên là Vương Giác, sinh ra trong một gia đình giàu có, từ khi lọt lòng đã bị mù, nhưng bù lại ông ta có tấm lòng vô cùng lương thiện. Năm 30 tuổi, cha mẹ qua đời, sau khi an táng cho cha mẹ xong, ông ta đem toàn bộ số tiền còn lại trong nhà xây cầu cho người dân vùng đó. Trong lúc xây cầu, ông ta bị đá đè gãy cả hai chân, hàng xóm khuyên ông ta đừng nên xây nữa, giữ lại chút tiền mà dưỡng bệnh. Ông ta khăng khăng xây tiếp, cuối cùng cầu cũng xây xong. Nhưng hôm khánh thành cầu, trời bỗng mưa như trút nước, sau một tiếng nổ lớn, Vương Giác bị sét đánh trúng chết ngay tại chỗ. Dân chúng phẫn nộ mắng ông trời: còn có đạo trời không? Ông ta vốn là một người mù, vì xây cầu mà gãy cả hai chân, đúng lúc cầu xây xong lại bị sét đánh chết, ông trời có mắt không vậy? Sau đó sự việc đến tai Bao Chửng. Để xoa dịu nỗi bất bình của dân chúng, Bao đại nhân đích thân lập một tấm bia đá ở đầu cầu, trên bia có viết: Thương thiên vô nhãn, nhân gian hữu tình*. Nhưng Bao đại nhân cũng không sao lý giải được, bèn đến thỉnh giáo một vị cao tăng tên là Trí Ngô. Đại sư Trí Ngô cười ha hả, nói với Bao đại nhân rằng: ‘Mọi người không cần thương xót cho Vương Giác mà nên mừng cho ông ta, bởi người này do tạo nghiệp ở kiếp trước, vốn phải chịu trừng phạt ba kiếp, một kiếp bị mù, một kiếp bị què, một kiếp bị sét đánh, nhưng ông ta một lòng hướng thiện, ông trời cho ông ta trả hết trong một kiếp, được đầu thai làm người bình thường trong kiếp sau!’ Bao Chửng nghe xong, hỏi một cách thẳng thắn: Làm sao biết được đại sư có lừa ta hay không?’ Trí Ngô trả lời: ‘Người xuất gia không dám vọng ngôn. Ba ngày sau, cách phủ Khai Phong 20 dặm về phía Nam, ở thôn Bảo Thiện Đường có một đứa bé sắp ra đời, khi sinh ra sau lưng có một cái bớt, chính là vết sét đánh hôm đó, đứa bé này tương lai ắt là một nhân tài!’ Ba ngày sau, Bao đại nhân đích thân dẫn người đến thôn Bảo Thiện Đường xem xét, khi mở tã lót của đứa bé, thấy một vết bớt bằng ngón tay cái, Bao Chửng khẽ rùng mình, hít sâu một cái...”
Tổ Gia nghe xong, gật đầu tâm đắc.
“Tổ Gia, lệnh đường tuy bị kẻ ác sát hại, nhưng đó là bảo vệ ông, giữ được huyết mạch, Tổ Gia nay mới có thể thay trời hành đạo, hành thiện giúp đời, đây chính là thiện duyên,” Thanh Phong đại sư mỉm cười, “nếu không già trẻ lớn bé nhà Tổ Gia đều đã bỏ mạng dưới tay cường đạo rồi cũng nên? Huống hồ bản thân Tổ Gia cũng nhận thấy định luật nhân quả, thiện giả thiện báo, nếu khi còn sống lệnh đường không hay làm việc thiện, vậy ai sẽ mạo hiểm tính mạng bảo vệ hài cốt nhà ông đây?”
Tổ Gia gật đầu: “Đúng vậy, đại sư nói rất có lý, nhưng tôi nay đang làm việc thiện sao?”
Thanh Phong đại sư thở dài một tiếng: “Xem ra, Tổ Gia cũng đã nhận ra sự tai hại của phái Giang Tướng...”
“Đại sư, tôi phải làm sao bây giờ?”
“Tổ Gia sẽ tự tìm được cách, chỉ có điều cơ duyên chưa tới...” Nói đến đây, Thanh Phong đại sư ngừng lại một chút, nhìn dãy núi mênh mông ngoài cửa sổ, thong thả tụng một đoạn Phật kệ:
Nhân thân nan đắc, kim dĩ đắc,
Phật pháp nan văn kim dĩ văn;
Thử thân bất hướng kim sinh độ,
Cánh đãi hà sinh độ thử thân?*
Đây như nói cho Tổ Gia nghe, cũng như nói cho bản thân nghe vậy.
