Nếp Cũ Con Người Việt Nam - Chương 07: Hôn nhân
CHƯƠNG 7 : HÔN NHÂN
Phương-ngôn có câu : « Nữ thập tam, nam thập lục » là có ý nói con gái mười ba tuổi, con trai mười sáu tuổi đã bắt đầu có thể hiểu được sự đời. Căn-cứ theo câu phương-ngôn trên, xưa kia tại nước ta việc giá-thú được cử-hành rất sớm, thường con trai 15, 16 tuổi đã được bố mẹ lo kén vợ, và con gái mới 13 tuổi cũng được bố mẹ tính tới chuyện gả chồng.
Tuy vậy cũng có người, việc lấy vợ thường để rất muộn, nhất là đối với các thư-sinh. Những thư-sinh này họ lo thi đậu trước, lấy vợ sau, và việc lấy vợ, cũng được coi như thi đậu, bởi vậy người xưa mới nói thi đậu là đại đăng khoa, còn lấy vợ là tiểu đăng khoa.
Tục-lệ cưới xin của ta phần lớn bắt chước theo phong-tục Tàu và ta cẩn-trọng trong vấn đề giá-thú.
Nói tới những tục-lệ về hôn-lễ trước hết xin định-nghĩa hai chữ Giá-thú.
I. GIÁ-THÚ
Thân-trọng-Huề trong « Học-Luật-lệ An-nam », nói :
« Giá-thú là một cái lễ mà người đàn bà rời bỏ nhà mình để về nhà chồng ».
Theo tục-lệ xưa, con gái đã lấy chồng phải theo chồng không được về nhà mình. Khi cha mẹ còn sống còn được về thăm một đôi lần, nhưng khi cha mẹ đã khuất-núi, người con gái đã lấy chồng không được về ở với anh em trai mình.
« Lấy chồng gánh-vác giang-sơn nhà chồng ». Tục ta, cha mẹ chồng được trọng hơn cha mẹ mình, khi để tang cha mẹ chồng y-phục cũng sô-gai hơn để tang cha mẹ đẻ.
Theo Kinh-lễ, thiên Hôn-Lễ, giá-thú được định nghĩa hơi khác :
« Giá-thú là một cái lễ nhân đó người đàn ông lo nối dòng họ nhà mình, gây dựng con cháu ».
Đúng vậy người đàn ông có lấy vợ mới sinh con để nối dõi tông-đường, và theo quan-niệm Đông-phương sự nối-dõi rất quan-trọng, kẻ không con nối dõi là kẻ bất-hiếu.
Vì giá-thú là một cái lễ nên phải có mệnh cha mẹ, có môi-nhân. Người xưa cho đôi trai gái tự do lấy nhau là đáng chê. Kinh-Thi cười là người trên bộc trong dâu, Kinh-Lễ chê là kẻ trèo tường dòm vách, còn tại Việt-Nam chê là vợ theo coi không phải trong hàng bố-kinh. Chính luật pháp của ta ngày xưa cũng nghiêm-cấm sự hòa-gian, thông-gian.
Vợ chồng là cội-rễ của xã-hội, việc giá-thú do đó phải theo lễ mới hợp đạo người.
II. KÉN VỢ, KÉN CHỒNG
Nói theo lễ mới hợp đạo người không phải là bảo rằng cứ hai người nào cũng lấy nhau theo lễ được. Lễ chỉ cử hành sau khi một cập trai gái đã thuận-tình nhau và đã được đôi bên cha mẹ đều ưng.
Đi đến sự thuận-tình phải có sự kén chọn. Trai đến tuổi kén vợ, gái đến tuổi kén chồng ! Nói thì nói vậy, thực ra, ngày xưa, sự kén vợ kén chồng do bố mẹ định đoạt nhiều hơn là chính do các đương-sự.
Như trên đã nói, trai gái Việt-Nam thành-hôn rất sớm, đâu đã đủ khôn ngoan để kén lấy người trăm năm nên việc kén chọn phải do bố mẹ.
« Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống », các bậc cha mẹ mới đủ hiểu biết để tìm tông tìm giống cho con cái mình. Vì kén chọn xưa không giống ngày nay. Điều chú trọng đầu tiên là phải môn-đăng hộ-đối, nghĩa là gia-thế đôi bên nhà trai nhà gái phải tương-xứng với nhau, và địa-vị xã-hội của đôi bên cũng ngang nhau.
Kén vợ cho con người ta kén con ông cháu cha, cũng như kén chồng cho con người chú trọng đến dòng dõi của chàng rể.
Tuy việc cưới xin liên-quan tới mình nhưng con hiếu không bao giờ cưỡng mệnh cha mẹ. Con gái « cha mẹ đặt đâu ngồi đấy », nghĩa là gả bán cho ai phải ưng người đó làm chồng, còn con trai cũng vậy, cha mẹ đã kén vợ cho không bao giờ từ chối.
Ngoài việc kén con ông cháu cha, khi kén vợ cho con, người ta chú-trọng tới đức hạnh của người con gái nhiều hơn nhan-sắc. Ta đã có câu : « Cái nết đánh chết cái đẹp », và cũng có câu : « Sắc đẹp không mài ra ăn được ».
Trong việc hôn-nhân, tuy chú-trọng tới vấn-đề môn-đăng hộ-đối, nhưng người ta lại dửng dưng với việc tiền-tài. Giá-thú bất luận tài. Và chính các cô gái cũng như các chàng trai cũng không lấy sự giàu nghèo làm tiêu-chuẩn trong vấn-đề hôn nhân.
« Số giàu lấy khó cũng giàu,
Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo ! »
Trai gái chỉ chú-trọng tới sự đẹp đôi vừa lứa :
« Đôi ta như lúa phơi mầu,
Đẹp duyên thì lấy tham giàu mà chi ! »
Việc kén chọn tuy do cha mẹ, nhưng cũng nhiều trường hợp cha mẹ để tự ý con vì : « Ép dầu, ép mỡ, ai nỡ ép duyên ».
III. VIỆC GẶP-GỠ GIỮA TRAI GÁI
Phong-tục Việt Nam theo phong tục Trung-Hoa và thấm-nhuần đạo-lý của Khổng-giáo, theo đó nam-nữ hữu-biệt để tránh những sự đụng chạm, đưa đến trò trên bộc trong dâu. Tuy nhiên, sự hữu-biệt của nam-nữ cũng không đến nỗi quá khắt-khe, vì phong-tục vẫn tạo nên nhiều dịp để trai gái có thể gặp gỡ được nhau.
Trong gia-đình, giữa anh em trai chị em gái cũng có sự giữ-gìn, nhưng trong những hội-hè đình-đám thì trai gái lại có thể được gặp nhau.
Tại miền Bắc có những tục hát đối giữa nam và nữ như : hát quan-họ, hát ví, hát trống-quân, tại miền Trung và miền Nam có những buổi hát hò. Đây là những dịp trai gái gặp nhau, và có thể tìm hiểu nhau qua câu ca giọng hát. Hiểu nhau để thương yêu nhau, và để rồi cùng nhau châu-trần kết bạn chứ không phải hiểu nhau để thành một cặp nhân-tình, phạm lỗi với lễ-giáo.
Trong những ngày hội làng, hội tổng, ngoài những cặp trai gái đối hát với nhau, còn những cặp trai gái khác cũng nhân ngày hội mà gần-gũi, hiểu rõ gia-thế nhau, trao đổi cùng nhau một vài câu chuyện trong lúc đi xem hội, xem hát. Nhiều làng có tổ-chức những buổi hát chèo, hát tuồng để dân xã và cả thiên-hạ nữa tới mua vui. Ở đây trai gái cũng được gặp-gỡ nhau nhưng đôi bên cũng phải gìn-giữ trong vòng lễ-giáo. Những gái lẳng-lơ, trai đĩ tính muốn cùng nhau giở trò ong bướm vượt qua lễ-giáo đều bị mọi người khinh rẻ chê cười.
Trai gái gặp-gỡ quen biết nhau trong ngày hội để đưa tới cuộc nhân-duyên trăm năm, và phong-tục cũng chỉ tha thứ trong giới hạn đó.
Những lúc gặp-gỡ này, những kỳ hội hè này là những cơ-hội cho trai kén vợ, gái kén chồng. Ca dao ta có câu :
« Chim khôn đậu nóc nhà quan,
Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng ! »
Trai tìm vợ thì kén đức, nhưng cũng có khi kén sắc, còn gái kén chồng thường kén bậc tài-hoa :
« Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bỏ công trang điểm má hồng răng đen ».
Thường trong những cuộc gặp-gỡ tại các đám hội đám hát, con trai bao giờ cũng thả lời ướm-hỏi trước :
« Ai đi đâu đấy hỡi ai,
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm ? »
Thường những câu hát đều là những câu ca-dao có sẵn, trong đó có thể dùng cho cả đôi bên cùng hát để ướm-hỏi lẫn nhau :
« Ai ơi đợi mấy tôi cùng,
Tôi còn gỡ mối tơ lòng chưa ra ! »
Nhưng cũng có câu dành riêng cho các chàng trai hoặc riêng cho các cô gái :
- « Thuyền ai lơ-lửng bên sông,
Có lòng đợi khách hay không hỡi thuyền ? »
- « Giao vàng bỏ đẫy kim nhung,
Hỏi người quân tử có dùng hay chăng ? »
- « Đã say, say chốn mỹ-miều,
Trăm gươm kề cổ cũng liều mà say ! »
- « Đã say, say chốn thuyền quyên,
Những nơi tiền của không thèm ngó qua ! »
Khi đã gặp-gỡ nhau rồi, trai gái thường lấy « Miếng trầu để làm đầu câu chuyện ». Họ mời nhau :
« Yêu nhau ăn một miếng trầu,
Gọi là nghĩa cũ về sau mà chào ! »
Ca-dao của ta nói đến miếng trầu nhiều lắm, vì nhiều khi « Miếng trầu nên dâu nhà người ».
« Ra vườn hái quả cam xanh,
Bổ ra làm bốn chiềng anh xơi trầu.
Trầu này têm những vôi tàu,
Ở giữa đệm quế, đôi đầu hoa chanh.
Trầu này, trầu lộc trầu danh,
Trầu nhân, trầu nghĩa, trầu mình, trầu ta.
Trầu này nhuộm thắm duyên ta,
Đầu xanh cho đến tuổi già không phai ».
Sau khi đôi trai gái đã tìm hiểu nhau, cuộc nhân-duyên có thể bắt đầu súc tiến !
IV. HÔN LỄ
Trình bày về hôn-lễ, ông Thân-trọng-Huề có viết :
« Người đàn-ông đàn-bà lấy nhau đầu là sự ngẫu-nhiên. Truy nguyên-thủy thủa trước đời thái-cổ, khi loài người còn ăn lông mặc lá, ở hang, ở lỗ, chưa có phép-tắc thì đàn-ông đàn-bà lấy nhau như loài cầm-thú, lần-lần mới lập phép-tắc để phân-biệt với loài cầm-thú. Đã lập hôn-lễ thì không lễ không thành hôn… »
Xưa trong việc giá-thú ta có 6 lễ :
- Lễ nạp-thái tức là lễ đôi bên nhà trai nhà gái trao-đổi sự đính-ước. Nhà trai đem tới nhà gái một chõ nhạn, với ý-nghĩa là đã chọn có nơi.
- Lễ vấn-danh tức là lễ hỏi tên hỏi tuổi, ngày sinh tháng đẻ của người con gái.
- Lễ nạp-cát tức là lễ chấp-nhận sự đính-ước sau khi nhà trai đã so đôi tuổi, và tuổi đôi bên đã hợp nhau.
- Lễ nạp-tệ tức là lễ ăn hỏi. Trong lễ nạp-tệ, nhà trai mang hàng lụa tới nhà gái để chứng tỏ việc lứa đôi là chắc chắn.
- Lễ thỉnh-kỳ tức là lễ xin cưới.
- Lễ thân-nghinh tức là lễ cưới. Hôm lễ thân-nghinh nhà trai tới rước dâu về.
Đó là sáu lễ của người xưa, theo Chu-Công lục-lễ, nhưng phong-tục đổi dần và về sau, tại Việt Nam ta còn các lễ sau đây :
1) BẮN TIN
Sau khi người con trai đã tìm hiểu và đã có ý kén người con gái làm bạn trăm năm, bố mẹ chàng trai nhờ người đưa tin cho bố mẹ cô gái biết xem bố mẹ cô gái ưng chịu hay không ưng chịu thì cho tin lại.
Về tục bắn-tin này, luật ta xưa có nói rằng : « Trước khi đi hỏi, nhà con trai con gái phải làm hôn-thư, kể rõ hai người ấy có bệnh tật gì không, con vợ cả hay con vợ lẽ ».
Ngày nay, lễ lập hôn-thú không còn nữa, đôi bên chỉ nói miệng cho nhau.
Trước đây về hồi tiền-chiến, một đôi gia-đình sang-trọng khi cưới xin phỏng theo sách « Văn-Công gia lễ » làm hôn-thiếp bằng giấy hồng-đào, có kê đồ lễ vật, nhưng đây chỉ là trường-hợp rất hạn-hữu.
2) CHẠM-NGÕ HAY XEM-MẶT
Có nhiều cặp trai gái, đã gặp-gỡ nhau trước rồi mới lấy nhau, nhưng như trên đã nói, việc hôn nhân do cha mẹ định, nên có nhiều đôi trai gái không hề biết mặt nhau. Lễ chạm-ngõ để chàng trai xem mặt cô gái, và cũng là dịp để cô gái thấy rõ người phối-ngẫu tương-lai của mình.
Lẽ tất nhiên tin đi mối lại phải nhờ ông mai bà mai. Ông mai bà mai thường nói hay cho cả đôi bên, đôi bên cũng nhân lễ chạm-ngõ xác-nhận được lời nói của ông hoặc bà mai.
Trong lễ chạm-ngõ, đôi bên thường khơi ra những câu chuyện để tìm hiểu chú rể cô dâu, nhất là nhà trai. Muốn tìm biết cô dâu trong lúc ở nhà mình, nhà trai nhìn cô dâu trong công việc làm, xét cô dâu trong cử-chỉ.
Trong nhiều cuộc hôn nhân, việc chạm-ngõ chỉ làm theo tục-lệ, đôi bên hai họ đều tin cả ở ông mai, bà mai.
Giờ đây, lễ chạm-ngõ chỉ còn là một lễ theo hình-thức vì thường khi đôi bên trai gái đã hiểu rõ nhau lắm, không cần phải đợi tới ngày chạm-ngõ mới biết được nhau.
3) ĂN-GIẠM HAY VẤN-DANH
Lễ này ngày nay không còn, và đã không còn từ lâu, từ trước hồi tiền chiến.
Theo tục-lệ, khi ông mai hoặc bà mai đã được nhà gái trả lời ưng thuận hôn-nhân, liền báo tin cho nhà trai biết. Kế đó, ông hoặc bà mai dẫn mấy đại-diện của nhà trai tới nhà gái với lễ-vật, thường gồm cau, trầu, chè rượu. Trong dịp này, nhà trai xin tờ lộc-mệnh của cô dâu, tức là tờ giấy ghi ngày sinh tháng đẻ.
4) ĂN-HỎI HAY NẠP-TỆ
Sau lễ ăn-giạm rồi, ông hoặc bà mai liên-lạc với nhà gái để ấn-định ngày lễ ăn-hỏi.
Đến ngày ấn-định, ông hoặc bà mai dẫn nhà trai mang lễ vật tới nhà gái.
Nhà gái nhận lễ ăn hỏi tức là chính thức công-nhận sự gả con gái cho nhà trai, và kể từ ngày ăn-hỏi, đôi trai gái đã nghiễm-nhiên thành cặp vợ chồng chưa cưới.
Lễ ăn-hỏi gồm trầu, cau, rượu, chè và bánh trái.
Những nhà cổ thường dùng bánh cặp nghĩa là gồm hai thứ bánh tượng-trưng cho âm và dương. Những cặp bánh thường được dùng trong lễ ăn-hỏi là bánh xôi-xê và bánh cốm, bánh cốm tượng-trưng cho dương, bánh xôi-xê tượng trưng cho âm, hoặc bánh chưng và bánh dày, bánh chưng vuông là âm, bánh dày tròn là dương. Thường thường cùng kèm với bánh chưng và bánh dày có quả nem. Bánh cốm, bánh xôi-xê, bánh chưng, bánh dày và cả quả nem nữa dùng trong lễ ăn-hỏi đều được đựng trong hộp giấy màu đỏ hoặc bọc bằng giấy đỏ, màu đỏ chỉ sự vui mừng. Cũng có gia-đình thay vì các thứ bánh trên, dùng xôi gấc và lợn quay.
Ngày nay để giản-tiện hơn, tại các nơi đô-thị thay vì các bánh trái xôi thịt xưa, người ta dùng những loại bánh mứt mới, như bánh bích-quy, bánh quế, mứt sen và có khi cả bánh trung thu nữa. Những gia-đình sang trọng thường kèm theo bánh bích-quy những chai rượu tây nhỏ, nhất là rượu sâm-banh.
Những đồ lễ ăn hỏi của nhà trai mang tới, nhà gái đặt một số ít lên bàn thờ lễ gia-tiên. Khi lễ ăn-hỏi xong, bánh trái, cau, chè, được nhà gái lại quả cho nhà trai một số ít, còn nhà gái dùng để chia cho họ-hàng và thân-bằng cố-hữu.
Trong việc chia bánh trái, cau, chè, cau phải chia số chẵn, nhưng kiêng chia hai quả, nghĩa là phải chia mỗi nơi từ bốn quả cau, bốn lá tràu không trở lên. Con số chẵn là số dương, trái với số lẻ là số âm dùng trong việc cúng lễ.
Việc chia bánh trái, cau, chè, sau lễ ăn-hỏi có ý nghĩa nhà gái muốn báo tin cho họ hàng bè bạn biết là con gái mình đã đính-hôn.
Theo lối mới bây giờ, cùng chia với bánh trái, thường có kèm thêm tấm thiếp của đôi bên hai họ báo tin đính-hôn của đôi trẻ.
Nếu ngày nghênh-hôn không xa ngày ăn hỏi, trong thiếp có ghi rõ cả hôn-lễ sẽ cử-hành vào ngày nào. Trong trường-hợp này có khi cùng với thiếp báo hỷ lại có cả thiếp mời dự tiệc cưới.
Việc chia đồ lễ ăn hỏi, nhà gái thường nhờ các cô gái trong họ hoặc bạn bè cô gái chia giúp.
Khi nhà trai dẫn lễ ăn-hỏi tới nhà gái, nhà gái thường làm cơm thết.
Sau lễ ăn-hỏi đôi bên kể là giao-kết gắn-bó rồi. Tuy vậy ngày xưa các cặp vị hôn-phu và vị hôn-thê cũng không được phép gặp nhau, trừ trường-hợp đặc biệt lắm đôi bên cha mẹ mới cho phép.
Phong-tục ngày nay đổi khác, sau lễ ăn-hỏi là đôi trai gái thường gặp nhau luôn.
Từ lễ ăn-hỏi đến lễ cưới, xưa kia có khi hàng hai ba năm, nhưng ngày nay thời gian đó thường rút ngắn, có khi chỉ vài bốn ngày.
Chính ngày xưa, các cụ cũng vẫn khuyên những chàng trai đã hỏi vợ thì cưới ngay để tránh sự bất-trắc của thời gian. Ca dao có câu :
« Hỏi vợ thì cưới liền tay.
Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha ».
Lễ ăn-hỏi xong đôi bên trai gái chờ lễ cưới là xong, nhưng theo tục xưa, có nhiều nhà gái tuy đã nhận lễ ăn-hỏi của nhà trai nhưng cũng không cho cử-hành lễ nghênh-hôn sớm, có khi vì cô gái còn nhỏ tuổi quá, có khi vì cha mẹ thương con không muốn con sớm phải về nhà chồng.
5) SÊU
Lễ ăn-hỏi xong, chàng trai chính-thức là rể chưa cưới và phải có bổn-phận đối với nhà gái. Bổn-phận này gồm có sự sêu tết và đôi khi có sự làm rể.
Sêu nghĩa là mùa nào thức ấy chàng trai phải mang đồ lễ tới biếu cha mẹ vợ chưa cưới. Có nơi tục-lệ mỗi tháng mỗi sêu, nhưng có nơi việc sêu chỉ thu hẹp trong bốn kỳ :
- Tháng ba chàng trai sêu đậu mới với chim ngói.
- Tháng năm sêu dưa hấu, ngỗng và gạo nếp.
- Tháng tám sêu cốm, hồng.
- Tháng mười sêu cam và gạo mới.
6) TẾT
Ngoài vấn-đề sêu, còn vấn-đề Tết. Trong những dịp Tết Đoan-ngọ, Tết Nguyên-đán chàng trai phải có đồ lễ tới nhà bố mẹ vợ chưa cưới.
Thường tết cũng như sêu, nhà gái chỉ nhận một nửa số đồ lễ chàng trai mang tới.
Nếu chàng trai có cố nằn-nì để cho bố mẹ vợ nhận cả thì bố mẹ vợ vẫn trả lời : « Thầy đẻ đã nhận cả, nhưng thầy đẻ gửi về biếu ông bà đằng nhà một nửa ».
7) GIỖ
Chàng rể chưa cưới, trong những khi nhà bố mẹ vợ có kỵ cũng phải có đồ lễ tới để lễ ông bà gia-tiên.
Thành kính tại tâm, nhưng chính những sự sêu tết, giỗ chạp đã cụ-thể-hóa lòng thương yêu cô gái của chàng trai.
Nhà bố mẹ vợ chưa cưới nhiều khi chẳng thiếu gì, nhưng có con gái lớn gả chồng thì việc sêu tết chỉ là một sự dĩ-nhiên của tục-lệ.
Ngày nay, các chàng trai sau khi hỏi vợ thường cưới liền tay, nên việc sêu tết dần dần như không còn mấy nữa.
8) LÀM RỂ
Ở nhiều vùng có tục làm rể. Theo tục này, chàng trai phải tới sống ở nhà bố mẹ vợ chưa cưới một thời-gian dài ngắn tùy theo ý muốn của ông bà nhạc.
Trong thời-gian ở rể chàng trai phải làm việc cho nhà vợ như chính làm việc cho mình. Đây là một cách để bố mẹ vợ xét đoán chàng rể, và cũng là một cách tập cho chàng rể chịu khó để sau này sống riêng với vợ, có đủ tư-cách đối-phó với mọi nỗi khó-khăn của cuộc đời.
Những công việc chàng rể làm cho nhà vợ, bố mẹ vợ sẽ xét để sau này giảm bớt sự thách cưới vào dịp nghênh-hôn.
Có nhiều gia-đình, chàng rể tiếng rằng đi ở rể, nhưng thực ra chàng rể không phải làm gì cả, chỉ ăn học. Nhiều người kén rể nghèo để nuôi cho thành đạt, như vậy sau này con gái mình sẽ được hưởng tất cả sự thành đạt của chàng rể.
Tuy làm rể nhiều khi rất sung-sướng, nhưng thời thường những chàng trai không ưa ở rể, sợ bị kẻ chê người cười.
Ca dao có nhiều câu chế riễu những chàng trai ở rể :
« Công anh làm rể Dương đài,
Một đêm ăn vụng hết hai vại cà.
Giếng đâu thì đưa anh ra,
Kẻo anh chết khát vì cà đêm nay ».
Lại còn những câu :
« Làm rể như chó chui gậm chạn ».
Hoặc :
« Ăn trầu không rễ, như rể nẳm nhà ngoài ».
Nếu có những gia-đình thương rể nuôi rể ăn học, thì trái lại cũng có nhiều gia-đình bóc-lột sức lao-động của chàng rể, và trong thời-gian làm rể chàng trai rất khổ-sở : làm lụng vất-vả, ăn uống thiếu-thốn.
Có nhiều trường-hợp, chàng trai sau một thời-gian làm rể rất vất-vả, lại bị cha mẹ vợ hối-hôn, không chịu gả con gái !
Trong những trường-hợp này, nhà gái không những phải hoàn trả nhà trai sự tổn-phí về lễ ăn-hỏi và sêu tết mà còn phải trả công những ngày ở rể của chàng trai. Dù sao, có được hoàn tiền tổn-phí và tiền công lại thì chàng trai cũng vẫn cứ chịu thiệt.
Tục làm rể đang mất dần, chỉ còn lại ở một vài vùng quê xa-xôi.
Vẫn còn có những chàng trai ở nhà vợ, nhưng đây là sống chung hẳn với vợ sau khi đã cưới xin. Chàng rể đã là chủ-nhân-ông chính-thức của cô gái, không phải ở trong tình-trạng đợi chờ như những người đi làm rể.
9) LỄ THÂN-NGHINH
Lễ này còn gọi là lễ nghênh-hôn vì chính trong lễ này chàng rể phải tới nhà bố mẹ vợ để đón cô dâu. Bởi vậy, lễ thân nghinh ta còn gọi là lễ đón-dâu.
Sau ngày ăn hỏi, trước ngày đón dâu, nhà trai phải tới đằng nhà gái xin cưới. Sở dĩ phải xin cưới vì tục xưa hỏi vợ xong, khi đôi trẻ còn quá nhỏ tuổi, lễ cưới không cử-hành ngay. Nhà trai muốn làm lễ cưới phải cho nhà gái biết và xin cưới.
Việc xin cưới thường do môi-nhân làm trung-gian nói thẳng với nhà gái, nhưng cũng có khi nhà trai trao thơ cho nhà gái.
Người xưa tránh lễ nghênh-hôn trong thời kỳ có tang, hoặc bên trai hoặc bên gái.
Nhà trai xin cưới, nếu nhà gái thuận thì trả lời cho môi-nhân, nhưng trong sự trả lời này còn có sự thách-cưới, nghĩa là nhà gái đòi nhà trai trong lễ đón-dâu phải có những đồ lễ gì.
Thách cưới, nhà gái thường đòi : trầu rượu, cau chè, bánh trái, gạo lợn, đồ trang sức, y-phục cô dâu và cả tiền nữa.
Nhà gái nhiều khi thách-cưới quá nhiều, nhà trai phải xin rút xuống. Nhà gái « giơ cao đánh sẽ », tuy thách nhiều nhưng khi nhà trai xin rút vẫn ưng-thuận.
Ta có câu : « Gả con đâu phải bán trâu » và cũng có câu : « Thương con ngon của » để chứng tỏ rằng tuy nhà gái có thách-cưới nhưng nhà trai xin vẫn được.
Tuy vậy, cũng có cuộc hôn-nhân phải tan vỡ vì bố mẹ cô dâu thách-cưới quá nhiều, nhà trai không lo đủ.
May thay, ngày nay cái lệ thách-cưới không còn.
Thách-cưới xong, hai họ đã ưng-thuận ngày lành tháng tốt để cử-hành lễ đón dâu.
Trước ngày cưới vài ngày, nhà gái cho chia trầu cau để mời họ-hàng bạn-hữu tới dự lễ cưới. Đồng-thời nhà trai cũng gửi thiếp mời thân-bằng cố-hữu như nhà gái.
Đến ngày cưới, bạn bè hai họ bên nào tới mừng bên đó.
Có mổ bò giết lợn làm cỗ.
Những bạn-hữu bà con họ-hàng tới dự tiệc cưới thường có mang theo đồ mừng. Đồ mừng có thể là một bức trướng, một đôi liễn, cau trẻ, các đồ bảo vật hoặc đồ dùng cho cô dâu chú rể, và cũng có khi là tiền.
Khi bạn-hữu tới ăn cưới, cùng với đồ mừng thường có đốt thêm bánh pháo.
Bao nhiêu lời chúc-tụng tốt đẹp của mọi người cho cô dâu chú rể.
Đúng ngày cưới, khi được giờ hoàng-đạo, nhà trai cử-hành lễ đón dâu. Trước khi đi đón dâu chú rể phải lễ gia-tiên nhà mình và phải lễ bố mẹ mình. Lễ gia tiên bốn lễ rưỡi, còn lễ bố mẹ hai lễ rưỡi.
Lễ gia tiên để trình việc thành-hôn của mình với các cụ, còn lễ bố mẹ để đền ơn sinh thành và công dựng vợ cho mình
Một số người trong họ nhà trai cùng môi-nhân dẫn chú rể tới nhà gái, người ta gọi là đưa rể.
Dẫn đầu đám đưa rể là một cụ già nhiều tuổi được dân làng kính nể bởi tuổi-tác, bởi tư-cách, và bởi địa-vị xã-hội và nhất là bởi có con đàn cháu đống. Cụ già này đứng vai chủ-hôn, cầm hương đi đầu.
Sau cụ là người nhà trai trong đó có chú rể. Chú rể đi giữa mấy chàng trai phù rể.
10) TỤC CHĂNG DÂY
Khi đám cưới gần tới nhà gái, thường nhà trai đốt lên bánh pháo.
Lúc ấy đường vào nhà gái có những người, nhất là các trẻ em mang dây hồng ra chăng ngang đường. Nhà trai phải cho tiền những người chăng dây để họ buông dây ra.
Trong những đám cưới long-trọng có nhiều nhà bày hương-án để đón đám đưa rể. Đối với những nhà bày hương-án này, nhà trai cũng phải tặng một món tiền xứng đáng, vì thường khi đã có hương-án là họ đốt pháo để mừng tân lang.
11) TỤC ĐÓNG CỔNG
Khi đám đưa rể đã vượt qua được mọi lớp chăng dây, tới cổng nhà gái, thường cổng lại bị đóng bởi lũ em cô dâu hoặc người nhà.
Nhà trai lại phải bỏ tiền ra để cho người mở cổng, gọi là tiền mở cổng.
Cổng mở rồi, họ nhà trai bước vào cùng với tiếng pháo nổ pháo của họ nhà trai đốt, pháo của cả họ nhà gái đón mừng họ nhà trai nữa.
12) THẮP HƯƠNG GIƯỜNG THỜ
Họ nhà gái mời nhà trai vào trong nhà.
Nhà trai cho đặt đồ lễ lên giường thờ.
Lúc này là lúc nhà gái kiểm-điểm lại đồ thách-cưới tuy một phần đã đưa từ những hôm trước để tiện nhà gái làm cỗ mời họ-hàng.
Đồ lễ đủ, nhà gái cho thắp hương để chú rể và cô dâu cùng lễ gia-tiên.
Không phải ai cũng có thể thắp nén hương trong ngày lễ cưới này được. Hương phải do bố, anh trai hoặc em trai cô dâu thắp. Nếu là anh trai hay em trai cô dâu thắp hương, nhà trai lại phải tặng một món tiền gọi là tiền thắp hương.
Tất cả những sự khó-khăn nhà trai phải vượt qua từ lúc chăng dây cho đến khi hương được thắp trên giường thờ, tục-lệ đặt ra để chứng tỏ rằng chàng trai không nề-hà những sự khó-khăn để đón cho được cô dâu, và cũng để chứng tỏ sự thiết-tha thương yêu vợ của chú rể.
13) LỄ GIA-TIÊN VÀ LỄ MỪNG
Chú rể vào lễ bàn thờ gia-tiên nhà vợ bốn lễ rưỡi. Sau đó cô dâu cũng lễ theo.
Lễ gia-tiên xong, hai vợ chồng phải ra lễ mừng bố mẹ vợ.
Chàng rể lễ mừng bố mẹ vợ để tạ ơn công nuôi-nấng vợ mình, còn cô dâu lễ mừng cũng để tạ ơn cha mẹ đã tác-thành cho mình.
Khi chàng rể lễ mừng, bố mẹ vợ thường cho tiền hoặc vàng bạc. Các người phù rể sẽ nhận hộ chú rể.
Có nhiều người có tính khoe-khoang thường nhân dịp này cho chàng rể nhà cửa, ruộng nương bằng cách trao cho văn-tự hoặc địa-đồ.
Lễ mừng cha mẹ vợ xong, chàng rể được một người trong họ nhà vợ dẫn đi lễ mấy nhà thờ chính họ nhà vợ, có mấy chàng phù rể đi theo.
Cũng có nơi, chàng rể phải đi lễ các nhà thờ trước rồi lúc trở về mới lễ mừng bố mẹ vợ.
Những cuộc lễ của chàng rể đã xong, nhà gái mời nhà trai ăn trầu uống nước và hai họ chúc tụng cho cô dâu chú rể những điều tốt lành.
Thường nhà gái làm cỗ mời nhà trai. Trong bữa cỗ này, có lẽ chú rể vì giữ ý hoặc vì sung-sướng quá nên ăn uống rất e-dè từ-tốn, và có khi không dám ăn sợ họ nhà vợ chê-cười.
Họ nhà trai ngồi lại họ nhà gái cho đến lúc được giờ tốt, giờ hoàng-đạo, cụ già chủ-hôn xin với nhà gái cho rước dâu. Cô dâu lúc đó đã y-phục chỉnh-tề, trang điểm với đủ mọi đồ nữ-trang của mình và sẽ mang về nhà chồng tất cả những đồ mừng cùng những đồ dẫn cưới trước, đựng trong những chiếc rương phủ nhiễu điều.
Họ nhà gái có một số người đi theo cô dâu, trong số đó có cả các cô phù dâu. Các cô phù dâu chọn trong những cô chưa lập gia-đình cũng như các chàng trai phù-rể đều là trai chưa vợ.
Cụ già chủ-hôn lại dẫn đầu đám đón dâu. Lại đốt pháo trước khi đám đưa dâu lên đường.
Đi theo cụ già cầm hương là hai họ nhà trai và nhà gái.
Về việc cầm hương này, người xưa giải thích là để cúng vị thần chủ về hôn-lễ, nhưng cũng có người cho là để đốt vía những kẻ xấu mồm xấu miệng quở-quang khi đám cưới đi qua.
Lễ rước-dâu, sách gọi là lễ vu-quy, tức là gái về nhà chồng. Đây là một trọng-lễ và mọi sự cẩn-thận đều được chú ý.
Bà mẹ cô dâu, trước khi cô ra đi thường gọi cô vào trong buồng dặn dò thêm mấy điều cần-thiết, dúi cho cô một số tiền để phòng hờ sau này tiêu dùng ở nhà chồng. Bà lại cẩn thận cài vào tà áo cô chín chiếc kim khâu để trừ tà trong lúc đi đường và nhiều bà mẹ cẩn-thận lại dặn riêng con về tác-dụng của chín chiếc kim khâu này vào buổi động-phòng hoa-chúc.
Đám đón dâu lúc này cũng như đám đưa rể lúc trước đi bộ qua đường làng, có khi từ làng nọ sang làng kia, thường đi qua cánh đồng trên những bờ ruộng nhỏ. Khi đường quá xa người ta dùng cáng, hoặc xe song-loan.
Ngày nay ở những nơi có phương tiện người ta dùng xe xích-lô, hoặc xe hơi, trong cả lúc đưa rể lẫn lúc đón dâu. Tại các đô-thị người ta dùng xe hơi. Xe cô dâu chú rể ngồi được kết hoa trắng theo lối Âu-Mỹ. Các đồ lễ của cô dâu đem theo đều được chất cả lên xe.
Ở Hà-Nội, trước thế-chiến thứ hai, các gia-đình theo cổ, tuy có dùng xe hơi, nhưng chỉ dùng cho cô dâu chú rể cùng mọi người trong hai họ ngồi, còn lễ-vật và đồ-đạc của cô dâu đã có những phu cưới ăn mặc áo the đen dài, quần trắng, đầu chít khăn lượt, ngang lưng thắt lưng hồng, khiêng dong đường. Những đồ lễ đựng trong những chiếc quả son hoặc trên mâm thau, thường có phủ khăn điều. Những chóe rượu, mâm lợn quay, cỗ xôi gấc thường được lồng vào giá để hai phu cưới khiêng. Lúc đưa rể, những phu cưới khiêng lễ vật, đến lúc đưa dâu, những phu này khiêng và đội đồ đạc của cô dâu : chăn, màn, quần, áo, đôi khi có cả giường, v.v…
Tại nhà trai, người ta chờ đợi đám rước dâu tới.
Một hỏa-lò than đốt hồng đặt ở trước ngưỡng cửa để chờ cô dâu. Cô dâu, khi đi qua ngưỡng cửa sẽ bước lên chiếc hỏa-lò này.
Các cụ bảo rằng khi bước qua chiếc hỏa-lò như vậy lửa hồng sẽ đốt cháy hết tà ma theo ám-ảnh cô dâu và sẽ đốt vía của tất cả những kẻ độc mồm miệng đã quở-quang cô ở dọc đường.
Khi cô dâu tới nhà chồng, bà mẹ chồng xách bình vôi vẫn dùng trong gia-đình lẩn sang nhà hàng xóm trong chốc lát. Hành động này có ý-nghĩa là nội-tướng cũ nhường quyền cho nội-tướng mới. Bà mẹ chồng sau này sẽ nhường quyền quán-xuyến gia-đình cho nàng dâu, và bình vôi tượng-trưng cho căn-bản của gia-đình. Trách nhiệm của cô dâu sẽ nặng-nề vì « Lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng ».
Cô dâu vào lễ gia-tiên nhà chồng.
Khi cô dâu lễ gia-tiên xong, bà mẹ chồng cũng đã trở lại nhà với bình vôi.
Bấy giờ cô dâu lễ mừng bố mẹ chồng, cũng như chàng rể đã lễ mừng bố mẹ vợ. Nếu ông bà chồng còn sống, phải lễ mừng các cụ trước khi lễ mừng bố mẹ chồng.
Ông bà cũng như bố mẹ chồng, nhận lễ của cô dâu đều tặng cho cô dâu món quà, thường là tiền hoặc đồ nữ trang.
Các cụ thường nói lúc trao quà : « Ông bà (hoặc thầy đẻ) cho cháu (hoặc cho con) chút ít để làm vốn ».
Tại một vài địa-phương sau khi lễ gia-tiên, ông bà và bố mẹ chồng cô dâu chú rể cũng lễ mừng cả chú bác cô dì, và những người này để đáp lễ thường có quà, tặng cho đôi vợ chồng mới.
Lễ mừng ông bà và bố mẹ chồng rồi, mấy người chị em nhà chồng dẫn cô dâu đi lễ các nhà thờ họ nhà chồng để trình-diện với tổ-tiên. Trong lúc đi lễ này cũng có các cô phù dâu đi theo.
Lễ nhà thờ họ xong, cô dâu trở lại nhà chồng để dự lễ tơ-hồng.
14) LỄ TƠ-HỒNG
Lễ tơ-hồng là lễ Nguyệt-lão, vị thần chủ về hôn-nhân. Nguyệt-lão theo điển tích có từ Vi-Cố đời nhà Đường. Sự tích Vi-Cố xin xem Tài-liệu đọc thêm.
Bàn thờ Tơ Hồng thiết lập ở giữa sân, có thắp hương nến.
Cô dâu và chú rể cùng quỳ trước bàn thờ, chú rể quỳ trước, cô dâu quỳ sau, để nghe một vị túc nho đọc văn-tế Tơ-hồng. Trong văn-tế đại-khái nói là chú rể cô dâu ghi ơn Nguyệt-Lão đã xe lứa-đôi cho hai người và xin Nguyệt-Lão phù-hộ cho đôi trẻ được bách-niên giai-lão, đầy tràn hạnh phúc.
Văn-tế Tơ-hồng đã đọc, chú rể và cô dâu lễ mỗi người bốn lễ rưỡi. Kế đó hai người cùng uống chung một ly rượu, ly rượu này đã đặt trên bàn thờ Tơ-hồng. Uống chung ly rượu, từ nay hai người là một, sẽ say nhau tới bạc đầu răng long. Sau đó hai người ăn mỗi người một miếng trầu, têm chung một quả cau và một lá trầu không. Cuộc ăn trầu này cũng ý nghĩa như cuộc uống chung ly rượu. Ngoài ra, những đồ lễ khác trên bàn thờ Tơ-hồng đều do cô dâu và chú rể cùng ăn.
Dưới đây là mẫu văn-tế Tơ-hồng thường được dùng trong đám cưới :
15) VĂN-TẾ TƠ-HỒNG
« Duy… năm… tháng… ngày… phủ… tổng… xã… Mỗ vì việc lấy… làm vợ, hiện nay hôn sự đã thành, kính sửa lễ dâng Đức Tơ-Hồng Nguyệt-lão thiên-tiên.
« Trộm nghĩ : Trời đất có âm, có dương ; người đời có chồng, có vợ. Hoa đào đua nở, nhị tươi-cười còn đợi gió đông đưa ; lá liễu phất-phơ, ngành rung-múa còn chờ tay vin đến. Duyên trời khéo kén, bà mối tốt đưa ; Việc nghênh-hôn nay đã được giờ, lòng thành-kính dâng lên lễ vật. Cám-ơn ông Tơ bà Nguyệt, vâng-lệnh Ngọc-Hoàng. Không hề thiên-vị, rất mực công-bằng. Đem nhân-duyên kết-nghĩa vợ chồng ; Treo gương ngọc thấu-soi sự-thế.
« Sực-nhớ : Mới ngày nào tin đưa nhạn cá, mà nay đà vui-thú uyên-ương : Sắt-cầm nên nghĩa đá vàng. Tơ-tóc trọn duyên tần-tấn.
« Một nhà trong ấm, ngoài êm, dây xích-thằng xe thắm mối lương duyên ; đôi lứa phận đẹp duyên ưa, nhịp cầu Thước bắc vừa dòng Ngân-thủy. Ba-sinh trọn vẹn ; loan-phượng thuận-hòa. Họ Ất, họ Giáp lá thắm đề thơ ; Chuyện-trò vui vẻ, chè rượu say sưa !