Tổ Gia trầm ngâm cúi đầu.
Kể từ đó, Tổ Gia bắt đầu lên kế hoạch hành thiện giúp đời. Sau này, cuối cùng ông cũng đưa được phái Giang Tướng trở về chính đạo, vì tấm lòng hướng thiện của ông cũng giống như Viên Liễu Phàm thoát khỏi sự trói buộc của số mệnh, đạo sĩ tướng số nói ông thọ không quá 50, hơn nữa không có con nối dõi, nhưng ông lại có con trai, hơn nữa còn là quân nhân xuất sắc, còn về thọ mệnh của ông, các anh em đều cho rằng ông thọ 52 tuổi, nhưng giang hồ đồn đoán xôn xao, và đều không có căn cứ chính xác...
NHÂN VẬT SỐ HAI QUÂN THỐNG TIÊU DIỆT THẦY TƯỚNG SỐ
Trong khi Tổ Gia bái sư luận đạo, mưu hoạch đại cục thì Giang Phi Yến cũng bận tối tăm mặt mũi ở Nam Việt. Kháng chiến kết thúc, người dân nơi đây biết tin Giang Phi Yến trở về liền vội tìm đến xem tướng, ngay cả người Hồng Kông ở bên kia eo biển cũng đáp thuyền sang, đại đệ tử của Tuệ Từ tiên cô, danh hiệu này quả không thổi phồng chút nào - “Sau Ngũ Nương có Yến tỷ, dung nhan vượt trội, hương thơm hơn cả lão nương.”
Một số thương nhân Hồng Kông không chỉ đến xem bói mà còn muốn mục sở thị dung nhan xinh đẹp của Giang Phi Yến, thưởng thức hương thơm tỏa ra trên người bà.
Một hôm, Giang Phi Yến đang tiếp đón một nhân vật tai to mặt lớn đến từ Hồng Kông, bỗng đệ tử vào báo: “Phùng Thiếu tướng đến.
Phùng Tư Viễn của Quân thống có công lớn trong việc thu thập tin tình báo thời kỳ kháng Nhật, nay đã được thăng lên hàm Thiếu tướng.
“Ôi chao, Đại Tướng quân của em đến rồi...” Trong thư phòng, Giang Phi Yến cười nói giả lả.
“Yến tỷ chớ nói như vậy, Đại Tướng quân cũng bị bà đùa bỡn xoay như chong chóng!” Phùng Tư Viễn đáp.
Giang Phi Yến nhận thấy lời của Phùng Tư Viễn có gì đó không bình thường, nhưng vẫn mỉm cười hỏi: “Gì vậy chứ, lẽ nào có kẻ làm Đại Tướng quân nhà chúng ta không vui? Lại đây, em bóp vai cho Tướng quân.” Nói rồi liền bước lại.
Phùng Tư Viễn giữ tay Giang Phi Yến, chầm chậm né tránh.
“Ông...” Giang Phi Yến càng cảm thấy có gì đó không ổn.
“Có phải tôi rất dễ dắt mũi?” Phùng Tư Viễn đột nhiên hỏi.
“Ông có ý gì?” Giang Phi Yến làm bộ tức giận.
“Vẫn chưa thôi bỡn cợt?” Phùng Tư Viễn lạnh lùng nói.
“Tướng quân nói như vậy, Giang Phi Yến cũng không biết phải trả lời thế nào! Giang Phi Yến cố giữ vẻ điềm tĩnh.
“Tốt, tốt, rất tốt!” Phùng Tư Viễn cười nhạt rồi lẩm bẩm, “Không thể trách kẻ đi lừa, mà nên trách người để bị lừa. Xem ra Yến tỷ thực sự coi ta là ‘Đại Nhất’* rồi!”
Giang Phi Yến nghe như sét đánh ngang tai, có chuyện gì vậy, sao ông ta biết được? Có chỗ nào bị lộ rồi ư? Giang Phi Yến nhanh chóng ứng biến: “Ha ha, Tướng quân nói gì vậy? Là ca dao sao?”