« Nhân nay tiệc hôn đã mãn : Dám mong đức lớn phù-trì, vẹn niềm chung-thủy. Nhờ được ơn sâu nhuần-gội, sớm mộng hùng-bi. Gọi là lễ mọn, xin người chứng-tri ! »
*
Sau lễ Tơ-hồng, nhà trai mời họ nhà gái ăn cỗ.
Lại những lời chúc tụng vui vẻ.
Tưởng cũng nên nói thêm rằng từ hôm trước, có khi từ mấy ngày trước, khách khứa của hai họ khi tới mừng với lễ vật đều được gia-chủ đón tiếp thết tiệc.
Sau bữa cỗ, họ nhà gái ra về, cô dâu ở lại nhà chồng.
Lệ cổ ngày xưa như vậy, nhưng gần đây, việc ăn-uống chỉ còn lại ở chốn quê. Ở tỉnh thành, nhất là ở các nơi đô thị, việc đón dâu đưa rể đã có nhiều thay đổi.
Nếu ngày xưa người ta mời khách bằng cách chia trầu cau, cũng có thiếp báo hỷ những bạn hữu, thì ngày nay mời ăn người ta dùng thiếp mời đính kèm thiếp báo-hỷ. Và mời ăn, có khi tiệc trà, người ta không mời tới nhà, mà mời ngay tới hiệu ăn. Nhân trong bữa ăn này, chú rể cô dâu được dẫn ra chào khách-khứa bạn-bè của hai họ.
Ngày xưa khi khách tới dự tiệc cưới mới mang đồ mừng tới, ngày nay đồ mừng được gởi tới trước.
Và cả đồ mừng ngày nay cũng khác đồ mừng ngày xưa.
Xưa người ta thường dùng trướng điều, liễu điều, trà rượu, có vùng lại dùng cả cỗ xôi, quả bánh, thì ngày nay đồ mừng thường là đồ dùng thiết-dụng cho một cặp trai gái mới lập gia-đình : bộ đồ nước, quần áo, đồ dùng trong bếp. Có khi nhiều người chung nhau mừng cả tủ-lạnh, máy may. Có cô cậu mừng bạn cả những sách về hôn-nhân và gia-đình, v.v…
16) LỄ ĐỘNG-PHÒNG
Lễ động phòng chỉ là một phần của lễ thân-nghinh.
Buổi chiều hôm rước dâu, sau khi khách khứa đã vợi, trong phòng ngủ dành riêng cho tân-lang và tân giai-nhân, đôi vợ chồng mới cùng nhau làm lễ hợp-cẩn.
Trong phòng đã có sẵn một mâm rượu, một cơi trầu. Hai vợ chồng cùng nhau uống chung một chén rượu, ăn chung mâm cơm và sau đó ăn mỗi người một miếng trầu do cùng một quả cau, cùng một lá trầu không và cùng một thanh vỏ.
Cũng có nơi không có lễ hợp-cẩn này, vì lúc lễ tơ-hồng, đôi vợ chồng đã uống rượu ăn trầu rồi, và buổi tối đôi bên chỉ còn chuyện đuốc-hoa.
Sau khi uống rượu, ăn trầu xong, vợ chồng cùng nhau ngồi trước ngọn đèn nói chuyện, và sau đó cuộc động phòng hoa-chúc. Lúc này vợ chồng mới thật sự biết nhau và nói theo cụ Nguyễn-Du :
« …một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về ».
Trong buổi động-phòng, trước khi uống rượu hợp-cẩn, cô dâu thường kiếm cách để ngồi lên mé đầu giường. Tục tin rằng, như vậy, sau này trong cuộc chung sống, người chồng sẽ không áp-đảo được vợ, trái lại còn chịu sự chỉ-huy của vợ. Nếu cô dâu chỉ ngồi ở mé chân giường, suốt đời cô sẽ cam-phận phục-tòng chồng.
Cũng như ý-nghĩa trên, trong buổi đầu tiên này, cô dâu thường vắt quần áo của mình đè lên quần áo của tân-lang.
17) NHỊ-HỶ HAY TỨ-HỶ
Lễ này còn gọi là Lại-mặt, vì trong lễ này hai vợ chồng mới cưới đưa nhau trở lại nhà bố mẹ vợ.
Lễ nhị-hỷ cử-hành ngày hôm sau lễ thân-nghinh. Cũng có nơi, ba ngày sau mới có lễ lại-mặt, trong trường-hợp này là lễ tứ-hỷ.
Trong ngày nhị-hỷ hoặc tứ-hỷ, hai vợ chồng mang lễ-vật trở lại nhà bố mẹ vợ để lễ gia-tiên.
Cô dâu nhân dịp này thăm lại bố mẹ và nhận những lời khuyên-nhủ của cha mẹ về bổn-phận làm vợ làm dâu.
V. Y-PHỤC TRONG NGÀY CƯỚI
Ta vẫn thấy các cô gái sắp vu-quy đi sắm áo cưới, vì trong ngày cưới, cô dâu cũng như chàng rễ đều có một y-phục riêng.
Ngày xưa, hôm đó chú rể đầu đội khăn lượt, mặc quần lụa trắng áo cặp đôi gồm một áo trắng dài trong cùng, ngoài là một chiếc áo đoạn kép lót nhiễu xanh, hồng hoặc vàng, hay là chiếc áo gấm thường màu lam. Có những chú rể sang trọng, ngoài chiếc áo đoạn hay chiếc áo gấm lam, còn mặc thêm chiếc áo sa. Áo sa mỏng, qua màu gấm lam ẩn hiện trông thật nổi. Chân chú rể đi giầy Gia-định nhưng cũng có khi đi giầy kinh thêu. Trong lúc lễ tơ-hồng, lễ gia-tiên và lễ mừng bố mẹ mình và bố mẹ vợ, chú rể khoác ngoài chiếc áo thụng xanh
Còn cô dâu, tất nhiên mặc bộ áo cưới của mình. Áo của cô dâu thay đổi tùy theo thành thị hay thôn quê.
Ở thôn quê thường là cặp áo năm thân, trong áo nâu non ngoài áo the lót nhiễu xanh. Đầu các cô thường vấn chiếc vấn đầu nhung đen. Các cô mặc yếm lụa cổ xẻ, cổ thìa hoặc cổ xây, màu mỡ gà hoặc nhuộm thắm màu nâu ngả sang đỏ. Các cô thắt chiếc thắt lưng sồi xe kèm thêm đôi giải yếm lụa mỡ gà. Các cô vận váy lụa. Chân các cô đi dép cong. Gần đây độ hai chục năm, đôi dép cong được thay bằng đôi dép Nhật-bản.
Trong lúc vu-quy, cô dâu cũng như các cô phù dâu đều mỗi người mang theo chiếc nón ba-tầm quai thao, dù trời mưa nắng hay râm mát. Chiếc nón các cô dùng để ghé che mặt cho đỡ thẹn khi có ai ngó hoặc nói tới.
Đó là các cô dâu quê.
Còn các cô dâu tỉnh y-phục hơi khác. Các cô cũng vấn đầu khăn nhung có đuôi gà, nhưng các cô mặc quần thay cho mặc váy, các cô đi guốc phi-mã, hoặc đi giày cao gót thay cho đi dép. Còn áo của các cô cũng là một cặp hai chiếc, chiếc áo trong màu trắng, chiếc áo ngoài cũng là áo gấm, áo đoạn hoặc áo sa-tanh, màu đen hay màu da đồng.
Trước thế chiến thứ hai, y-phục cưới thay đổi nhiều, và cho tới nay y-phục đã thay đổi rồi còn được giữ nguyên hoặc cũng đã hơi đổi khác thêm :
Các chú rể ăn mặc lễ phục kiểu Tây-phương nhưng vẫn còn nhiều người giữ quốc-phục. Các cô dâu đầu đội khăn vành dây – tóc các cô đã uốn – màu vàng hoặc màu đỏ, mặc áo dài kim-tuyến hoặc nhung hay gấm, ống tay rộng, quần trắng. Chân các cô đi giầy cao gót.
Không biết với thời-gian bộ y-phục cưới của đôi bên chú rể và cô dâu còn chịu những sự thay đổi nào nữa. Trong mấy năm gần đây, riêng cô dâu, đã có người đội một vòng hoa trắng thay cho chiếc khăn vành dây, và cũng có khi khoác chiếc màng mỏng trên đầu.
VI. CƯỚI CHẠY TANG
Cưới chạy-tang nghĩa là cưới chạy một đám-tang, tức là đám cưới cử-hành trước đám tang.
Nhiều gia-đình có con cái lớn chưa thành gia-thất, trong nhà có ông già bà cả, hoặc có khi chính bố mẹ bất thần nằm xuống, muốn để con trẻ không phải đợi chờ mãn tang, người ta cử-hành lễ cưới trước khi phát-phục, tức là trước khi bắt đầu đám tang.
Có nhiều trường-hợp có những cô gái tới tuổi lành duyên, nhưng chưa có một nơi ước-hẹn, bỗng cha già mẹ héo trăm tuổi, trong làng có người đã ngắm cô cho con cháu mình, liền nhờ bắn-tin, nếu gia-đình cô gái thuận thì cho cưới chạy-tang.
Tiếc rằng cưới chạy tang, nhưng vẫn còn có lễ hỏi và lễ cưới.
Nhà gái cũng chia trầu cau như một đám cưới khác trước khi cử-hành đám-tang.
Thường thường đôi trai gái đã có giao-ước, một vài lễ đã cử-hành rồi, như lễ chạm-ngõ, lễ vấn-danh có khi cả lễ ăn-hỏi nữa, chỉ còn chờ ngày cưới thì bất thần một trong đôi bên, hoặc nhà trai, hoặc nhà gái có người trăm tuổi. Để cho đôi trẻ khỏi phải đợi chờ, hai họ thỏa-thuận cho cưới chạy-tang, cử-hành nốt những lễ còn thiếu.
Người chết nằm đó vẫn được coi như còn sống. Đám cưới có đủ đưa rể đón dâu, nhưng mọi lễ-nghi đều giảm bớt đi nhiều, chỉ cốt lễ-cưới cho xong để còn cử-hành lễ tang.
Chàng rể hoặc cô dâu lễ mừng người chết nằm đó cũng như lễ mừng một người còn sống.
Nếu đám tang ở đằng nhà gái, thì ngày hôm sau, có khi ngay buổi chiều hôm rước dâu, cô dâu và chú rể đều trở về đằng nhà vợ để chịu tang.
Nếu đám tang ở đằng nhà trai, sau khi đón dâu về, cử-hành xong lễ cưới, tang lễ bắt đầu luôn.
Trong những đám cưới chạy-tang thường không còn lễ tơ-hồng, lễ động phòng, lễ hợp cẩn và cho cả đến lễ lại mặt cũng không !
Cưới cho đúng lễ-nghi, hợp với tục-lệ, nhưng việc tang còn đó, cần phải giảm bớt lễ nghi về hôn-sự không cần-thiết để kịp nghĩ tới đám tang.
VII. NỘP CHEO
Như đã trình bày ở mục sinh con, thủa xưa ta không có hộ-tịch và vấn-đề hộ-tịch chỉ là vấn-đề cá-nhân, hộ-tịch của ai người đó phải tự lo lấy.
Vì vấn đề hộ-tịch không được coi là cần-thiết nên ta không lập giấy giá-thú khi cưới, cũng như không lập giấy khai sinh lúc đứa trẻ ra đời.
Nếu đứa trẻ ra đời, bố mẹ thường lấy cho con lá số tử vi thay giấy khai-sinh, thì trong việc xin cưới, nếu không có lễ cưới hộ-tịch, đám cưới theo lễ nghi phong tục đủ bảo-đảm cho cuộc hôn-nhân. Đôi bên đã lấy nhau theo lễ nghi, không ai còn phủ nhận được. Theo luật lệ Việt Nam ngày trước, những người dự lễ cưới đủ làm chứng cho đám cưới của đôi bên nếu sau này có chuyện gì lôi thôi xảy đến.
Ngoài lễ cưới theo lễ nghi, còn có lệ nộp cheo.
Nộp cheo tức là nộp cho làng người con gái tiền hoặc lễ-vật định bởi hương-ước để làng này công nhận là chàng rể đã lấy cô gái đương-sự. Trai cùng một làng lấy nhau cũng phải nộp cheo theo thể lệ làng.
Lệ nộp-cheo rất quan-trọng đối với tục cưới xin cũ. Ca dao có câu :
« Có cưới mà chẳng có cheo,
Dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài ».
Lệ cheo thay đổi tùy từng làng, có nơi nặng có nơi nhẹ.
Có nơi xưa chỉ phải nộp một quan tiền, một chai rượu với trầu cau là đủ, có nơi nộp cheo rất nặng, như tục làng Xuân-Ái huyện Võ-Giàng tỉnh Bắc-Ninh, nộp cheo phải có một chiếc mâm thau, một cỗ xôi con gà, trầu cau chè rượu.
Cũng có làng đặt ra hai lệ cheo, một lệ cho trai làng lấy gái làng rất nhẹ chỉ cần trầu cau trình làng là đủ, còn một lệ cho trai thiên-hạ lấy gái làng nặng hơn, phải nộp tiền.
Khi nộp cheo, lý-trưởng hoặc tiên-chỉ làng cấp cho chàng trai một tờ phái-cheo, tức là tờ biên-lai nhận rằng chàng trai đã nộp cheo trong việc cưới một cô gái làng.
Về sau, mỗi khi cần lấy giấy chứng chỉ hôn-thú, chàng trai phải xuất-trình phái cheo. Lý-trưởng sẽ căn-cứ theo phái-cheo cấp giấy chứng nhận hôn-thú cho đương-sự.
Kể từ khi có hộ-tịch tại Việt-Nam, việc cưới xin phải có giấy giá-thú theo luật-lệ, nếu không việc hôn-nhân có thể bị tiêu-hủy.
Đối với những đám cưới cử-hành trước khi ban-hành luật-lệ hộ-tịch, phái cheo vẫn có giá trị như một giấy giá-thú.
VIII. MỘT VÀI BIỆT LỆ
Theo đúng lễ-nghi phong-tục thì hôn-lễ phải cử-hành đủ mọi tục-lệ trên, nhưng ở một vài nơi lễ cưới hơi có điều khác và không đúng như những điều trên.
Tại làng Thị-Càu, huyện Võ-Giàng, tỉnh Bắc-Ninh, lễ cưới cũng cử-hành đủ theo mọi tục-lệ, nhưng có điều khác là sau khi rước dâu về nhà trai, tế tơ-hồng xong cô dâu chỉ ở lại nhà trai một đêm, và ngay sáng hôm sau cùng với lễ lại-mặt cô dâu trở về nhà mình để ở luôn lại nhà, mặc cho chú rể đi về một mình sau lễ lại-mặt. Cũng có trường-hợp cô dâu theo luôn ngay những người đưa dâu về nhà mình sau lễ tơ-hồng.
Cô dâu ở nhà mình cho đến Tết. Gần Tết nhà trai cho người mang trầu cau tới xin đón cô dâu về. Lần này cô dâu mới ở hẳn nhà chồng.
Có nhiều xã như làng Vạn-Vân, tỉnh Bắc-Giang, làng Đáp-Cầu tỉnh Bắc-Ninh, đưa rể tới nhà gái, chú rể lễ gia-tiên và lễ mừng bố mẹ vợ xong, đám đưa rể trở về, và tới buổi chiều nhà gái sẽ tự đưa cô dâu tới nhà trai.
Tục-lệ mỗi nơi có mỗi khác, nhưng tựu-trung những lễ chính là chạm-ngõ, ăn-hỏi và thân-nghênh bao giờ cũng vẫn có.
IX. LỄ CƯỚI NGÀY NAY
Hôn-lễ, từ ngày hậu-chiến càng giảm bớt đi nhiều. Hiện nay, sau khi đôi trai gái đã quen biết và bằng lòng nhau, nhà trai cũng vẫn phải nhờ người làm mai, và sau đó các lễ sẽ được cử-hành. Cũng có nhà theo lệ-cổ, nhưng hiếm lắm. Ngày nay phần đông người ta chỉ giữ có ba lễ : Chạm-ngõ, Ăn-hỏi và Đón-dâu.
Với thời gian sau này, lễ cưới có còn được giản-dị-hóa hơn nữa không !
Ngoài ra, ở các nơi đô-thị, có những đám cưới được cử-hành trước viên-chức coi về hộ tịch.
Theo lời hỏi của viên-chức này cả cô dâu lẫn chú rể đều phải trả lời ưng-thuận lấy nhau, sau đó ký vào sổ giá-thú, có cả cha mẹ đôi bên cùng ký.
X. VIỆC NGUYỆT-HOA VỚI SỰ SINH CON NGOẠI-HÔN
Lễ-nghi Việt-nam thật hết sức nghiêm-khắc đối với vấn-đề nam-nữ giao tình. « Nam nữ thụ thụ bất thân », trai gái không được gần nhau một cách quá tự nhiên. Dư-luận không dung tha những cô gái không giữ được ngọc trắng giá trong. Người con gái khôn-ngoan phải tránh đường hoa-nguyệt, và những khi có chàng trai vì cảm mến, mời miếng trầu cũng phải từ chối :
« Mẹ em hằng vẫn khuyên răn,
Làm thân con gái chớ ăn trầu người ».
Nếu cô gái nào dại-dột theo đường nguyệt-hoa, nghe lời đường-mật của chàng trai, không chịu theo khuôn-phép nam nữ thụ thụ bất thân, cứ đi « hứng gió nồm Nam » để rồi không chồng mà chửa, xã-hội không tha-thứ.
Nếu những đứa con gái hư chửa-hoang thường khi bố mẹ từ không nhận, và đối với làng nước phải nộp vạ nộp khoán.
Chính vì sự khe-khắt của xã-hội đối với sự chửa-hoang, nên nhiều cô gái chót nhỡ không may « ăn vụng chóng no », thường phải bỏ làng ra đi một nơi khác. Bố mẹ cô sẽ tìm cách nói dối để che đậy lỗi của cô, và những gia-đình giàu có sẽ tìm những chàng rể để gả gán gấp cô đi ! Lẽ tất nhiên những chàng rể này sẽ được hưởng nhiều quyền-lợi ! Cơm no bò cưỡi, tiền cưới nhà gái chịu và còn được các thêm tài-sản nữa !
Những đứa con ngoại-hôn, ngày xưa thường không được người mẹ săn-sóc nuôi-nấng. Các bà mẹ gửi chúng ở xa, nhờ một người nào từ-tâm nuôi hộ, hoặc thuê người nuôi. Có nhiều người vì nhân-đạo, hoặc cũng có khi vì hiếm con nhận chúng làm con nuôi.
Sự khe-khắt của xã-hội đối với cô gái chửa hoang thường khi thật là tàn-nhẫn. Cô gái bị ruồng-rẫy khinh-bỉ, và ca dao đã có câu mỉa-mai các cô :
« Không chồng mà chửa mới ngoan,
Có chồng mà chửa thế gian đã thường ! »
Chính vì sợ mỉa-mai ruồng-rẫy ấy, nên có nhiều cô gái không may, gập phải những chàng trai họ Sở, chơi hoa cho chán rồi quất ngựa truy-phong để cho các cô trong bụng mang nặng khối tình, các cô thường tìm cách hủy cục máu trong bụng nó làm cho các cô ô-nhục xấu-hổ. Tục-lệ xưa cũng không dung-tha sự phá-thai. Phá cái hoang-thai trong bụng, các cô đã có tội chỉ càng có tội thêm !
Ngày nay luật-pháp truy-tố những người phá thai.
Ngay từ hồi xưa ít ai dám giúp các cô gái phá-thai, vì đây liên-hệ tới cả một mạng người ! Nhiều người tin rằng làm việc phá-thai hại tới âm-đức, nên các bà mụ được các cô gái có chửa nhờ thuê đều từ-chối việc làm, vô nhân-đạo này.
Đã có nhiều bà mẹ chửa hoang, khi đẻ vì xấu-hổ bóp chết đứa bé rồi chôn rập chôn vùi ! Thật là tàn-nhẫn !
XI. VẤN ĐỀ ĐA THÊ
Ta theo tục Tàu, lại thêm tín-ngưỡng của ta lấy việc thờ-phụng tổ-tiên làm quan-trọng, và theo sự thờ cúng, mỗi khi khấn-khứa cần phải người cùng huyết-thống với tổ-tiên, nên vấn-đề nối-dõi tông-đường là một vấn-đề to-tát và các cụ cho việc không có kế-tự là tội nặng nhất trong các điều bất-hiếu. Chỉ con trai mới có thể nối dòng huyết-thống được, con gái sau này lớn lên theo họ nhà chồng, sinh con đẻ cái đều lấy họ chồng.
Chính vì sự cần có con để dòng họ được sinh-tồn, những người đàn ông, sau khi lấy vợ một thời-gian, vợ không sinh đẻ hoặc « chỉ sinh con một bề », sinh toàn con gái, có quyền cưới thêm vợ lẽ, lấy thêm nàng hầu để kiếm giọt máu sau này nối việc thờ-phụng tổ-tiên.
Tục đa-thê của ta bắt nguồn ở đạo thờ tiên-tổ, nhưng dần-dà về sau, ta cũng như người Tàu, nhiều người dù có con trai hay không có con trai cũng vẫn cứ cưới thêm bà bé, lấy thêm nàng hầu, và có người có đến năm bẩy vợ để thỏa-mãn ý muốn của mình không kể gì đến quyền lợi của các bà vợ nữa. Để bênh vực cho mình, các ông thường nói :
« Sông bao nhiêu nước cũng vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng ! »
Vả chăng các ông lại thường cho rằng : « Cả sông đông chợ. Lắm vợ nhiều con », chứ có hề-hấn tai-hại gì.
Chính luật-pháp xưa cũng dong-túng tục đa-thê và cho phép người đàn-ông có quyền lấy nhiều vợ. Gần đây cho đến thời hậu-chiến, quyền lấy nhiều vợ vẫn còn tồn-tại, nhưng bó-buộc phải được người vợ cả ưng-thuận và lập giấy giá-thú, người vợ cả phải ký vào để cho phép.
Ở các vùng quê, có rất nhiều trường-hợp, bà vợ cả vì không có con trai, thân đi cưới vợ lẽ cho chồng.
Người vợ lẽ về gần-gụi chồng, phải kính-nể người vợ cả.
Lại có những người vợ lẽ, sau khi lấy chồng làm ăn khấm-khá, xin phép vợ cả cưới vợ ba cho chồng, lẽ tất-nhiên người vợ ba về phải chịu tòng-phục bà vợ hai. Có nhiều gia-đình cứ bà nọ cưới thêm bà kia, khiến ông chồng chỉ việc tọa-hưởng kỳ thành, có khi đến năm sáu vợ.
Việc cưới thêm vợ cho chồng, thường chỉ có ở những gia-đình khá-giả, nhất là khi người chồng có những chức-vụ đàn-anh trong hàng xã hàng tổng.
Những cặp vợ chồng bố cu mẹ đĩ, bận lo sinh-kế nhiều, chỉ sống một chồng một vợ, hoặc nếu có trường-hợp con cái hiếm-hoi, vợ chồng vạn-bất-đắc-dĩ mới dám tính đến chuyện cưới thêm cô vợ bé để sinh con nối dõi tông-đường.
Vả chăng, lấy chồng làm lẽ là một điều không cô gái nào muốn. Ai chẳng muốn chồng một vợ một, cơm dẻo canh ngọt với nhau, tội gì chịu phận lẽ mọn cho khổ thân. Ca dao đã có câu :
« Lấy chồng làm lẽ khổ thay,
Đi cấy, đi cầy, chị chẳng kể công.
Tối tối chị giữ lấy chồng,
Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài.
Sáng sáng chị gọi bớ hai,
Trở dậy nấu cám thái khoai băm bèo ! »
Làm lẽ thực là cực khổ. Có khi chỉ là người ở không công, ăn cơm nguội, nằm nhà ngoài.
Nhiều cô gái đã hằng nói theo câu tục ngữ : « Chết trẻ còn hơn lấy lẽ ».
Không ai muốn lấy làm lẽ, nhưng hoàn-cảnh đưa tới, các người đàn ông vẫn được có vợ lẽ, và có khi đến vợ ba, vợ tư, vợ năm, vợ sáu như thường.
Có người vì nghèo khó phải lấy làm lẽ. Có người vì trót ăn vụng chóng no phải lấy làm lẽ, vả chăng những lời đường-mật ong-bướm của những ông có vợ rồi nhiều khi nghe cũng thật nên quyến-rũ, khiến cho cô gái tuy biết rằng khổ vẫn cứ đâm đầu vào.
Lại có những góa-phụ, chịu không nổi cảnh cô-đơn chiếc bóng, muốn tìm nơi nương-tựa, nên các bà đành chặc lưỡi, nhắm mắt lấy lẽ một ông già cho xong !
Những cô gái khôn-ngoan không mắc lời đường-mật của các ông đã có vợ rồi. Đối với những lời tán-tỉnh của các ông, các cô thường trả lời :
« Đã thành gia-thất thì thôi,
Đèo bòng chi nữa, tội trời ai mang ! »
Đối với các ông, các ông đưa ra quan-niệm :
« Năm con năm đấu,
Mười vợ mười thương ! »
Các ông bảo tình thương yêu vô bờ bến, thương yêu bao nhiêu người cũng không hết, càng nhiều vợ nhiều con, tình thương yêu càng san-sẻ thì lại càng rộng-rãi đằm-thắm.
1) THÁI ĐỘ CÁC BÀ VỢ CẢ
Ca dao ta có câu :
« Ớt nào là ớt chẳng cay,
Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng ! »
Có chồng, có đời nào ai chịu để chồng đem san-sẻ tình yêu cho người khác, nên thường khi các bà vẫn ghen, nhưng nền luân-lý Á-Đông khe-khắt, ghen chồng cũng là có tội, nên sự ghen-tuông của các bà ngấm ngầm, và nhiều khi vì ghen-tuông không có kết-quả, các bà đành phải giữ một thái độ quân-tử để cho chồng phục và các cô vợ bé cũng phải kính-nể.
Sự thật mọi người đàn ông có giáo-dục biết trọng lễ-nghi phong-tục không bao giờ say mê những vợ bé, bê-trễ với người vợ cả.
Tuy rằng thương yêu những người vợ bé, có khi say-mê thật, nhưng bao giờ người vợ cả cũng là cột-trụ trong đám vợ con, nên người chồng dù năm thiếp bảy thê cũng không sao-nhãng người vợ cả. Đây là người vợ của cha mẹ cưới cho, đối với nàng, chàng có bổn-phận làm chồng Và những người vợ cả cũng hiểu rằng :
« Dù chàng năm thiếp bảy thê
Thì chàng cũng chẳng bỏ gái sề này đâu ».
Chính vì vậy mà người vợ cả không ghen lại tỏ ra quảng-đại bao-dung đối với vợ lẽ :
« Có dong kẻ dưới mới là lượng trên ».
Vả chăng sự ghen tuông, nền luân-lý của ta rất chê cười, vì xấu chàng hổ ai. Ghen-tuông lắm chỉ làm điếc tai hàng xóm, xưa nay có ai khen bao giờ.
Trong những năm gần đây, đã có xảy ra nhiều vụ cả lẽ ghen-tuông, nhưng nếu so ra thì những vụ đó cũng không nhiều.
Có điều đáng mừng là ít lâu nay tại các nơi đô-thị, chế độ đa-thê không còn mấy, ngoài ra luật-pháp cũng đã dọn đường để chấm-dứt chế-độ này.
Chấm dứt chế-độ đa-thê rất hay, nhưng luật-pháp cũng phải nghĩ sao cho những đứa con ngoại-hôn khỏi bị cảnh không cha không mẹ và bị xã-hội bạc đãi.
Trước đây, tuy chửa hoang bị phong-tục khinh-rẻ, nhưng có nhiều trường-hợp các cô gái dan-díu với những chàng trai có vợ, đành nhắm mắt ưng cảnh đắp chăn đơn ăn cơm nguội để cho đứa con khỏi là con hoang, khỏi là đứa con không cha không mẹ.
2) NÀNG HẦU
Đây chỉ là một hình-thức của chế-độ nô-lệ thời xưa còn lại, theo phong-tục của người Trung-Hoa truyền sang ta.
Ngày xưa tại các gia-đình sang-trọng có nuôi những nô-tỳ : đây là những cô gái, bố mẹ nghèo đem bán cho nhà giàu làm đầy-tớ, hoặc là vợ và con gái các phạm-nhân trọng-tội bị triều-đình bắt phân-phối cho các quan trong triều. Những nô-tỳ này là đầy-tớ chung thân của những gia-đình nuôi họ.
Các chủ-nhân hoàn-toàn có quyền trên họ, có thể nhường hoặc bán lại họ cho một gia đình-khác.
Theo luật-lệ, các nô-tỳ định chống lại chủ-nhân phải tội chết, trái lại, các chủ-nhân có đánh chết nô-tỳ chỉ phải phạt trượng.
May thay chế-độ này đã mất từ lâu, nhưng tàn-tích của nó vẫn còn lại dưới hình-thức nàng-hầu.
Nàng-hầu là những cô con gái nhà nghèo được các ông nhà giàu,tuy đã có vợ cả vợ lẽ đủ rồi, mua về để hầu hạ các ông. Đấy cũng chỉ là một cách lấy thêm vợ lẽ, người vợ lẽ này mang danh là nàng-hầu và quyền-hạn không được đủ như quyền-hạn một người vợ lẽ.
Lấy vợ lẽ thì phải nộp cheo, còn mua nàng hầu thì không cần một lễ-nghi gì, nàng hầu cũng ví như một món hàng, mua bán xong là xong !
Người vợ lẽ sinh con, đứa con đó là con mình, được gọi mẹ là mẹ, trái lại khi nàng-hầu sinh con thì đứa con đó là con người vợ cả, và đứa con này chỉ được gọi người mẹ chính của mình bằng cô, còn tiếng mẹ dành để kêu người vợ cả.
Trong nhiều gia-đình, chính người chồng không muốn mua nàng-hầu làm chi, nhưng các bà vợ, vì keo-kiệt không muốn mượn người làm, nên mua nàng hầu cho chồng để nàng-hầu phải làm công việc của người đầy-tớ, không khác chi nô-tỳ thời xưa, chỉ khác một điều là đôi khi được ông chồng già hỏi tới và do sự hỏi tới này có thể có con được.
Nhiều người giàu, có đến năm bảy nàng-hầu, và các nàng-hầu phải chịu cảnh làm lụng đầu tắt mặt tối, rất ít khi được ông chồng già vời thăm.
Ngày nay, chuyện mua hầu có lẽ không còn nữa vì luật-pháp không dung-túng việc vô nhân đạo này, nhưng vẫn có chuyện lấy chồng làm lẽ, có khi vì hoàn cảnh, có khi vì cô gái thực sự thương yêu người đàn ông đã có vợ rồi.
Những người vợ lẽ này thường bị vợ cả và các con chồng gọi là nàng-hầu. Danh từ nàng-hầu ngày nay gần như đồng nghĩa với vợ lẽ !
XII. TẢO HÔN
Như đã nói, ở nước ta, người ta dựng vợ gả chồng cho con rất sớm, nhiều khi ngay từ lúc đứa trẻ còn ở trong bào-thai.
Một đôi bạn bè quen biết nhau, hai bà vợ cùng hoài thai, thế là đôi bên đính-ước với nhau, nếu một bên sinh trai, một bên sinh gái sẽ cho đôi trẻ lấy nhau. Như thế, hai đứa trẻ mới sinh ra đã là đôi người hứa hôn, rồi khi lớn lên, chẳng cần gặp gỡ, cứ đến tuổi là hôn-lễ cử-hành để đôi bên lấy nhau. Thường hôn-lễ cử-hành rất sớm, ngay từ khi đôi trẻ mới mười lăm mười sáu tuổi.
Đôi bên lấy nhau vợ chồng đồng tuổi, không có sự chênh lệch gì, người đàn bà không phải chịu thiệt thòi gì, nhất là vấn-đề yêu-thương.
Trái lại, có nhiều đám cưới, chú rể mới độ chín mười tuổi mà cô dâu thì 16, 17. Đây cũng là những trường-hợp tảo-hôn, nhưng chỉ đối với chàng rể, còn đối với cô dâu lấy chồng khi 16,17 tuổi tức là đúng lúc cơ-thể đã đủ nảy nở.
Tại sao có những đám cưới chênh-lệch vậy ? Vì nhà trai giàu có cần người làm, cưới con dâu về để làm thay đầy tớ. Gia-dĩ, cha mẹ cô dâu lại nghèo, gả con thì được món tiền thách-cưới, nên tuy biết rằng gả con như vậy, con sẽ không được hưởng ngay lạc-thú gia-đình, nhưng bố mẹ cũng cứ gả.
Rất nhiều trường hợp về nhà chồng, vợ tối tối phải đưa chồng đi rửa chân rồi bế chồng đi ngủ.
Những đám cưới chồng bé vợ lớn thường bị người ta chê cười, mà cô dâu là nạn-nhân khổ sở nhất, tuy bản-tâm cô không bao giờ muốn lấy một anh chồng bé tỉ-ti, để chịu tiếng chê bai của những chàng trai làng trên xã dưới :
« Em tham giàu, em lấy chồng bé ti-ti,
Làng trên xã dưới thiếu gì trai tơ !
Em đem thân cho thằng bé nó giày-vò,
Mùa đông tháng giá nó nằm co trong lòng.
Mang danh là gái có chồng,
Chín đêm trực tiết nằm không cả mười,
Nói ra sợ chị em cười,
Má hồng bỏ quá thiệt đời xuân xanh ».
Lấy chồng, ai chẳng muốn lấy chồng phải tuổi để còn nhờ cậy, trông vào sự che-chở. Lấy anh chồng nhỏ tỉ-ti còn trông mong nỗi gì. Hơn nữa, khi đôi vợ chồng đi ra đường, còn người ngoài nhìn vào ! Lấy chồng phải đâu chỉ để sống mãi ở trong nhà :
« Chồng lớn vợ bé mới xinh,
Chồng bé vợ lớn ra tình chị em ».
Ngày nay, may thay luật-pháp đã ấn-định rõ-ràng tuổi kết-hôn của đôi bên trai gái, dưới tuổi ấn định bởi pháp-luật, dù trai hay gái cũng chưa được kết-hôn.
Với luồng gió mới Âu Tây thổi tới, quan-niệm hôn-nhân khác hẳn xưa, đôi bên trước khi lấy nhau thường tìm hiểu nhau, như vậy tất nhiên phải tới một tuổi hiểu-biết rồi, do đó tục tảo-hôn tự-nhiên không còn nữa.
XIII. ÉP DUYÊN
Phương-ngôn Việt-Nam có câu : « Ép dầu ép mỡ ai nỡ, ép duyên », chứng tỏ rằng trong việc hôn-nhân nên để cho đôi trẻ tự lựa-chọn lứa-đôi, không nên có sự ép-uổng.
Phương-ngôn tuy nói vậy, nhưng sự thật, trên thực-tế, sự ép duyên vẫn thường xảy ra.
Bố mẹ ép duyên con là muốn cho con sung-sướng, nhất khi con là con gái, bố mẹ thường nhằm kén chồng cho con vào những nơi con có thể sở-cậy được, còn con trai bố mẹ cũng nhằm kén con dâu sau này có thể thành người vợ đảm, người dâu hiền. Sự ép duyên ở đây do hảo-ý của bố mẹ đối với con.
Cũng có nhiều trường-hợp bố mẹ ép duyên con không phải vì hạnh-phúc của con, chính vì sự ích-kỷ của bố mẹ. Kén vợ cho con các cụ muốn kén nơi môn đăng hộ đối, kén con nhà danh-giá có thế-lực để bố mẹ nhờ cậy, không kể chi đến sự ưng-thuật của con trai, không kể chi đến con dâu có thể hợp với con trai được không ?
Như trên đã có trình-bày, nhiều gia đình ép con ít tuổi lấy vợ nhiều tuổi để về nhà có người làm-lụng thay cho đầy tớ.
Đối với con gái cũng vậy, bố mẹ gán-ghép con muốn gả con cho nơi xứng dâu-gia, muốn gả con vào nhà giàu có. Có khi bố mẹ gả con để trừ nợ, hoặc để nhờ cậy nhà trai một việc gì.
Nhiều cô gái đã từng bị bố mẹ gả làm lẽ để trừ một món tiền, hoặc bị gả cho một ông già, để bố mẹ được hưởng một món lợi.
Ép duyên thực là một tệ-tục, ai cũng biết, tiếc rằng ngày nay tại các vùng quê vẫn còn, nên thỉnh thoảng trên mặt báo lại đăng tin một cô dâu tự-ải trong tiệc cưới !
Ước-ao rằng trong một thời-gian không xa nữa, cái tệ-tục tai-hại này sẽ không còn tồn-tại ở nước ta !
XIV. TRÁO-HÔN
Tráo-hôn tức là đánh tráo người này vào người khác trong việc cưới xin.
Nhiều gia đình có con trai hoặc gái vì xấu-xa hay tật-nguyền không thể cưới hoặc gả chồng được, liền nhờ mai-mối khéo-léo để đến khi cưới thì tráo-hôn.
Muốn như vậy, trong những khi xem mặt, dù con trai hay con gái đều dùng người khác thay cho các đương-sự, ngay cả khi đưa rể đón dâu.
Đối với những chàng trai thì dễ, vì lúc động phòng đèn nến tắt hết, chú rể chính thức sẽ vào hoa-đuốc với cô dâu. Xưa kia, đôi bên vợ chồng đâu có quen biết nhau từ trước, nên trong đêm động-phòng cô dâu không thể nào nhận biết được thật giả, và sáng ngày hôm sau, ván đã đóng thuyền, cô dâu chỉ đành cam phận !
Tráo-hôn đối với những cô dâu khó hơn, nhưng khi nhà gái đã muốn nhờ bà mai, bà mai sẽ nói thẳng với cha mẹ chú rể, để đánh tráo cô dâu sau lễ tơ hồng. Thường trong việc tráo hôn, lễ rước dâu cử hành muộn, và lúc lễ tơ hồng xong, vài cô phù dâu đưa cô dâu vào phòng, rồi một trong các cô phù dâu biến thành cô dâu chính thức ở lại động phòng cùng chú rể.
Tráo hôn cũng như ép duyên đều là tệ-tục, đã là tệ-tục ắt khó tồn tại được !
XV. TRỞ HÔN
Việc cưới xin xưa phải do mệnh cha mẹ, nếu cha mẹ không bằng lòng, việc lấy nhau không có giá trị, vì cha mẹ có quyền trở-hôn.
Nếu cha mẹ đã chết rồi, các bậc tôn trưởng thay quyền cha mẹ cũng có thể trở-hôn, tức là ngăn trở đám cưới.
Cưới vợ lẽ, nếu vợ cả không bằng lòng, vợ cả có quyền trở-hôn.
Ngoài các người trên, người thủ bạ giữ sổ hôn thú trong làng, kể từ khi có lập sổ này cũng có quyền trở hôn, khi biết một trong hai người phối ngẫu đã có kết duyên với một lần với người khác.
Vấn đề trở hôn của cha mẹ ngày nay chỉ có hiệu lực khi con gái chưa đến tuổi trưởng thành. Đã trưởng thành rồi, con cái có quyền tự do kết hôn.
Ngoài ra các đệ tam nhân cũng có quyền trở-hôn nhưng phải khiếu nại trong thời gian luật định kể từ ngày giấy báo kết-hôn được niêm yết tại nơi công-sở bởi viên chức phụ-trách về giá-thú.
XVI. HÔN NHÂN VÔ-HIỆU-LỰC
Việc cưới xin theo tục-lệ bao giờ cũng có hiệu-lực, tuy nhiên có chín trường hợp sau đây, hôn lễ mặc dầu đã cử-hành vẫn cứ vô-hiệu-lực :
- Mạo hôn, tức là tráo hôn.
- Đem vợ, đem nàng hầu cầm cho người ta làm vợ, làm nàng hầu, hoặc đem vợ, đem nàng hầu giả làm chị em gả cho người khác.
- Đem vợ lẽ làm vợ cả, hoặc có vợ cả rồi lại cưới vợ cả nữa.
- Cư tang giá thú, nghĩa là trong lúc có đại-tang cử hành hôn lễ.
- Bà con họ hàng lấy nhau.
- Quan thú hộ dân, nghĩa là làm chức vụ ở một nơi nào dùng quyền hành ép uổng người dân nơi đó phải lấy mình.
- Lấy đàn bà có tội đi trốn.
- Thầy tu lấy vợ.
- Một người đàn bà lấy hai chồng.
Kể từ khi có luật hộ tịch của người Pháp đặt ra tại Việt-Nam, mỗi cuộc hôn nhân đều phải lập giấy giá thú. Không có giá thú, hôn nhân có thể bị coi như vô hiệu quả.
XVII. LY-DỊ
Tục ta trọng nam kinh nữ. Trong gia đình người chồng có rất nhiều quyền, người vợ không có quyền gì.
Ngày xưa đàn-bà không có quyền bỏ chồng, trái lại đàn-ông có quyền bỏ vợ, người xưa không gọi là bỏ mà gọi là đuổi.
Có bảy điều người đàn-bà có thể bị chồng đuổi gọi là thất xuất :
- Không con
- Dâm dật
- Không thờ cha mẹ chồng
- Đa ngôn
- Trộm cắp
- Ghen tuông
- Có ác-tật.