“Ha ha ha ha!” Phùng Tư Viễn đột nhiên ngửa mặt cười vang, tiếng cười chất chứa nỗi u uất vô hạn, “Phùng Tư Viễn ta từ năm 25 tuổi biết yêu một người. Cô ấy hơn ta sáu tuổi, vô cùng xinh đẹp, lại còn thông minh hơn người, am hiểu âm dương, hô phong hoán vũ. Trong mắt người khác, cô ấy là thần tiên, nhưng trong mắt ta cô ấy là một cô gái tốt, cô ấy có sự dịu dàng của người vợ, có tình yêu thương của người mẹ. Mỗi lần ta cuộn mình trong vòng tay của cô ấy, chìm vào giấc ngủ trong làn hương tỏa ra trên người cô ấy, ta cảm thấy đây chính là cõi tịnh độ duy nhất trên thế gian ô trọc này, nơi duy nhất đem đến cho ta sự bình yên trong tâm hồn! Nhưng, ta đã lầm, thực sự đã lầm! Đó không phải là cõi tịnh độ, là âm mưu, là nơi ô trọc hơn bất kỳ nơi ô trọc nào trên thế gian này! Ta thật không biết bà cảm thấy thế nào mỗi khi xoa đầu ta, ru ta ngủ mà trong lòng vẫn nhớ đến kẻ khác?
“Ông...” Giang Phi Yến định lên tiếng.
“Bà đừng nói gì cả!” Phùng Tư Viễn lạnh lùng nói, hai hàng nước mắt chảy dài trên gò má, “Bà để ta nói hết đã. Bà luôn lợi dụng ta, lợi dụng ta làm cái ô bảo vệ bà, nhằm moi tin tức từ ta! Lợi dụng cả lòng si mê và sự ngu ngốc của ta nữa! Thật không ngờ, thật không ngờ... Ta đường đường là một đấng nam nhi, mình cao bảy thước, xuất thân đặc vụ, lại bị một kẻ giang hồ lừa đảo đùa bỡn!”
“Có phải bà thấy ta dễ lừa, dễ đùa bỡn lắm phải không? Phải không? Phải thế không?” Phùng Tư Viễn vừa nói vừa chầm chậm tiến sát Giang Phi Yến, túm lấy cổ bà, “Bà nói đi, phải thế không?!” Tiếng quát của Phùng Tư Viễn làm rúng động cả căn phòng.
Giang Phi Yến im lặng nhìn ông ta, hai hàng nước mắt cũng từ từ lăn xuống.
Phùng Tư Viễn sững lại, chầm chậm nới lỏng tay, rồi ôm chặt Giang Phi Yến vào lòng: “Tôi sai rồi! Tôi sai rồi! Bà đừng lừa tôi nữa! Đừng lừa nữa!” Nói rồi, bật khóc nức nở.
Hai người khóc rất lâu, Giang Phi Yến khẽ nói: “Ông cho rằng khi lừa ông tôi sung sướng lắm sao? Ngày nào tôi cũng dằn vặt bản thân. Tôi không sợ kẻ háo sắc, cũng không sợ kẻ khốn kiếp ăn xong quẹt miệng bỏ đi, tôi sợ nhất kẻ đa tình như ông, lừa ông chính là lừa bản thân mình. Nay ông đã biết hết chân tướng, ông đau khổ, nhưng tôi đau khổ ngay từ ngày đầu gặp ông, tôi đã giấu giếm bao nhiêu năm, nay ông đã nói thẳng ra, tôi cũng được giải thoát! Ông muốn chém muốn giết tùy ý...”
“Tôi sao nỡ giết bà...” Phùng Tư Viễn thở dài, “nhiều lúc thật mong bản thân có thể làm được như Đới Cục trưởng, kẻ nào phương hại đến lợi ích của mình, sẵn sàng thẳng tay giết bỏ. Huống hồ bà còn lừa tôi lâu như vậy, bởi tôi yêu bà, nên đã chui qua bao nhiêu thòng lọng của bà, cũng không biết đã để lộ bao nhiêu bí mật...”
“Ông nói rất đúng! Tôi lừa ông đã lâu, cũng moi được rất nhiều bí mật từ ông, nhưng ông nghĩ kỹ xem, tôi đã từng làm hại ông chưa? Ông đã tổn thất gì vì tôi chưa? Tôi lừa ông là vì sự sinh tồn của bản thân, mạng của chúng tôi không bằng mạng của Tướng quân, chúng tôi cần nương nhờ sự bảo vệ của người khác... Hơn nữa tôi cũng luôn phụ giúp cho ông, ví dụ như tôi tiến cử Tổ Gia cho Đới Cục trưởng thông qua ông, sau cùng chẳng phải ông ta rất vui đó sao? Ông ta vui mừng tức là ông lập được công lớn. Đương nhiên ông có thể nói rằng đó là để lừa một vố lớn hơn, thu được nhiều lợi ích hơn. Nhưng trên thực tế quả thực không có ai bị hại, chúng tôi không muốn hại người, đó chỉ là vì sinh tồn, vì bảo vệ bản thân... Giang Phi Yến nói.
“Bà có yêu tôi không?” Phùng Tư Viễn bỗng hỏi.
Giang Phi Yến trầm ngâm, lúc lâu sau mới nói: “Con người đâu phải cỏ cây, tôi và ông quen biết nhau lâu như vậy, lại... lại nhiều lần ân ái, nói không có tình cảm là giả dối, nhưng... nhưng phần nhiều là nỗi hổ thẹn...
“Nhưng... bà có biết tôi yêu bà thế nào không?” Phùng Tư Viễn nước mắt lại rơi.
“Phi Yến chỉ là kẻ lừa đảo lỡ sa chốn hồng trần, không đáng để Tướng quân nặng lòng như vậy.” Giang Phi Yến cũng bật khóc.
“Ta biết trong lòng bà chỉ có Tổ Gia, nhưng ông ta không hề đáp lại, bà không mệt mỏi sao?” Phùng Tư Viễn hỏi.
“Vậy ông yêu tôi lâu như vậy, ông có thấy mệt mỏi không?” Giang Phi Yến hỏi lại.
“Không hề, không một chút nào!” Phùng Tư Viễn đáp.
“Đúng vậy, có tình cảm là có tất cả, không bao giờ hối hận.” Giang Phi Yến nói.
“Vậy... vậy tôi có thể hỏi bà một câu không?” Mặt Phùng Tư Viễn bỗng đỏ bừng.
Giang Phi Yến nhìn ông ta: “Tôi biết ông muốn hỏi điều gì, ông muốn hỏi tôi và Tổ Gia có ăn nằm với nhau không chứ gì?
“Ông đừng nghĩ người trong giang hồ chúng tôi phóng túng như vậy, quốc có quốc pháp, bang có bang quy, đôi khi những người thôn dã chúng tôi còn sạch sẽ hơn đám quan lại quyền quý ở miếu đường như các ông nhiều! Dưới ánh mặt trời, các ông là người, tắt đèn rồi, các ông khác gì quỷ? Còn chúng tôi lại là quỷ dưới ánh mặt trời, người trước kẻ sau chẳng khác gì nhau. Tổ Gia là bậc chính trực nhân nghĩa, ông ấy không làm cái việc quan hệ bất chính đó, càng không định kết hôn với tôi...” Giang Phi Yến mỉm cười cay đắng.
“Tại sao vậy? Các người có tiền, có đường đi nước bước, ông ta nên dẫn bà bỏ đi từ lâu rồi!” Phùng Tư Viễn hỏi.
“Ủy viên trưởng các ông còn nhiều tiền hơn, càng có đường đi nước bước hơn, sao ông ta không chạy?” Giang Phi Yến vặn lại.
“Điều này không mang ra đùa được! Uỷ viên trưởng muốn bình định bốn biển, thống nhất Trung Quốc.” Phùng Tư Viễn nói.
“Đúng thế, ai cũng có sứ mệnh của riêng mình, Tổ Gia cũng phải lo cho cả bang phái, lớn có việc của lớn, nhỏ có việc của nhỏ!” Giang Phi Yến nói.
“Vậy Tổ Gia kiên định đến thế sao? Bà đẹp như vậy, ông ta chưa từng động lòng sao?” Phùng Tư Viễn thắc mắc.
“Động lòng và động thủ là hai việc khác nhau. Giống như rất nhiều binh sĩ Quốc dân Đảng đều thích phu nhân Tống Mỹ Linh, nhưng họ chỉ nghĩ trong lòng mà thôi, ông có thể lôi họ ra xử bắn không?” Giang Phi Yến phản bác.
“Ha ha,” PhùngTư Viễn bật cười, “có lý, có lý.”