Đàn bà lấy chồng cần phải có con để nối dõi tông-đường, không có con, người chồng có quyền lấy vợ khác. Chính vì việc cầu-mong có con này mà đã có nhiều đàn-bà phải đi thả-cỏ nghĩa là ăn nằm với người khác để lấy con, vì ăn nằm với chồng không thụ thai. Nếu đi thả cỏ bị chồng bắt được ắt mang tội dâm-dật.
Dâm-dật lẽ tất nhiên là một nết-hư, cũng như không thờ phụng bố mẹ chồng là bất-hiếu.
Đa-ngôn thì lắm-điều, chua-ngoa làm chồng khó chịu. Trộm cắp gian phi cùng ghen-tuông làm xấu tới chồng.
Người có ác-tật thực ra đáng thương, nhưng có thể truyền tật-bệnh của mình cho chồng được, cho nên đáng thương mà khó dung vậy !
Ngoài bẩy điều trên khiến người chồng có thể đuổi vợ, người xưa cũng nghĩ tới sự bênh vực người đàn bà, nên có đặt ra ba điều mà người chồng không được đuổi vợ. Ba điều đó gọi là tam bất-khả-xuất :
- Đàn bà từng chịu tang 3 năm ở nhà chồng, nghĩa là chịu qua một đại-tang.
- Trước nghèo sau giàu.
- Nếu từ-giã nhà chồng về nhà mình không có nơi nương-tựa.
Ba điều Tam khả-bất-xuất đã được người xưa giải thích :
- Đàn bà đã chịu tang một đại-tang tức là đã giúp chồng trong việc báo-hiếu rồi, như vậy là có công với chồng, chồng không có quyền phụ-bạc.
- Lúc lấy nhau nghèo, về sau giàu tức là có sự giúp-đỡ của vợ, người chồng không thể vì giàu mà đổi vợ, bỏ vợ như vậy là phụ công vợ.
- Còn điều thứ ba, khi chưa lấy chồng, người vợ có nơi nương-dựa, rồi trong thời-gian lấy chồng, bố mẹ chết hết, họ hàng không còn ai, người chồng bỏ vợ như vậy là bất-nghĩa.
Đạo vợ chồng nghĩa nặng tình thâm, tục ta tuy trọng nam khinh nữ, nhưng nền giáo-dục cổ-truyền của ta đã khiến cho người đàn ông phải giữ liêm-sỉ thương yêu vợ trong vòng đạo-đức, và người đàn-bà nếu gặp người chồng không biết điều cũng nhẫn-nại chịu đựng. Chính vì vậy việc bỏ chồng rất hiếm.
Ngày nay luật-lệ đã thay đổi, phong-tục cũng thay đổi theo. Nam nữ bình-đẳng, nếu trai có quyền bỏ vợ thì gái cũng có quyền bỏ chồng, nhưng đòi bên muốn bỏ nhau phải có lý-do, hoặc phải có tội-lỗi quy-định bởi pháp-luật.
Pháp-luật bao giờ cũng bảo-vệ gia-đình, nên luật-lệ về ly-dị cũng rất tỉ-mỉ, cốt cản-trở càng nhiều càng hay sự tan-vỡ của một gia-đình.
XVIII. NGOẠI-TÌNH VÀ GIAN-DÂM
Điều thứ hai trong thất xuất là dâm-dật. Phong-tục ta rất khắt khe về phương diện này ; người con gái chưa chồng gian-dâm bị bố mẹ từ, làng nước phạt vạ vì làm điếm-nhục gia-phong, phạm tới thuần phong mỹ-tục. Kẻ có chồng gian-dâm tội càng nặng hơn, không những luật xưa nghiêm phạt, ngay đến cả dư-luận cũng không tha. Nhiều thiếu-phụ có chồng vẫn còn đi ngang về tắt lấy cớ « chồng ăn chả thì vợ ăn nem », tội-lỗi vì khéo bưng-bít không bị pháp-luật trừng-trị, nhưng vẫn bị dư-luận chê bai. Có biết bao nhiêu câu ca-dao mai-mỉa những kẻ có chồng mà vẫn ngoại-dâm.
« Có chồng càng dễ chơi ngang,
Đẻ ra, con thiếp, con chàng, con ai ?
Có cô đội nón ba tầm,
Chồng cô đi vắng cô nằm với ai ?
Cô đẻ thằng bé con trai,
Chồng về chồng hỏi : « Con ai thế này ? »
- « Con tôi đi kiếm về đây,
Có cho nó gọi bằng thầy thì cho ! »
Luật pháp trừng phạt những kẻ có chồng ngoại-dâm rất nặng, chồng có quyền đánh đập, đuổi bỏ, nếu chẳng may trong sự đánh-đập có quá tay, người vợ bị thiệt-mạng, người chồng cũng chỉ bị tội rất nhẹ. Trước khi đuổi bỏ, người chồng có thể bêu-diếu người vợ làm cho nhục-nhã, khiến cho người vợ phải tủi hổ mà tự xử lấy mình.
1) GỌT GÁY BÔI VÔI
Đây là một hình-phạt đối với người vợ ngoại-dâm.
Người đàn-bà dâm-dật bị chồng bắt được quả-tang ân-ái với trai, có khi chỉ chuyện-trò lẳng-lơ với trai, có thể bị chồng trừng-phạt bằng cách « gọt gáy bôi vôi ».
Đôi gian phu dâm phụ bị người chồng bắt trói, riêng người vợ bị gọt hết tóc nơi gáy, có khi gọt trọc hẳn đầu, rồi dẫn đi suốt đầu làng cuối ngõ để bêu-rếu sỉ nhục. Chỗ gáy người vợ bị gọt tóc, người chồng lấy vôi bôi trắng xóa. Trong khi bị dẫn đi khắp làng, trẻ con chạy theo nhòm ngó, hò reo và người lớn ai trông thấy cũng phỉ nhổ rẻ khinh. Khi người đàn bà chỉ bị gọt trọc riêng nơi gáy, chùm tóc đằng trước người chồng đem bắt xõa ra phía mặt để làng nước trông rõ nơi gáy bị bôi vôi.
Đôi gian phu dâm phụ bị dẫn đi khắp hang cùng ngõ hẻm trong làng, sau đó người chồng mới đem trình hương chức để giải quan trị tội thông dâm theo luật pháp. Có khi người chồng quá tức giận vì ghen tuông, đem cả cặp thông gian đóng cọc phơi nắng hàng ngày sau khi đã dẫn đi khắp làng, rồi mới trình với hội đồng làng.
Hình phạt tuy tàn nhẫn nhưng người làng không ai can thiệp kể cả thân nhân của gian phu dâm phụ. Ai thấy cũng cho là đáng tội ! Mọi người có khi dùng ngay cặp gian phu dâm phụ đó để khuyến cáo những kẻ trai lơ khác.
Năm 1930, vào khoảng nhị-bán-niên, nếu ai có ở Hà-nội ắt còn nhớ chuyện một phụ-nữ ngọai-dâm ở quận Nhất bị chồng bắt được, trình Cẩm, rồi cho đeo vào cổ hai chiếc thùng sắt tây dẫn đi các phố, vừa đi vừa có người gõ vào hai chiếc thùng cho kêu để dân hàng phố đổ ra xem.
Người đàn-bà ngoại-dâm này lại có đeo trước ngực một tấm biển có đề hai câu sau :
« Có chồng mà lại theo giai,
Ông Cẩm bắt được đeo hai cái thùng ! »
Đọc tới đây, có lẽ có người sẽ hỏi tại sao có những hình-phạt tàn-nhẫn và vô-nhân-đạo như vậy lại được luật-pháp chấp-thuận ?
Đúng ! Hình-phạt tàn-nhẫn và vô-nhân-đạo thật, nhưng nếu bạn đọc thử nghĩ tới gần đây có những thiếu-phụ năm ba con vẫn chưa hết lòng chồng, bỏ chồng, bỏ con theo trai, thậm chí lại có người rước trai về giết chồng, hoặc có bà bị chồng bắt gặp nói chuyện với trai, chồng chất-vấn trai, nổi-xung lấy dao đâm chồng, chắc các bạn đọc sẽ nghĩ khác ! Có lẽ sự trừng-phạt ngày nay đối với gian-phu dâm-phụ thật là quá nhẹ !
2) BÈ CHUỐI TRÔI SÔNG
Đây cũng là một hình-phạt dùng để trừng-trị người đàn-bà có chồng còn ngoại-dâm.
Người chồng bắt được vợ thông-dâm với trai đem trình nhà chức-trách sở-tại, nhà chức-trách sở-tại trình lên quan, quan theo luật xét-sử. Người đàn-bà thông-dâm có thể bị kết tội « Bè chuối trôi sông ». Thi-hành hình-phạt này, người ta làm một chiếc bè bằng thân những cây chuối. Người đàn-bà tội-lỗi bị cột lên bè chuối và bè chuối được thả trôi theo dòng sông.
Người đàn-bà sẽ chịu chết trên bè chuối. Bè chuối có dạt vào làng nào, sẽ bị dân địa-phương đẩy ra. Thấy người đàn-bà trên bè chuối, dân chúng biết đó là một kẻ phạm-tội phản chồng, và tội này, đối với lễ-giáo Đông-phương không ai tha-thứ. Ngoài ra, theo lời các cụ nói lại thì người ta tin rằng nếu xã nào để cho người đàn-bà bị bè chuối trôi sông như vậy dạt vào và cứu sống người này, dân xã đó sẽ gặp nhiều sự không may nhất là cho các đàn-bà con gái. Cứu sống một dâm-nữ, dâm-thần sẽ tới ngự-trị tại địa-phương, phụ-nữ địa phương sẽ trở thành dâm-ô, con gái chửa hoang, đàn-bà sẽ lộn-chồng. Do sự tin-tưởng ấy cộng vào sự khắc-nghiệt của luân-lý ta đối với đàn-bà có chồng ngoại-dâm, nên kẻ bị bè chuối trôi sông không bao giờ được cứu thoát. Ai từ-tâm tới đâu cũng không dám cứu-vớt những người đàn-bà đáng thương này. Có thể họ thấy dạt vào bờ còn sống, họ cho chút thức ăn rồi họ lại đẩy bè trôi ra sông.
Cách đây hơn bốn chục năm, vào khoảng năm 1917, 1918, trên sông Đáy hãy còn một vụ bè chuối trôi sông. Theo lời các cụ chứng-kiến vụ bè chuối trôi sông này thuật lại, sự việc xảy ra như sau :
Tại phủ Lý-Nhân, tỉnh Hà-Nam, cách Hà-Nội 50 cây số về phía Nam, ở ngay bờ sông Đáy, có một người đàn-bà có chồng ngoại-dâm bị chồng bắt được và bị kết án Bè chuối trôi sông.
Chính gia-đình nhà chồng đương-sự đã thi-hành bản-án của quan Phủ Lý-Nhân trước sự hiện-diện của người thay mặt quan phủ.
Người đàn-bà được đặt ngồi trên bè chuối, ăn vận chỉnh-tề với đủ tư trang, người bị trôi sông được coi như người chết, khi khâm-liệm, nên có đủ đồ dùng của mình, người chết được con cháu mặc cho quần áo chỉnh-tề trước khi liệm và trong áo quan có xếp một số các đồ dùng thường xuyên của người này, thì người bị trôi sông cũng có những đồ dùng tương-tự.
Người đàn-bà ngồi trên bè chuối, hai chân bị néo chặt vào bẹ một cách khiến cho người này không sao tự gỡ lấy được. Trên bè chuối có một mâm cơm, một ấm nước, một âu trầu với đủ bát chén đũa. Lại có cắm một tấm biển kể rõ lý-lịch và tội trạng của phạm-nhân.
Người nhà kẻ đáng thương có cho mời thầy tự tới cúng lễ cho đương-sự, cầu cho đương-sự được chết yên-ổn.
Tới giờ ấn-định bè chuối được đẩy ra giữa sông mặc sự kêu-van khóc-lóc của phạm-nhân. Bè chuối trôi đi, những người chứng-kiến trên bờ nhìn theo, người nhà thân-thuộc của đương-sự buồn rầu đứng nhìn cho tới khi bè chuối trôi khuất. Có điều đáng thương là trước khi bè chuối bị đẩy ra giữa sông, đương-sự xin gặp mặt chồng để vĩnh-biệt và vái lạy chồng…
Kể ra trừng-phạt như vậy thật là độc-ác, nhưng nếu so sự trừng phạt này với các hình-phạt voi giày, ngựa xé vẫn dùng để trừng-phạt những kẻ có chồng phạm-gian, có lẽ tội Bè chuối trôi sông cũng chưa là quá nặng.
Luân-lý của ta khắc-nghiệt, luật-pháp của ta nghiêm-ngặt, phong-tục của ta khe-khắt đối với tội ngoại-gian, nhưng chính sự khắc-nghiệt nghiêm-ngặt và khe-khắt ấy đã giữ được cho xã-hội thời trước không xảy ra những vụ đàn-bà thông-dâm rồi lại giết chồng như ngày này !
XIX. GÁI GÓA VỚI TỘI PHẠM-GIAN
Theo lễ-nghi Việt-Nam có đạo tam-tòng, và muốn giữ vẹn đạo tam-tòng, người đàn-bà khi chồng chết phải ở vậy thờ chồng nuôi con, dù còn ít tuổi. Triều-đình xưa thường tặng-phong cho các mẹ góa chăm chỉ thờ chồng nuôi con để khuyến-khích việc ở vậy của các góa-phụ. Các bà này được vua ban cho bốn chữ Tiết hạnh khả phong. Các bà được mọi người nể trọng và được nêu làm gương cho tất cả các cô gái góa-chồng.
Trái lại, những góa-phụ tái-giá bị người đời chê cười, họ-hàng dè-bỉu. Những góa-phụ phạm tội thông-dâm càng bị xã-hội khinh rẻ hơn. Họ bị làng nước phạt vạ, bị nhà chồng trục-xuất và bị truất hết mọi quyền-hành đối với các con.
Tình cảnh những người góa-phụ không được đi tái-giá thật đáng thương. Tích xưa có truyện người đàn-bà quạt mồ chồng cho mau khô để tái-giá, vì trước khi chết người chồng đã trối-trăng cho phép người vợ đi bước nữa khi đất mộ được khô. Kể lại chuyện này người xưa đã kết luận :
« Thương thay cho gái quạt mồ ! »
Dư-luận đối với các góa-phụ muốn vội vàng tái-giá rất khe-khắt. Đã có những câu ca-dao chế giễu những hạng người này :
« Giàu thì thịt cá cơm canh,
Khó thì lưng dưa đĩa muối cúng anh tôi đi lấy chồng.
Tôi khóc rằng : Ới cái anh chồng cũ ơi !
Có thiêng thì anh trở dậy ăn xôi nghe kèn.
Anh đã về nghề-nghiệp ấy, xin anh đừng ghen,
Để cho người khác cầm quyền thê-nhi.
Một tay tôi thắp hương, một tay tôi ẵm ông thần vì,
Xin ông phù-hộ để tôi đi lấy chồng !
Ới thằng cu lớn, ới thằng cu bé, hỡi con bé tí tị tì ti,
Con ăn cơm, con ở với ông, con ở với bà,
Cho mẹ đi bước nữa kiếm vài chút em,
Cha con mất đi, mẹ hãy còn thèm,
Mẹ xem quả bói hãy còn đàn em trong bụng này !
Ới thằng cu lớn, con ra gọi chú vào đây,
Để mẹ trao trả cái nghiệp này mẹ cho,
Chứ dẫu ngày sau mẹ thác đi, con tế mẹ ba bò.
Cũng không bằng thủa sống con cho mẹ đi lấy chồng.
Con ơi, con chịu nghe không ? »
XX. KẾT-HÔN VỚI NGƯỜI NGOẠI-QUỐC
Trong vấn đề hôn-nhân, người Việt-Nam thường phối-ngẫu với nhau. Trước con mắt mọi người, sự kết-hôn với ngoại-nhân là điều không đẹp, nhất là đối với đàn-bà.
Đàn ông có thể lấy vợ ngoại-quốc, tuy có điều dị-nghị, nhưng thực ra không khe-khắt. Trường-hợp này cũng rất ít, một số người lấy vợ Trung-Hoa thì chẳng bao lâu người vợ sẽ đồng-hóa với chồng và biến thành người Việt, một số ít lấy vợ người Pháp dưới thời Pháp thuộc, nhưng những người này sau khi kết-hôn, được nước Pháp cho nhập quốc-tịch Pháp, họ không còn là người Việt nữa. Đối với họ, những sự chê-bai mất gốc hầu như vô-nghĩa.
Đàn bà Việt-Nam lấy chồng ngoại-quốc phải chịu nhiều điều chỉ trích dù người chồng đó là hạng người sang-trọng có danh-vọng.
Ta có câu : « Lấy chó trong làng hơn lấy người sang thiên-hạ ». Câu này chứng-tỏ các cô gái Việt muốn kết-duyên với người đồng xã hơn với trai thiên-hạ, nói chi đến lấy Ngoại-nhân.
Những danh-từ vợ Tây, vợ Tàu, và ngày nay thêm vợ Mỹ đều có nghĩa mỉa-mai khinh-bỉ. Thậm-chí những người này thường gọi là lũ Me.
Me vì kết-duyên với Tây, Tàu, và cả Mỹ nữa, rồi ra họ về nước họ, không chồng các cô lại nguyên phận không chồng. Đã có những câu ca chế giễu các Me :
- « Lấy Tây chẳng được mấy ngày,
Nó về nước nó, bên đây không chồng ! »
- « Tiếc thay ! Hồng ngâm cho chuột vọc,
Tiếc thay ! Mình ngọc để ngâu vầy !
Tiếc thay cho cô em, đôi má đỏ hây hây,
Người mình chẳng lấy, đi lấy ngay thằng Tàu.
Lời ái-ân, nào có biết nửa câu,
Ôm pho tượng gỗ, thêm rầu lòng xuân !
Can chi mà đầy đọa tấm thân ?
Dẫu rằng nó yêu nó quý
Cũng mang tiếng làm thân gái giang-hồ
Gánh vàng đi đổ sông Ngô ! »
Lấy Tây, lấy Tàu, tuy vậy họ còn có nước da trắng, hoặc họ còn đồng giống da vàng với người Việt minh, có nhiều Me không lấy Tây, lấy Tàu lại rước một ông chồng đen nhọm đen thui. Lẽ tất-niên những me này không thoát được sự nhạo-báng dè-bỉu của đồng-bào.
Thi-sĩ Tản-Đà đã có bài Hát Xẩm rất được phổ-biến về những cặp chồng đen vợ Việt này :
« Nước trong xanh lơ-lửng con cá vàng,
Cây ngô, cành bích con chim phượng-hoàng nó đậu cao.
Anh tiếc cho em phận gái má đào,
Tham đồng bạc trắng mới gán mình vào cái Chú Tây đen.
Sợi tơ-hồng ai khéo xe-duyên,
Treo tranh Tố-nữ đứng bên anh tượng đồng !
Chị em ơi, ba bẩy đường chồng… »
Miệng đời mỉa-mai, bạn-bè khinh-khi, nhưng nhiều người vẫn bị bắt-buộc lấy chồng ngoại-quốc vì hoàn-cảnh, nhất là vì vấn-đề tài-chính.
Ngay bây giờ, tư-tưởng đã tiến nhiều, việc kết-hôn với ngoại-nhân cũng vẫn chưa được đón-nhận bằng con mắt thiện-cảm của đồng-bào, nhất là đối với các cô các bà. Việc phối-ngẫu với người ngoại-quốc dù ngay trong giới sang-trọng, dù lễ cưới cử-hành có linh-đình, nếu có được tha-thứ trong một vài tầng lớp xã-hội, thì vẫn không là một điều mong-mỏi của các thiếu-nữ cũng như của phụ-huynh các cô. Có nhiều cô sánh-duyên với ngoại-nhân trong quý-tộc vẫn bị cha-mẹ ruồng-bỏ, làng nước coi thường và anh chị em lấy làm tủi hổ.
Rồi ra, không biết với sự chung đụng ngày một nhiều, thành-kiến khinh bỉ các Me một ngày kia có giảm đi chăng ?
XXI. ĐẠO VỢ NGHĨA CHỒNG
Để kết-thúc chương này, tôi tưởng cũng nên có mấy dòng nói về đạo vợ nghĩa chồng từ xưa tới nay.
Theo người xưa, đạo vợ chồng lấy hai chữ hòa-thuận làm đầu. Ta có câu : « Thuận vợ, thuận chồng tát bể Đông cũng cạn ». Vợ chồng hòa-thuận với nhau thì gia-đình có hạnh-phúc, và gặp khi có sự gì khó-khăn cả hai người cũng chung-lưng đấu-cật cùng lo, sự khó-khăn dù thế nào cũng giải-quyết được.
Đối với vợ, người chồng phải giữ nghĩa, còn vợ đối với chồng cần giữ tiết làm đầu.
Ngoài ra hai vợ chồng lại mỗi người có nghĩa-vụ riêng.
1) NGHĨA-VỤ CỦA NGƯỜI VỢ
« Lấy chồng gánh vác giang-sơn nhà chồng ! », lấy chồng người đàn-bà phải lo-lắng về hết mọi việc nhà chồng, trên đối với cha mẹ chồng, dưới đối với chồng. Người vợ phải phụng dưỡng cha mẹ chồng, có khi phải tần-tảo nuôi chồng, và đến khi có con phải nuôi con. Lại còn những công việc nhà chồng như giỗ-tết, khao-vọng, ma-chay. Người vợ vì vậy được gọi là nội-tướng tức là vị-tướng ở trong nhà, phải quán-xuyến mọi việc gia-đình.
Muốn là nội-tướng giỏi-giang, người vợ phải có đủ tứ-đức, tam-tòng.
2) TỨ ĐỨC
Tứ đức là công, dung, ngôn, hạnh.
- Công là sự khéo-léo chân tay, khéo-léo trong công việc vá may thêu dệt khéo-léo trong việc bếp nước bánh trái, nhiều khi còn phải kể cả khéo-léo về buôn bán, về đàn-nhạc, về họa và thơ.
- Dung là dáng-dấp chính-đính hòa-nhã. Người đàn bà phải dịu-dàng khoan-thai, và bản thân mình phải chải chuốt cho gọn-gàng sạch-sẽ.
- Ngôn là lời nói. Nói-năng phải êm ái, phải khoan-hòa chớ nên quát-tháo, phải mềm-mỏng nhưng cũng đừng lí-nhí không ai nghe rõ, nghĩa là phải rành-mạch gọn-gàng mà không cấm-cẳn, đừng lả-lơi cười-cợt.
- Hạnh là nết-na. Trên phải kính, dưới phải nhường. Ở trong nhà chiều chồng thương con, lấy điều hiền-hậu mà đối với anh em họ hàng. Ra ngoài thì nhu-mì chín-chắn, không hợm-hĩnh, không xa-hoa đàng-điếm.
3) TAM TÒNG
Tam tòng là ba điều người đàn bà phải theo : ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, khi chồng chết phải theo con.
Đã lấy chồng người đàn bà chỉ biết có chồng, và chẳng may nửa đường đứt gánh thì chỉ biết có con, không đi bước nữa.
Nghĩa-vụ trên của người vợ xem ra quá nặng-nề, nên luân-lý ngày nay đã đỡ sự khắt-khe hơn trước nhất là trong đạo tam-tòng. Người đàn bà góa bây giờ có tái-giá cũng chỉ là một sự thường, và theo lẽ nhân-đạo, những góa-phụ trẻ tuổi không còn bị bó-buộc phải sống trong cảnh góa-bụa nuôi con mãi mãi. Người đàn bà góa có thể đi theo tiếng gọi của tình yêu !
4) NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI CHỒNG
Người chồng cũng có những nghĩa-vụ đối với vợ, như vợ có nghĩa-vụ đối với chồng.
Người chồng phải ăn ở cho đứng-đắn, biết thương-yêu vợ, biết quý-trọng vợ. Lại phải làm sao có tài-trí che-chở cho vợ, để vợ con trông cậy vào mình.
Vợ chồng phải đồng-tâm hiệp-lực để giường-mối gia-đình bền vững.
Người chồng bê-tha chơi-bời là thiếu bổn-phận với gia-đình, không làm tròn nghĩa-vụ của mình.
XXII. HÔN-LỄ CON CÁI CÁC VỊ ĐẾ-VƯƠNG
Từ trên chỉ nói về hôn-lễ chung trong dân chúng, mà mọi tầng-lớp qua các thời-đại, đều tuân theo với một vài sự đổi thay tùy địa-phương hoặc tùy sự văn-minh-hóa theo Tây-phương ngày nay.
Tục-lệ là tục-lệ chung, dù các vị đế-vương cũng phải theo, nhưng dù theo tục-lệ, các con vua cháu chúa khi cưới xin cũng có nhiều sự khác biệt với con cái thường dân.
Hoàng-tử con vua khi lấy vợ gọi là nạp-phi, còn công-chúa khi lấy chồng gọi là hạ-giá.
1) HOÀNG-TỬ NẠP-PHI
Mặc dầu tại Việt-Nam có tục tảo-hôn, nhưng các con vua chỉ thành-hôn khi đã 18 tuổi.
Cho đến năm 18 tuổi, các hoàng-tử sống bên cha mẹ trong cung. Bắt đầu từ tuổi này các hoàng-tử phải ra ở riêng tục gọi là xuất-phủ.
Khi ra ở riêng lập-phủ, hoàng-tử có một số các quan văn võ, thường là cấp nhỏ, giúp việc và một số linh hầu.
Con phải ra riêng, thương con phụ-hoàng và mẫu-hậu phải tính chuyện lập đôi-bạn cho con. Nhà vua, trong một buổi hội-họp quần-thần nêu ý muốn nạp-phi cho hoàng-tử và hỏi xem trong số các quan thần có ai có con gái có thể sánh-duyên với hoàng-tử được.
Khi có một vị đại-thần nhận gả con gái cho hoàng-tử, nhà vua sẽ chọn hai vị đại-thận có tuổi, vợ chồng song-toàn con cái đàn-đống làm Chánh và Phó-sứ trong việc giao-thiệp với nhà gái.
Lãnh mệnh vua, Chánh Phó-sứ cầm mao-tiết, biểu-hiện quân-quyền cùng một số người tùy-tùng tới nhà gái để tuyên-đọc thánh-chỉ.
Nhà gái đã sửa soạn sẵn, lập hương-án xây về hướng Nam nghênh-tiếp Chánh Phó-sứ. Chánh Phó-sứ đứng hai bên tả hữu hương-án cũng xây về hướng Nam, bố cô gái mặc áo thụng xanh quỳ trước hương-án.
Viên Chánh-sứ đọc thánh-chỉ truyền cho cô gái kết-duyên với hoàng-tử và hẹn ngày để bố cô gái vào điện lĩnh mệnh. Bố cô gái nghe thánh-chỉ lễ 5 lễ.
Xong, một tiệc rượu thết-đãi sứ-đoàn, trước khi sứ-đoàn về cung phục-mệnh.
Đúng ngày hẹn bố cô gái phải vào chầu vua, lại lễ 5 lễ để tạ ơn và mẹ cô gái cũng vào cung lạy tạ hoàng-hậu.
Sau đó Khâm-thiên giám phải xem ngày để tiến-hành lễ cưới. Ở đây mọi lễ nghi của phong-tục vẫn được theo đủ. Các nghi-thức truyền thánh-chỉ và lễ tạ ơn được thay thế cho các lễ đầu tiên : nạp-thái, vấn-danh và nạp-cát. Từ đây, bắt đầu lễ nạp-tệ :
Vua truyền bộ Lễ sắm sửa lễ-vật, ghi vào một tờ thiếp đựng trong tráp đỏ. Thường các lễ-vật gồm :
- 2 thoi vàng
- 4 thoi bạc
- 2 cây gấm
- 6 cây lụa
- 20 cây vải hảo-hạng
- 1 đôi xuyến
- 1 đôi hoa tai
- 1 bộ trâm vàng
- 2 chuỗi hạt-châu
- 2 vò rượu
- 1 mâm trầu cau
- 1 con trâu
- 1 con bò
- 1 con lợn
Trước ngày nạp lễ một hôm, nhà vua thiết-triều tại điện Cần-Chánh. Giữa điện có kê chiếc bàn trên để cờ mao tiết và tráp thiết.
Sau khi triều-thần quỳ lạy xong, nhà vua báo cho bá quan biết về ngày giờ hôn-lễ cử-hành và ủy cho Chánh Phó Sứ lo lễ Nạp-tệ.
Chánh Phó-sứ lĩnh thánh-chỉ cầm mao tiết và tráp thiếp. Hai vị tới nhà Văn-võ Công-thự, tại đây các lễ-vật đã sắp đủ, để nhận lễ vật rồi lên đường tới nhà gái. Có mấy vị đại-thần và mấy vị mạng-phụ đi theo. Lễ vật do quân lính khiêng gánh.
Tại nhà gái, hương-án đã được thiết-lập để đón thánh-chỉ. Lễ vật đưa vào nhà. Chánh Phó-sứ lại đứng hai bên tả hữu hương-án, và ông bố vợ lại quỳ trước hương-án để nghe thánh-chỉ.
Chánh-sứ giao cho bố vợ lễ-vật và tráp-thiếp, ông này nhận rồi trao lại cho một viên quan quỳ gần đấy. Sau đó, ông lại lễ 5 lễ để tạ ơn nhà vua.
Sau lễ nạp-tệ là các lễ khác của tục-lệ.
Ngoài các lễ theo tục-lệ, còn một lễ đặc-biệt gọi là lễ phát-sách, cử hành trước khi cô dâu từ giã gia-đình về nhà chồng trở nên bà phi.
Nhà vua cho làm một quyển sách bằng vàng gọi là Kim sách nói về cuộc hôn-phối của hoàng-tử và bà phi, lý-lịch của hai người.
Nhà vua cũng ra lệnh sắm cho bà phi mũ, áo giầy và kiệu.
Cũng như các lễ trước, nhà vua lại truyền chỉ cho Chánh phó sứ mang trao kim-sách với lễ-vật mới sắm. Trong chuyến đi nạp lễ này có mấy bà nội-cung đi theo và lúc đi đường có âm-nhạc.
Khi sứ-đoàn tới nhà gái, bố cô gái rước mọi người vào. Chánh sứ cầm mao-tiết, phó sứ bưng tráp đựng kim-sách và mọi người khác mang lễ-vật kéo vào. Lại nghi-lễ trước hương-án. Lần này sau khi bố cô gái lễ xong năm lễ, một nữ-quan ra đứng trước hương án. Phó sứ trao kim-sách cho nữ-quan, nữ-quan quỳ xuống nhận, rồi sau đó cùng thị-nữ bưng kim-sách đi vào nhà trong.
Từ trong khuê phòng, bà mẹ đưa cô gái ra nghênh tiếp. Kim-sách lại được mang ra đặt lên hương-án.
Nữ-quan dẫn cô dâu đến trước hương-án lễ 5 lễ rồi vào phòng riêng thay triều-phục của vua ban, đoạn lại quỳ trước hương-án để đọc kim-sách.
Kim-sách đọc xong, nữ-quan trao cho cô dâu. Cô dâu nhận lấy đưa ngang trán, trao lại cho một nữ-quan khác để đặt lên hương-án.
Kế đó, hương-án được dẹp đi và được thay vào bằng một chiếc ghế đặt trên một chiếc bục. Nữ-quan mời cô dâu, lúc đó là bà Phi ngồi vào ghế để các bà mạng-phụ, thị-nữ sắp hàng lễ mừng mỗi người bốn lễ.
Lễ mừng xong đến tiệc tùng nhà gái khoản-đãi, rồi sau cô dâu được đưa về phủ của ông Hoàng theo lễ thân-nghênh.
Ngày hôm sau, bố mẹ cô dâu vào cung để tạ ơn vua và hoàng-hậu.
2) CÔNG-CHÚA HẠ-GIÁ
Công-chúa lấy chồng gọi là hạ-giá, thay vì xuất-giá như con gái thường-dân, công-chúa ở địa-vị cao sang, lấy chồng là con một bầy tôi của vua cha.
Tuổi hạ-giá của các công-chúa là 16, khác với con gái thường dân, nữ thập tam đã có thể lấy chồng.
Khi một công-chúa 16 tuổi, nhà vua lệnh cho Nội-thần tư bộ Lại bộ Binh biết để các bộ này cùng lo đề-cử con cháu các công-thần sánh-duyên với nàng. Theo nguyên-tắc, một bản danh-sách gồm 5 chàng trai con cháu ba đời công-thần được lựa trước, đệ lên nhà vua để Ngài chọn lấy một người. Bản danh-sách kê rõ lý-lịch, niên kỷ, ít nhất 16 tuổi, của các chàng trai, và cũng cần kén những người khỏe-mạnh không bệnh-tật mới ghi vào.
Nhà vua nhận được danh-sách, liền cử một vị hoàng-thân thay vua làm chủ-hôn và một vị đại-thần sung chức chiếu-liệu để lo lắng công việc hôn-lễ, cả hai người đều là người tuổi tác vợ chồng song toàn con cái đủ nếp tẻ đông-đúc.
Hai vị chủ-hôn và chiếu-liệu cùng nhau chọn người xứng-đáng hơn cả, hợp với tuổi công-chúa tâu lên vua hay. Nhà vua, nếu ưng-thuận, vòng một vòng son vào tên người được chọn.
Việc lựa chọn xong, nhà vua ban tiền cho phò-mã tương-lai để sắm phủ cho hai vợ chồng sau này. Nhà vua cũng ban cho tiền để sắm quần áo gồm áo mão hia đai, mũ cho công-chúa, mũ này kết năm con phượng vàng nhận hạt-trai, và san-hô, áo bào, v.v…
Phò-mã tương-lai cũng sắm mọi vật dụng cần dùng cho gia-đình và nhất là một chiếc thuyền xinh-đẹp, để sau này khi nhà vua đi đâu, vợ chồng có thể đi theo hầu được.
Khâm-thiên-giám được lệnh chọn ngày, rồi trong một buổi thiết-triều, vua truyền-chỉ cho vị chủ-hôn biết về lễ cưới sắp tới để báo lại cho nhà trai hay.
Đến ngày ấn-định, chủ-hôn tới nhà trai để báo tin lành. Nơi đây, gia-đình nhà trai đã đặt hương-án để đón tiếp sứ-giả.
Sứ-giả mặc triều-phục có lính cầm cờ quạt theo hầu. Sứ-giả vào đứng bên trái hương-án, gia-đình nhà trai đứng bên phải. Sứ-giả truyền lại quyết-định của nhà vua gả công-chúa cho chàng trai.
Một ngày sau, trong một phiên triều cha chàng trai mặc triều-phục cùng một số đàn ông trong họ vào lạy tạ ơn vua năm lạy. Đồng-thời, mẹ chàng trai cũng cùng một số quyến-thuộc đàn-bà vào lạy tạ ơn Hoàng-hậu.
Sau đó, ông chủ-hôn sẽ báo cho nhà trai ngày giờ cử-hành hôn-lễ, do Khâm-thiên-giám lựa chọn và đã được nhà vua chuẩn-y.
Lễ cưới theo đúng phong-tục, nghĩa là gồm đủ các lễ từ Nạp-thái, Thân-nghinh. Trong mọi lễ nhà trai đều có phẩm-vật tặng cô dâu.
Ngoài các lễ trong dân gian vẫn cử-hành, còn lễ Điện-Nhạn trước lễ Thân-Nghênh. Theo tục-lệ Trung Quốc, trong lễ Điện-Nhạn, nhà trai phải đem tới nhà gái một cặp nhạn để làm tin, nhưng tại nước ta, không có nhạn, cặp nhạn được thay bằng cặp ngỗng 10. Ngoài cặp ngỗng, nhà trai còn có 2 hộp chỉ ngũ-sắc, 100 đồng tiền để tượng-trưng cho sự giàu-có, thịnh-vượng và hạnh-phúc.
Trong các lễ nghi, những lễ-vật đều đem tới Tôn-Nhân Phủ, nhà thờ của họ Nguyễn-phước, là nơi cử-hành hôn-lễ.
Trước ngày cử-hành hôn-lễ, vua sai đại-thần mang lễ-vật tới các lăng miếu để cáo với các vị tiên-vương việc công-chúa hạ-giá.
Trước ngày nghênh-hôn ba-hôm, các nữ-quan đưa công-chúa vào lạy ở các lăng-miếu, đoạn vào cung lạy Hoàng-hậu và Hoàng-thái-hậu.
Hôm nghênh-hôn, chàng trai vào Đại-nội lạy vua năm lạy, dâng lễ để xin rước công-chúa.
Nhà vua ban lời giáo-huấn, rồi phò-mã được đưa vào một gian phòng màn che sáo-phủ để ngồi chờ.
Công-chúa cũng vào hầu vua cha quỳ nghe lời giáo-huấn. Nhà vua ban cho ngự-tửu. Công-chúa lạy vua năm lạy rồi sang hầu Hoàng-hậu quỳ nghe lời dạy-dỗ. Sau đó nàng cũng lạy mẹ năm lạy như lạy vua cha.
Đến giờ rước dâu, phò-mã tự tay vén màn kiệu mời công-chúa bước lên.
Đi theo đám cưới có các ông chủ-hôn, chiếu-liệu và các phu-nhân, một vị đại-thần lão-thành và phu-nhân, sáu nữ-quan, một số thị-nữ, phu khiêng kiệu, cầm cờ quạt, tàn tán và có 8 em bé vừa trai vừa gái cầm đèn lồng, cành thiên tuế và ôm ngỗng.
Ra khỏi cung, phò-mã, lên ngựa đi bên kiệu.
Đến phủ, kiệu công-chúa đưa tới tận thềm, Phò-mã xuống ngựa, vén màn kiệu mời công-chúa xuống, đưa nàng vào phòng riêng ở chái Tây, còn chàng nằm ở chái Đông.
Đúng giờ tốt, đôi bên làm lễ hợp-cẩn, uống chung rượu, ăn chung mâm và chung trầu. Ly uống rượu của đôi vợ chồng là một quả bàu nhỏ cắt làm đôi.
Giường chiếu của cặp vợ chồng này do ông bà chiếu-liệu sắp đặt.
Đây là một công việc thiêng-liêng, cần cẩn-trọng không thể để bất cứ ai phụ-trách được.
Ngày hôm sau, công-chúa ra mắt bố mẹ chồng. Nàng đứng hướng Tây lạy bốn lạy. Bố mẹ chồng ở hướng Đông đáp lễ bằng cách vái hai vái.
Ngày thứ ba, công-chúa đi lễ nhà thờ bên chồng.
Ngày thứ chín, hai vợ chồng dắt nhau vào Đại-nội lạy mừng phụ-hoàng. Phò-mã đứng dưới sân chầu, công-chúa được lên Điện.
Vua ban cho Phò-mã một bộ áo triều tam-phẩm, hai cái áo gấm màu và hai bộ yên-cương.
Lạy mừng vua cha xong, hai vợ chồng lại vào cung lạy mừng mẫu-hậu.
Kể từ đó, ông chồng được lĩnh chức Phò-mã Đô-Úy và hai vợ chồng tiếp tục sống những tuần đầu của cuộc hôn-nhân.
XXIII. CUNG-NHÂN VÀ HOẠN-QUAN
Có âm-dương, có vợ chồng nên con người ta sinh ra ở đời đã mấy ai thoát khỏi vòng phu thê ngoại trừ các vị nam nữ tu-sĩ của một số tôn-giáo.
Ấy vậy mà có hạng người mang tiếng lấy chồng mà mười hôm nấp bóng phòng không cả mười và cũng lại có hạng người muốn kết-duyên đôi-bạn cũng không được ! Thật đáng thương !
Những người đáng thương đó chính là cung-nhân và hoạn quan dưới các triều vua trước.
Tại sao lại có những hạng người này và họ là ai ?
Nước Việt-Nam ta theo Khổng-học mà quan-niệm luân-lý đạo Khổng là nam nữ thụ thụ bất thân. Để duy-trì thuần-phong mỹ-tục trong dân-gian ta cần phải theo cho đúng bốn chữ thụ thụ bất thân trên, tuy đôi khi cũng có đôi sự vi phạm được tha-thứ.
Tại Triều-đình luật-lệ nghiêm-ngặt hơn và sự bất-đụng-chạm giữa nam-nữ đã là một định luật hết sức khắt-khe, dù sự đụng chạm đây, chỉ là sự gặp gỡ giữa cha mẹ anh em với nhau.
Cung-nhân là những mỹ-nhân được tuyển vào cung để hầu-hạ nhà vua, hoàng-hậu, các bà phi và các vị công-chúa.
Cùng với các cung-nhân để hầu-hạ nơi cung-cấm có các hoạn-quan. Hoạn-quan tuyển trong những người ái-nam ái-nữ hoặc trong những chàng trai mà bộ-phận sinh-dục đã bị hy-sinh thiến bỏ đi.
Dùng kẻ hầu là cung-nữ và hoạn-quan tránh được sự vi-phạm luật-định nam nữ thụ thụ bất thân.
Những cung-nhân được kén vào cung nếu may-mắn được vua vời tới có thể trở thành bà phi, nhưng giữa cung-phi và nhà vua phải có các hoạn-quan môi-giới.
Người con gái được kén làm cung-nhân được kể như đi lấy chồng từ ngày từ-giã cha mẹ, và cũng từ ngày đó cha mẹ anh em cô gái thật khó thấy được mặt nàng nữa.
Đi lấy chồng, người con gái đi vào một cuộc sống mới, còn đi vào cửa khuyết làm cung-phi, một mỹ-nữ có thể như đã đi vào cõi chết, vì đã mấy cung-phi được nhà vua ngự tới !