“Ôi. Nếu không muốn người khác biết, tốt nhất là đừng có làm. Người làm trời biết, sớm muộn sẽ có lúc bị phơi bày. Năm 1936, Tổ Gia liên thủ với thuộc hạ của Vương Á Tiều là Trương Ân Thụy lập bẫy mỹ nhân, lừa Từ Hoài Cận, bạn đồng liêu với tôi ở Cục Quân thống, bà có biết việc này không?”
Thấy Phùng Tư Viễn đã biết rõ như vậy, Giang Phi Yến đành gật đầu thừa nhận.
“Sau khi chạy khỏi Quân thống, Từ Hoài Cận đến Hồng Kông, sau đó đi Nam Dương. Người này với tôi rất thân thiết, khi ông ta đi, tôi còn yểm hộ ông ta. Thời kỳ sau kháng chiến năm 1944, nhân lúc trong nước hỗn loạn, ông ta lén trở về đại lục, không biết bằng cách nào tìm được mộ cô kỹ nữ Hoa Nguyệt Dung mà ông ta yêu dấu, phát hiện có một viên sĩ quan Quốc dân Đảng tên là Trương Ân Thụy táng chung với cô ấy. Ông ta nhờ tôi điều tra xem Trương Ân Thụy là ai, qua tài liệu tình báo Quân thống, được biết người này là thuộc hạ của Vương Á Tiều. Sau khi Vương Á Tiều chết, Trương Ân Thụy đi theo Lý Tế Thâm, sau lại đầu quân cho Lý Tôn Nhân thuộc Quế hệ, năm 1940, ông ta bị thương nặng trong chiến dịch Quế Nam, và có ước nguyện rằng muốn được ở cùng Hoa Nguyệt Dung sau khi chết. Khi đó, Từ Hoài Cận ngỡ rằng mình bị lừa! Thẹn quá hóa giận, ông ta đào mộ Hoa Nguyệt Dung, định bật nắp quan tài đập nát hài cốt cho hả mối hận trong lòng! Nào ngờ lại phát hiện ra di thư của Hoa Nguyêt Dung trong quan tài, sau khi đọc xong, mới biết Hoa Nguyệt Dung thực sự yêu mình, hơn nữa cam chịu chết vì ông ta! Đọc xong tuyệt bút của Hoa Nguyệt Dung, Từ Hoài Cận quỳ sụp trước mộ, khóc liền ba canh giờ! Bản thân Hoa Nguyệt Dung cũng không thể ngờ bức thư không thể gửi đi đó, tám năm sau lại được người yêu mình tận mắt đọc! Từ Hoài Cận nhẹ nhàng gom hài cốt Hoa Nguyệt Dung, rồi dùng áo bọc lại, rời khỏi đại lục, trước lúc đi nói với tôi rằng, đời này ông ta sẽ không quay lại đây nữa, ông ta muốn đem Hoa Nguyệt Dung đến một nơi không ai có thể tìm thấy họ...”
Kể đến đây, Phùng Tư Viễn hai mắt ngấn đỏ, Nước mắt Giang Phi Yến cũng tuôn rơi tự lúc nào.
Phùng Tư Viễn bước tới, ôm chặt Giang Phi Yến vào lòng.
Giang Phi Yến thổn thức: “Ông chớ ngốc nghếch như Từ Hoài Cận, tôi không đáng để ông phải như vậy. Tôi già rồi, hằng ngày trang điểm, tô son kẻ phấn mới tạm nhìn được, ông hãy mau tìm một cô gái trẻ mà cưới đi...”
Vòng tay của Phùng Tư Viễn lại càng siết chặt hơn: “Yêu là không thể thay thế, nêu có thể thay thế, đó không phải là yêu.”
“Nhưng ông là Thiếu tướng, tôi là kẻ lừa đảo...”
“Tôi yêu Giang Phi Yến, bất kể cô ấy có phải là kẻ lừa đảo hay không.” Phùng Tư Viễn nói từng câu từng chữ.
“Báo cáo!” tên đặc vụ ngoài cửa hô to.
Phùng Tư Viễn hắng giọng: “Đợi một chút!” Đoạn lau khô nước mắt cho Giang Phi Yến, hôn bà một cái rồi bước ra ngoài.
“Có điện của Mao Cục trưởng!” Nói rồi, tên đặc vụ đưa cho Phùng Tư Viễn một bức điện.
Phùng Tư Viễn mở ra xem, bất giác hít một hơi khí lạnh: phải bắt Tổ Gia!
Hết tập 3