Đã biết bao nhiêu cô gái đẹp xưa nay phải chôn-vùi nhan-sắc trong cung-cấm. Nàng Tiết-linh-Vân đời nhà Tùy khi bị tuyển vào cung đã khóc-lóc thảm-thiết mấy ngày đến nỗi nước mắt nhỏ thành máu !
Vào cung, mấy khi đã được hầu vua ; đó đâu phải là chuyện dễ. Ngay đến Hoàng-hậu không có lệnh vời cũng không dám tự-tiện đến hầu.
Chính ra, các cung-phi là nạn-nhân của lòng hiếu-sắc vô-độ và tính đa-nghi quá đáng của các vị quân-vương chuyên-chế. Các vị này muốn tuyển nhiều cung-phi lại sợ các cung-phi tư-tình cùng kẻ khác.
Tần-thủy-Hoàng đã vô-tình chôn sống 3.000 mỹ-nữ trong cung A-phòng lộng-lẫy ! Tấn-vũ-Đế đã tuyển đến một vạn thể-nữ cung-nga ! Thật là ai-oán !
Như trên đã nói, các cung-phi muốn gặp-gỡ quân vương phải do hoạn-quan, còn gọi là quan-thị môi-giới. Phải dùng quan-thị ở đây vì có lắm điều sượng-sùng, bí-mật e-ngại không nên giao phó cho đàn ông hoặc đàn bà sợ phạm đến đức-độ của chốn thâm-nghiêm.
Tục dùng quan-thị tại Á-đông có từ lâu. Tại Trung-Hoa, quan-thị có từ đời nhà Chu và được gọi là Tử-nhân hay Yêm-doãn. Nhà Hán gọi là Thường-thị, nhà Đường đổi là Trung-quan.
Phong-tục của ta bắt-chước theo người Trung-Hoa nên các nhà vua Việt-Nam cũng có hoạn-quan từ đời nhà Lý và gọi là Hoạn-môn chi hầu ; đến đời nhà Trần đổi là Nội-thị ; đời Lê gọi là Tả, hữu Thái-giám.
Đời Nguyễn, ngạch Hoạn-quan chia làm 5 trật :
- Quan-vụ Thái-giám hay Điện-sư Thái-giám đầu tứ phẩm
- Kiểm-sự Thái-giám hay Phụng-nghi Thái-giám
- Thừa-vụ Thái-giám
- Cung-phụng Thái-giám
- Thừa-biên Thái-giám.
Việc kén chọn hoạn-quan rất được Triều-đình chú-trọng và khuyến khích. Một người dân nào sinh được một trẻ ái-nam ái-nữ, quan sở-tại tới khám-xét rồi làm sớ trình. Cha mẹ nuôi đứa bé đến 13 tuổi. Bộ Lễ sẽ chọn ngày tốt tiến-cử đứa bé vào cung tập-sự hoạn-quan.
Làng nào có hoạn-quan tiến-cử được Triều-đình miễn cho trai-tráng việc binh-lính, phu-phen tạp-dịch và cả sưu-thuế nữa.
Trong những trường-hợp thiếu trẻ ái-nam ái-nữ các thanh niên được kén-chọn sung vào làm hoạn-quan sau khi bị hy-sinh thiến đi bộ phận sinh-dục.
Chế độ quân-chủ đã cáo-chung, cái tệ cung-nhân và hoạn-quan không còn nữa ! Các mỹ-nữ ngày nay không lo bị tiến-cung sống trong cảnh :
« …cái én ba nghìn,
Một cây cù-mộc biết chen cành nào ! »
XXIV. TÀI LIỆU ĐỌC THÊM
1) ÔNG TƠ-HỒNG, VỊ THẦN-LINH CHỦ VỀ HÔN-SỰ
Vị thần-linh chủ về hôn-sự theo tin-tưởng của dân ta là ông Tơ-hồng cũng còn gọi là Nguyệt-lão. Nhiều khi Nguyệt-lão bị phụ-nữ-hóa biến thành bà Nguyệt.
Nguyệt-lão được hình-dung trong quảng-đại quần-chúng là một ông già đầu bạc đang xe những sợi chỉ tơ màu hồng. Hình dung này do sự tích của Vi-Cố đời Đường cấu-tạo nên.
Truyện Vi-Cố thường được nhắc lại như sau :
Dưới đời nhà Đường có một nho-sinh học-hành uyên-bác tên gọi Vi-Cố.
Một ngày kia Vi-Cố dạo chơi dưới trăng, được gặp một ông già đang giở từng trang một quyển sách, bên cạnh có chiếc đẫy đầy chỉ tơ hồng.
Vi-Cố hỏi, ông già đáp quyển sách đó ghi những lứa-đôi của mọi cặp trai gái, còn những sợi tơ hồng dùng để buộc những cặp này lại với nhau. Ông già nói thêm :
« Dù cách-biệt vì địa-vị xã-hội, dù gặp bao nhiêu khó-khăn, cuối cùng số-mệnh vẫn thắng và kẻ nào phải phối-ngẫu với kẻ nào vẫn là do duyên-số ».
Thấy ông già nói vậy, Vi-Cố muốn biết người sau này sẽ sánh-duyên với mình là ai. Ông già liền chỉ vào một cô bé hai tuổi, con một mụ hành-khất trong ngôi chợ gần đó và bảo đó là người vợ tương lai của họ Vi.
Thấy vậy Vi-Cố tự nhủ :
« Có thể như vậy được chăng ? Vợ ta, con một mụ ăn mày ! »
Sau đó Vi-Cố thuê người giết chết cô bé. Kẻ hung-đồ đã dùng dao đâm vào sọ đứa nhỏ, nhưng nhát đâm không trúng mà chỉ sượt qua lông mày cô bé, gây thương-tích tại nơi đây.
Mười bốn năm sau, Vi-Cố thi đỗ, được bổ làm quan và vị Tiết-độ-sứ gả con gái cho.
Cô dâu có một vết sẹo nhỏ trên lông mày.
Vi-Cố hỏi vợ, được nàng cho biết khi nàng 2 tuổi bị một kẻ hung-đồ đâm hụt. Quan Tiết-độ-sứ có chứng-kiến vụ hành-hung này, động lòng trắc-ẩn, nhận nàng làm dưỡng-nữ.
Thì ra, lời ông già xe tơ đã ứng-nhiệm. Họ Vi đã kết-duyên với con mụ hành-khất tại chợ nơi xưa.
Sự-tích trên đã gây trong quần chúng sự tin-tưởng vào tiền-định trong hôn-nhân, nghĩa là vợ chồng có duyên-số và sợi dây Tơ hồng vô-hình đã xe-kết những cặp vợ chồng với nhau.
Và ông già xe tơ được gọi là Nguyệt-lão vì Vi-Cố đã gặp ông ta ở dưới trăng, và ông cũng có tên là Tơ-Hồng vì ông xe những sợi chỉ tơ màu hồng.
Tin tưởng ở ông Tơ-Hồng, trai gái đến tuổi lành-duyên đều cầu khẩn ông giúp cho được duyên may phận đẹp. Trong ca-dao Việt-Nam thường nhắc nhiều tới vị thần-linh chủ về hôn-sự này :
« Bắc thang lên tới Trăng già,
Chỉ hồng đâu tá, mượn và bốn dây ?
Để ta xe-kết đấy, đây,
Xe chim loan-phượng với cây ngô-đồng.
Xe tố-nữ với anh-hùng,
Xe trang thục-nữ bạn cùng thi-nhân… »
Trai gái cầu-khẩn ông Tơ-Hồng cho được duyên may phận đẹp, nếu tình-duyên ngang-trái, họ cũng quay trở lại oán-than Nguyệt-lão !
« Trăng già độc-địa làm sao !
Cầm dây chẳng lựa, buộc vào tự-nhiên ! »
Hoặc : « Ông Tơ sao khéo đa-đoan,
Xe tơ sao khéo vơ quàng vơ xiên ! »
Và cũng đã có những vần ca-dao châm-biếm về Nguyệt-lão : ông đã vụng xe tạo nên những cặp vợ chồng niên-kỷ chênh-lệch :
« Bắc thang lên đến tận trời,
Bắt ông Nguyệt-lão đánh mười cẳng tay.
Đánh thôi lại trói vào đây,
Hỏi ông Nguyệt-lão : « Nào dây tơ-hồng ?
« Nào dây xe Bắc, xe Đông ?
« Nào dây xe vợ xe chồng người ta ?
« Vụng xe, xe phải vợ già,
« Tôi thì đốt cửa đốt nhà ông lên ! »
Còn nhiều, nhiều câu ca-dao về ông Tơ bà Nguyệt, nhưng mấy câu trên cũng đủ nói lên nhiệm-vụ nặng nề của vị thần-linh về hôn-sự lắm rồi.
2) HÔN LỄ ĐỒNG-BÀO THƯỢNG
Gần đây theo quan-niệm mới của một số các nhà nhân-chủng-học, chúng ta đồng tổ-tiên với người Thượng. Đã tìm hiểu tục-lệ của chúng ta, lẽ đâu chúng ta không tìm hiểu những tục-lệ của các đồng-bào Thượng, nhất là những tục-lệ về hôn-nhân. Những tục-lệ này giữ một phần rất quan-trọng trong những phong-tục chi-phối đời sống của họ.
Người Thượng tại miền Nam nước Việt ở rải-rác suốt từ Quảng-Trị, Thừa-Thiên tới các tỉnh Nam-Việt : Tây-Ninh, Bình-Dương, Châu-Đốc qua các tỉnh miền Cao-nguyên Trung-Việt : Bình-Long, Long-Khánh, Pleiku, Kontum.
Ở đây, hôn-lễ của từng sắc dân Thượng sẽ được lần-lượt trình bày ; lẽ tất-nhiên còn nhiều điều thiếu-sót hoặc sơ-suất, rất mong được bạn đọc chỉ-dẫn để bổ-khuyết sau.
3) NHỮNG SẮC DÂN ĐỒNG BÀO-THƯỢNG
Trước khi đi vào hôn-lễ của đồng-bào Thượng, xin nói sơ qua về mọi sắc dân, họ ở đâu, có những bộ-lạc nào.
Đúng ra, các sắc dân người Thượng sống tại miền Nam nước Việt không nhiều, có thể thu gọn vào mười sắc dân chính :
- Người Teu
- Người Sédang
- Người Chàm
- Người Bahnar
- Người Djarai
- Người Roglai
- Người Rhadé
- Người Koho
- Người M’Nong
- Người Stieng
Về các đồng-bào người Chàm, ngoài các bộ-lạc ở miền Trung-Việt, còn phải kể đến người Chàm ở Châu-Đốc thuộc Nam-Việt.
4) NGƯỜI TEU
Ở miền Thượng-du tỉnh Quảng-Trị người Teu có 2 bộ-lạc chính : Tôi-Ôi và Vân-Kiều. Họ còn ở cả tỉnh Thừa-Thiên và lan xuống phía Bắc tỉnh Quảng-Nam.
Người kinh gọi họ là người Thượng ăn trầu, vì luôn luôn họ nhai trầu trong miệng giống như các bà nhà quê ta.
Người Tôi-Ôi ở ven theo ranh giới Việt-Lào : người Vân-Kiều ở sát Trung-châu.
Tuy chia hai bộ-lạc khác nhau nhưng phong-tục tập-quán họ không khác nhau bao nhiêu.
* Hôn-Lễ
Người Teu theo chế-độ phụ-hệ nhưng trai gái rất tự-do trong vấn-đề hôn-nhân. Người con gái lớn lên được cha mẹ cho phép giao-thiệp với các bạn trai tục gọi là Di-Sim hay Tăm-Bơm, nghĩa là nằm nước ; tuy vậy mỗi khi có khách lạ tới nhà, người thiếu-nữ Teu phải khép-nép e-lệ.
Muốn tìm hiểu một cô gái, các chàng trai Teu tới lân-la trò-chuyện rồi mang biếu một món quà, đồ kỷ-niệm hoặc tiền. Nếu cô gái nhận quà biếu, chàng trai có thể đưa cô về nhà giới-thiệu với cha mẹ. Nếu cha mẹ cũng ưng ý thì nhờ người mai-mối với cha mẹ cô gái tính chuyện xin ăn-hỏi. Lễ ăn-hỏi thường dùng tiền vào khoảng 2.000 $ ngày nay.
Sau lễ ăn-hỏi là lễ xin-cưới ; sính lễ gồm hai hoặc ba con trâu, mấy nồi đồng lớn, mấy thanh-la và các đồ dùng khác.
Các chàng trai nghèo không lo đủ sính-lễ được cha mẹ cô gái miễn cho lễ ăn-hỏi, nhưng phải có đồ sính-lễ xin cưới để ra mắt gia-tiên và họ-hàng, không thể miễn được. Chàng trai quá nghèo, sính-lễ có thể tinh-giảm, nhưng ít nhất cũng phải có một con trâu và đồ dùng khác.
Có những gia-đình nhà gái khó-khăn, đã chẳng tinh-giảm đồ sính-lễ cho chàng rể thì thôi, lại còn cha đòi phần cha, mẹ đòi phần mẹ, cô cậu cũng hạch phần của mình. Cũng may, trong trường-hợp nghèo quá, không đủ lo sính-lễ, những chàng trai có thể xin nợ lại rồi trả sau, trả không hết, con cái sẽ trả thế, hoặc nếu sinh được con gái, ông bà ngoại sẽ hưởng sính-lễ về cưới xin để trừ nợ chàng rể thiếu trước. Nếu chỉ sinh con trai, phải trối-trăng lại để các cụ ngoại sau này, nếu còn sống, sẽ đứng gả chồng cho một đứa chắt ngoại.
Tục cưới xin của dân Teu rất tốn-kém, do đó có tục anh chết để lại vợ cho em, cha chết để lại vợ lẽ cho con. Người đàn bà không chịu sự để lại này, phải hoàn lại những sính-lễ trước đây của chồng.
Dân Teu có tục đa-thê, người giàu có muốn lấy bao nhiêu vợ cũng được, miễn là có đủ đồ sính-lễ.
Có nhiều chàng trai nghèo quá không lấy được vợ, trái lại có những cụ già sẵn tiền có đến chín mười vợ ; các cụ mua sẵn những con gái 9, 10 tuổi để nuôi lớn lên làm vợ.
Theo phong-tục, anh em họ về bên cha không lấy được nhau, còn về bên mẹ lấy nhau không bị ngăn-cấm.
5) NGƯỜI SÉDANG
Người Sédang ở rải-rác từ miền Nam tỉnh Quảng-Nam suốt mấy tỉnh Bình-Định, Quảng-Ngãi đến Kontum và chia làm nhiều bộ-lạc : Rongao, Halang, Dié và Sédang chính.
- Bộ-lạc Halang ở phía Nam Kontum, sát với người Bahnar.
- Bộ-lạc Rongao ở Tây-Nam Kontum, giáp ranh với Lào.
- Bộ-lạc Dié ở vùng Toumorong, Tây-Bắc Kontum.
- Bộ-lạc Sédang chính ở Bắc Kontum, Đông-Bắc Bình-Định và phía Nam Quảng-Ngãi.
Phong-tục của những bộ-lạc này chỉ khác nhau đôi chút, bộ-lạc Sédang có thể tượng-trưng cho hết được.
a) Hôn-Lễ
Tục-lệ cưới-xin của người Sédang rất khác người Kinh. Họ không nhất-định trai phải hỏi vợ hay gái phải cưới chồng, không hẳn theo chế-độ phụ-hệ hay mẫu-hệ.
Trai gái đôi bên thương yêu nhau, bên nào đến hỏi trước cũng được. Sau khi cưới xin, con rể phải về ở rể ít nhất 3 năm. Lễ cưới xin cũng tốn-kém tuy không quá nặng bằng sính-lễ của người Teu.
b) Thông-dâm và phạm-gian
Sự thông-dâm tại dân Sédang bị trừng-phạt nặng. Người thông-dâm bị phạt trâu bò để giết thịt cho cả làng ăn.
Đôi trai-gái nếu lấy nhau chưa đầy năm, mà phạm tội thông-dâm thì cả kẻ thông-dâm lẫn người đồng-lõa bị trừng-phạt rất nghiêm. Họ bị đuổi ra khỏi làng và không bao-giờ được đặt chân trở lại đất làng nữa, cho đến khi nào kẻ phạm-tội giết một con lợn trộn máu vào gạo, ngồi tại một nơi để tất cả dân làng đi qua, mỗi người bỏ một ít gạo trộn máu lên đầu kẻ phạm-tội và nói : « Tao tha tội cho mày để từ sau không tái-phạm nữa ». Sau đó kẻ phạm-tội mới được trở về làng.
Vì sự trừng-phạt khắt-khe nên mặc dầu người Sédang có tục trai gái ngủ chung tại nhà làng mà rất ít khi xảy ra những truyện đồi-bại đáng tiếc.
c) Ly-dị
Người Sédang có tục bỏ vợ. Bỏ vợ, người chồng phải bồi thường cho vợ một hoặc hai con trâu, sau đó người đàn-bà mới có quyền lấy chồng khác, bằng không đành ở vậy, không ai dám lấy.
d) Một tục dã-man
Về hôn-lễ, trước đây bộ-lạc Dié có một tục rất dã-man : Người con trai hỏi vợ, sau khi được nhà gái thoả-thuận, phải lo đồ lễ, và đồ lễ bắt-buộc phải là một bàn tay của kẻ thù, người lạ mặt hay của một người khác làng ; như vậy để chứng-tỏ người chồng can-đảm có đủ sức-mạnh che-chở cho vợ. May thay tục này, ngày nay đã mất.
6) NGƯỜI CHÀM
Giữa khu-vực Cao-nguyên và Trung-châu Trung-Việt, suốt theo bờ biển từ Quảng-Ngãi đến Bình-Thuận, ngày nay là giang-sơn của đồng-bào thiểu-số người Chàm.
Người Chàm, con cháu người Chiêm-Thành, đã từng có một quá-khứ oanh-liệt và đã từng giao-tranh với người Việt-Nam từ đời nhà Lý, qua đời nhà Trần cho đến tận thời Chúa-Nguyễn.
Người Chàm chia làm nhiều chi-phái :
- Người Chàm Cà-Giòng
- Người Chàm Đá-Vách
- Người Chàm chính-thống.
Người Chàm Cà-Giòng ở phía bắc tỉnh Quảng-Ngãi, vùng Trà-Bông và Bắc-Sơn, giáp-giới với vùng Hậu-Đức tỉnh Quảng-Nam và vùng Đa-Kley tỉnh Kontum. To-lớn, có vẻ hung-tợn nhưng chậm-chạp.
Người Chàm Đá-Vách còn gọi là Chàm-Cua ở phía nam Quảng-Ngãi, vùng Ba-Tơ, Minh-Long và Nam-Sơn-Hà. Trái hẳn với người Cà-Giòng, người Đá-Vách bé nhỏ nhưng lanh-lẹn và tinh-khôn.
Xen vào giữa hai khu-vực của người Đá-Vách và người Cà-Giòng, là khu-vực của người Chàm chính-thống, ở gần thành-thị. Về phương-diện hình-thức, người Chàm Chính-thống không khác người Đá-Vách mấy và họ hao-hao giống người Việt-Nam. Họ còn được gọi là người Hạ, ở miền núi ven bờ-biển các tỉnh Khánh-Hoà, Ninh-Thuận, Bình-Thuận và Bình-Định.
Ba giống người Chàm Đá-Vách, Cà-Giòng và Chính-thống ngôn-ngữ hơi khác nhau nhưng phong-tục không sai-biệt nhau bao nhiêu. Họ cùng chung một tổ-tiên mà theo một thuyết thì tổ-tiên này đã từ Mã-Lai tới trú-ngụ tại Việt-Nam ở vùng Đắm-Môn, Vạn-Ninh và vịnh Cam-Ranh.
a) Hôn-Lễ
Hôn-lễ người Chàm tốn-kém và phiền-phức. Có thể trai cưới vợ hoặc vợ hoặc gái cưới chồng như người Sédang.
Khi đôi trai gái đã biết nhau và đã thương yêu nhau, cha mẹ đôi bên nhờ người mai-mối và định ngày cưới.
Sau ngày cưới, nếu trai cưới vợ thì cô dâu về nhà chồng, còn trái lại, nếu gái cưới chồng, người con trai phải đi ở rể.
Lễ cưới cử-hành to nhỏ tuỳ sự giàu nghèo của đôi gia-đình, nhưng dù to nhỏ cũng có làm cỗ mời họ-hàng làng nước.
Nhà gái phải làm cỗ mời nhà trai trước ; hôm sau nhà trai sẽ mời lại.
Ngày rước dâu, chú rể mặc quần áo sặc-sỡ, đầu đội mũ, tay cầm gậy có dán giấy hoặc bọc vải xanh đỏ. Cô dâu cũng ăn-vận đặc-biệt hơn ngày thường ; cô đeo vòng và đeo rất nhiều hạt cườm ngang hông về phía sau.
Chú rể và cô dâu mỗi người có một chiếc vòng tay. Trước mặt họ-hàng, đôi bên trao vòng lẫn cho nhau, cùng với hai chiếc vòng có hai chiếc bát ăn, tượng-trưng cho lời giao-ước. Sau này, nếu đôi bên không thuận sau nữa có thể trả lại nhau vòng và bát.
Giữa đám cưới, hai họ sẽ trao cho đôi bên dâu rể mỗi người một miếng trầu ; đôi bên cùng ăn ngay. Môi cả đôi bên đều đỏ là có sự may-mắn trong việc phối-ngẫu ; nếu chỉ một bên đỏ môi, sẽ có điều không hay cho bên kia : người đỏ môi sẽ át người bạn trăm năm của mình.
Lễ cưới xong, hoặc cô dâu về nhà chồng, hoặc chú rể về nhà vợ, tùy theo bên nào cưới hỏi.
b) Một vài tục kỳ lạ
Con gái khi xuất-giá không được bắc nồi lên bếp của nhà chồng mình, cả con rể cũng vậy, không được bắc nồi lên bếp nhà vợ.
Cô dâu về nhà chồng, phải đợi mẹ chồng làm lễ đặt nồi trên bếp, con dâu mới bắt đầu nấu-nướng được. Chàng rể đi ở rể cũng vậy, cũng phải đợi mẹ vợ làm lễ đặt nồi như cô dâu về nhà chồng.
Việc cưới xin đã xong, cô dâu chú rể đã về ở nhà nhau, họ đợi mấy ngày sau, chọn ngày tốt, rủ nhau đi suối bắt ốc làm lễ đặt nồi.
Ốc bắt được đem về nhà đổ vào nồi, bà mẹ chồng và cô dâu mỗi người cầm một tay, bưng nồi ốc đặt lên bếp, đoạn bà mẹ khấn vái xin thần bếp từ nay cho cô dâu là người nhà được quyền tự-do trong bếp. Nếu chàng rể về nhà vợ, bà mẹ vợ cũng làm như vậy.
Kể từ ngày có lễ này, cô dâu chú rể mới được ăn ở với nhau.
Người Chàm có tục tảo-hôn. Những gia-đình giàu có, có khi cưới vợ cho con từ khi lên 9, 10 tuổi. Trong trường-hợp này, người vợ thường hơn tuổi chồng. Gia-đình nhà chồng cưới vợ cho con cốt để lấy người giúp việc trong nhà.
c) Ngoại-tình và loạn-dâm
Tội ngoại-tình và loạn-dâm bị người Chàm trừng-phạt gắt-gao.
Người đàn-bà có chồng còn ngoại-tình phải nộp vạ hai con lợn, một con cho chồng và một con cho làng để làm thịt mời bà con làng nước tới ăn và làm-lễ chuộc tội.
Ngoại-tình với người trong thân-tộc, tội nặng hơn, phải nộp hai con trâu, một cho làng, một để cúng Trời-Đất. Lẽ tất-nhiên trâu được đem mổ thịt dân làng cùng ăn. Ngoài ra còn phải nộp cho chồng một con lợn và phải làm lễ thề sẽ chừa bỏ ngoại-tình. Lễ thề cử-hành ở bên suối : Kẻ ngoại-tình giết một con gà trắng và nguyện không tái-phạm.
Ngoại sự trừng-phạt trên, gian-phu, dâm-phụ còn chịu thêm một hình phạt vật-chất về thể-xác nữa :
Bà con dân làng sẽ họp tại một địa-điểm rộng, chia đứng hai bên. Ở giữa là một máng cho lợn ăn, trong máng có cơm nước trộn lẫn-lộn. Gian-phu, dâm-phụ đứng hai bên máng và phải vục đầu vào ăn như lợn. Hình phạt này có ý rằng tư-cách hai phạm-nhân không hơn gì con lợn, họ phải biết sửa-mình tu-tỉnh lại. Dân làng bà con thay nhau cầm roi quất vào hai người, hai người cứ phải vục đầu ăn cho hết chỗ cơm ở máng. Ăn xong hai người bỏ chạy vào rừng.
Sau hình-phạt thể-xác này, phải nộp vạ như đã định mới được trở về làng sống bình-thường.
d) Ly-dị
Hai vợ chồng nếu xét không còn ăn ở với nhau được, có thể cùng nhau xin ly-dị.
Hai người dắt nhau tới ông Già-Làng đại-diện cho Trời Đất để xin thôi nhau. Dân làng được mời tới chứng-kiến. Ông Già Làng sẽ hỏi đôi bên nhiều câu, tìm cách dàn-hòa ; dàn-hòa không xong, Ông Già Làng kết-luận : « Muốn ly-dị phải trả của cho nhau ! »
Việc trả của tùy theo sự giàu nghèo của người xin ly-hôn.
Vợ bỏ chồng, chồng bằng lòng, vợ phải bồi-thường cho chồng một con trâu và năm, bẩy đồ vật khác. Nghèo thì chia quần chia áo, chia lợn, gà, v v…
Chồng xin ly-dị, việc bồi-thường chồng phải chịu.
Bồi-thường hoặc chia của cho nhau xong, đôi bên dắt nhau tới bên bờ suối làm lễ giải lời thề trước sự chứng kiến của hai họ.
Trong lễ giải lời thề này, đôi bên đổi lại cho nhau vòng và bát họ đã trao cho nhau ngày cưới. Giải lời thề xong, đôi bên kéo nhau về làm cỗ mời dân làng ăn.
Từ đó, đôi bên lại được tự-do định-đoạt lấy cuộc đời.
7) NGƯỜI CHÀM CHÂU-ĐỐC
Nói đến người Chàm, thường ta chỉ nghĩ tới người Chàm ở Trung-Việt, ít người nghĩ tới ở Nam-Việt, tại một tỉnh giáp giới Cao-mên cũng có người Chàm, và người Chàm này cũng đồng tổ-tiên với người Chàm miền Trung.
Đây là những người Chàm ở mấy quận Khánh-Bình, Châu-Phú, thuộc tỉnh Châu-Đốc, nhất là ở xã Châu-Giang, nằm bên kia bờ Hậu-giang, đối diện với thị xã Châu-Đốc.
Người Chàm Châu-Đốc theo Hồi-giáo, bởi vậy hôn-lễ của họ cử-hành theo nghi-thức Hồi-giáo.
a) Hôn-lễ
Trai gái Chàm Châu-Đốc chỉ được lập gia-đình, khi đã được coi như trưởng-thành.
Con trai được coi như trưởng-thành khi đã chịu xong lễ cắt da quy-đầu, con gái thì vào tuổi dậy-thì, tức là 13, 14 tuổi.
Việc hôn-nhân của người Chàm Châu-Đốc được thành-tựu nhờ mai mối, tương-tự như tục-lệ Việt-Nam.
Một chàng trai đến tuổi trưởng-thành, bố mẹ chàng muốn cho chàng thành gia-thất, phải nhờ môi-nhân tới gia-đình cô gái đã được lựa-chọn để dò xét ý-kiến của bố mẹ cô ta. Đôi bên cùng thỏa-hiệp, hôn-lễ có thể cử-hành được. Hôn-lễ của đồng-bào này cũng phức-tạp và tốn-kém lắm.
b) Lễ dứt khoát lời nói
Sau sự thỏa-thuận của nhà gái, một ngày được ấn-định để cử-hành lễ dứt-khoát lời nói, tương-tự như lễ ăn-hỏi của ta.
Đúng ngày ấn-định, họ hàng nhà trai đến nhà gái với đồ lễ, tổ-chức tại nơi đây một bữa tiệc có nhiều quan-khách tới dự để chứng-kiến việc nhà gái bằng lòng gả con cho nhà trai và cũng đồng-thời việc ấn-định số tiền cưới gồm 2 khoản : tiền cưới và tiền chợ.
Tiền cưới có tính-cách tượng-trưng cho lễ gả : tiền chợ là tiền sắm cưới, nhiều khi rất lớn, nhà trai phải đưa trước để nhà gái sửa-soạn lễ-cưới.
Lễ dứt khoát lời nói cốt để nhà gái xác-nhận trước quan khách việc gả con cho nhà trai với môi-nhân.
Trong lễ này, sự hiện-diện của môi-nhân rất cần thiết ; bố mẹ chàng trai có mặt hoặc vắng mặt cũng không sao. Lễ vật trong buổi lễ có thể là nữ-trang, quần áo, v.v… do môi-nhân trao cho nhà gái.
Sau này, nếu vì một lẽ gì, lứa đôi của đôi trẻ không thành, nhà gái chỉ cần nói với môi-nhân là xong. Lễ-vật có thể được hoàn lại hoặc không tùy trường-hợp.
Từ lễ này tới lễ cưới thời-gian không nhất-định. Suốt thời-gian này đôi trai gái không được gặp nhau, ngoài những buổi thăm viếng của đôi gia-đình để đôi bên trai gái có thể thấy mặt nhau.
Khi gia-đình nhà trai sang thăm nhà gái, việc tiếp đón do toàn đàn-ông, trái lại khi nhà gái tới thăm nhà trai, việc tiếp đón hoàn-toàn do đàn-bà.
c) Lễ cưới
Ngày cưới được ấn-định với sự ưng-thuận của đôi bên. Lễ cưới cử-hành trong 2 ngày.
Ngày đầu, hai gia-đình trăng đèn kết hoa, mời họ-hàng ăn uống.
Trong việc trang-hoàng bao giờ nhà trai cũng sơ-sài hơn nhà gái. Nhà gái chỉ trang-hoàng nhà trong, nơi sẽ dùng làm phòng hoa-chúc đúng theo tục-lệ, và gian này chỉ khách đàn-bà mới được vào, khách đàn-ông tiếp ở nhà ngoài.
Cô dâu chú rể sửa-soạn ăn-mặc theo đúng nghi-thức : y-phục của chú rể là y-phục đi hành-hương của một vị chức-sắc trong Hồi-giáo, còn y-phục của cô dâu thì rất lòe-loẹt. Ngày hôm nay, lần đầu tiên cô được thoa son điểm phấn, điều mà thường nhật cô vẫn bị cấm. Trên đầu có cài trâm.
Cả cô dâu và chú rể dùng lá nhuộm móng tay cho đỏ.
Cô dâu ngồi trên một bộ ngựa do nhà trai đến nhà gái sắp đặt trước. Trên bộ ngựa có trải thảm và hai bên có hai chồng gối thêu hoa. Ngồi trên bộ ngựa, trông cô như một nữ chúa ngự trên ngai vàng.
Tại nhà trai, chú rể cũng có một chỗ dành riêng trong gian nhà được trang-hoàng.
Khi sửa-soạn xong, mọi người tung-hô chú rể và cô dâu, tùy theo ở nhà trai hay nhà gái.
Các bạn-bè chú rể bế chú lên cao trước một đĩa trầm nghi-ngút.
Một vị bô-lão đứng ra cầu-nguyện để mọi người hòa theo hướng về chú rể hoặc cô dâu.
Buổi tối, tại hai nhà đều có khách-khứa tụ-tập. Tại nhà trai, các thanh-niên ca-hát, nhưng mọi loại đàn đều bị cấm.
Tại nhà gái, đêm nay là đêm của các cô thiếu-nữ, vì đêm nay các cô được họp bàn cùng nhau tới khích-lệ cô dâu, còn hàng ngày các cô thường không rời khỏi nhà. Các cô ngồi vòng theo vách gian phòng trông như bầy tiên-nữ. Các bà mẹ nhân dịp này thường ngắm-ngía các cô để kén vợ cho con.
Ngày hôm sau, chính là ngày lễ-cưới, họ-hàng bè-bạn nhà trai đưa chú rể tới nhà gái. Đi đầu là các bô-lão, rồi đến các thanh-niên cùng trống nhạc. Bố mẹ chàng trai ít khi đi trong đám đưa rể này.
Một thanh-niên cầm lọng che cho chú rể.
Có hai em bé bưng khay, một khay tiền cưới và một khay trầu cau.
Tại đằng nhà gái, vải trắng được trải từ cửa vào gian buồng cô dâu để đón đám rể, chàng rể sẽ theo đường vải trắng đi vào chính thức gặp cô dâu.
Khi đám rể đã tới rồi, khách-khứa mới an-tọa để chứng-kiến lễ gả.
Người cha – nếu người cha đã thất-lộc hay vì lý-do gì không làm lấy được đã có người thụ-ủy – chính-thức vào thông-báo cho cô dâu biết cô đã được gả cho chàng trai.
Trong lễ gả, người chủ-hôn nhà gái ngồi đối diện với chú rể để nghe các vị chức-sắc đọc những lời khuyên bảo về hôn-nhân. Môi-nhân phải có mặt tại lễ này.
Sau đó, vị chủ-hôn tuyên-bố cô gái đã được song thân cô gả cho chàng trai. Chàng trai đáp lại nhận người con gái đó làm vợ. Khách-khứa hoan-hô.
Chàng rể kế đó được đưa vào phòng cô dâu. Chàng đến bên rút cái trâm cao nhất trên mái tóc cô rồi ngồi xuống phía tay phải.
Hai người ngồi như vậy trong vài phút cho họ-hàng cùng xem.
Một vị bô-lão đứng ra cầu-nguyện cho lứa đôi được bách-niên giai-lão. Rồi mọi người ra ngoài.
Chàng rể thay y-phục rồi cũng ra ngoài tiếp bạn-bè.
Tối đến là lễ hợp-cẩn. Hai vợ chồng ăn một bữa cơm tượng-trưng cùng mâm cùng đĩa.
Phòng cô dâu giữ nguyên sự trang-hoàng cho đến ngày thứ ba, ngày họ-hàng đằng trai đến thăm hai vợ chồng mới, mang theo đủ các thứ vật-dụng cần-thiết cho một gia-đình.
Một bữa tiệc thịnh-soạn được bày ra. Họ-hàng chứng kiến việc chuyển-giao các vật-dụng trên.
Kể từ lễ chuyển-giao này, theo nguyên-tắc, hai vợ chồng mới sẽ sống riêng cuộc sống của gia-đình mình, nhưng trên thực-tế nhiều cặp vợ chồng vẫn ở chung với bố mẹ chồng hoặc bố mẹ vợ.
Sau đó, đôi vợ chồng mới đi thăm họ-hàng bè-bạn.
d) Tục đa thê
Người Chàm Châu-Đốc có tục đa-thê. Trong gia-đình, ở đây, đàn ông làm chủ, có uy-quyền tuyệt-đối cũng như có nhiệm-vụ nặng-nề.
Với quyền tuyệt-đối, người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ, miễn làm sao nuôi đủ thì thôi. Tuy-nhiên, trên thực-tế cũng rất ít gia-đình tay ba hoặc tay tư. Chỉ những trường-hợp người chồng đi làm ăn xa, để vợ ở nhà, rồi lấy thêm vợ khác ở nơi làm ăn. Có khi họ lấy người vợ thứ người Việt-Nam. Người vợ Việt này, kết-hôn với người Chàm phải nhập theo Hồi-giáo.
đ) Ngoại-tình
Phong-tục người Chàm Châu-Đốc cấm hẳn sự yêu-đương vụng-trộm. Yêu nhau phải có cưới xin.
Nếu có trường-hợp yêu trộm dấu thầm, dân làng bắt được, người đàn-ông bó buộc phải cưới cô gái kia.
Kẻ ngoại-tình bị trừng phạt nặng-nề. Gái ngoại-tình, chồng có quyền bỏ. Người ngoại-tình dù đàn-ông hay đàn-bà đều bị khai-trừ khỏi thôn-ấp. Người đàn-ông còn phải chịu một hình phạt : cưỡi một con bò cái, mắt nhìn về phía sau, bị dẫn đi từ đầu tới cuối làng, có một vị chức sắc rêu-rao.
e) Ly-dị
Người đàn-ông có quyền bỏ vợ và người đàn-bà cũng có quyền bỏ chồng, quyền-hạn của người đàn-ông rộng hơn.
Người chồng có quyền rãy vợ bất cứ lúc nào và bất cứ vì lý-do gì. Sau này, nếu muốn, lại có thể gọi vợ về chung sống được.
Muốn bỏ vợ, người chồng chỉ cần quyết-định bằng lời nói trước ít nhất hai người làm chứng. Bỏ vợ có ba cấp-bực :
- Cấp thứ nhất nặng nhất
- Cấp thứ nhì
- Cấp thứ ba.
Tuyên bố bỏ vợ, người chồng phải nói rõ cấp-bực của quyết-định, nếu không quyết-định được mặc-nhiên coi vào cấp thứ nhất.
Sự tái-hợp với vợ rất dễ-dàng nếu vợ bỏ trước theo hai cấp sau. Cấp thứ nhất, sự tái-hợp khó-khăn hơn. Ở cấp này chỉ có thể tái-hợp khi người vợ cũ đã có chồng khác và cũng lại bị người chồng thứ hai này bỏ rồi. Sự khó-khăn tuy vậy họ vẫn vượt được bằng cách nhờ một người đàn-ông khác cưới người vợ cũ của mình để sau đó ba hôm lại tuyên bố ly-dị. Như vậy người chồng cũ lại có thể cùng vợ tái-hợp.
Người chồng bỏ vợ thì dễ-dàng nhưng người vợ chỉ được bỏ chồng trong ba trường-hợp sau :
- Người chồng bất lực.
- Người chồng không cấp dưỡng cho đủ sống.
- Người chồng làm những điều trái với tập-tục thôn-ấp, ngược với Hồi-giáo mà người vợ đã khuyên-can không được.
Muốn bỏ chồng, mặc dầu người chồng đã ở một trong ba trường-hợp trên, người vợ phải trình với chức-sắc làng và phải nhờ vị này chứng-nhận cho.
8) NGƯỜI BAHNAR
Người Bahnar sống ở miền Đông-Nam Kontum, Tây-Bắc Pleiku và phía Tây Bình-Định, gồm tất cả 7 bộ-lạc chính và nhiều chi-phái nhỏ. 7 bộ-lạc chính là :
- Bahnar Krem
- Bahnar Kondodelh
- Bahnar Alakong
- Bahnar Tolotenir
- Bahnar Ala-Tanang
- Bahnar Bonam
- Bahnar Chàm
Năm bộ-lạc đầu ở vùng An-Túc tỉnh Bình-Định. Bộ-lạc Krem cũng ở cả vùng An-Khê với 4 chi-phái khác.
Bộ-lạc Bonam ở giữa ranh-giới hai tỉnh Kontum và Pleiku.
Bộ-lạc Chàm cư-ngụ tại tỉnh Bình-Định.
Người Bahnar tuy phân chia làm nhiều bộ-lạc và chi-phái, song phong-tục họ đều tương-tự như nhau.
a) Hôn-lễ
Cũng như người Sédang và người Chàm, người Bahnar không nhất-định trai phải cưới vợ hoặc gái phải cưới chồng. Bên nào cưới cũng được.
Trai chưa vợ búi tóc như đàn-bà, trên đầu có mấy chiếc lông công, lông gà hay lông chim, trong những ngày lễ, để phân-biệt với những người đã lập gia-đình. Các chàng trai nào đã có vị-hôn-thê hoặc vừa cưới vợ xong, quấn trên đầu một chiếc khăn đỏ.
Khi muốn cưới vợ cho con trai, gia-đình nhà trai nhờ mai-mối tới nhà gái hỏi thẳng người con gái, nhược-bằng muốn cưới chồng cho con gái, gia-đình nhà gái cũng nhờ mai-mối tới hỏi thẳng người con trai.
Được sự ưng-thuận của cô dâu hoặc chú rể tương-lai rồi, việc cưới xin bắt đầu. Bên nào hỏi phải chịu đài-thọ phí-tổn, nhưng sẽ có quyền bắt dâu hoặc rể về nhà mình.
Người nào xấu hay già hơn sẽ phải bồi-thường cho gia-đình người kia bằng tiền của.
Vợ hay chồng chết phải để tang lẫn nhau.
Thời-hạn để tang từ một đến ba năm, tùy giàu nghèo, giàu để tang lâu, nghèo mãn-tang chóng.
b) Ngoại-tình và loạn dâm
Sự ngoại-tình và thông-dâm của người Bahnar rất hiếm.
Đàn-bà có chồng còn ngoại-tình phải đền bằng của, lần đầu tiên đền cho chồng và làng nước một con lợn, nếu tái-phạm phải đền nhiều hơn, có khi một con trâu. Trâu lợn này được mổ thịt đãi dân làng.
Trong trường-hợp ngoại-tình nhiều lần, người chồng có quyền ly-dị và gia-đình nhà vợ phải lo vợ khác cho con rể.
9) NGƯỜI DJARAI
Người Djarai gồm ba bộ-lạc :
- Djarai Arup
- Djarai Khuăn
- Haroi
Họ cư-ngụ ở phía Nam Kontum, gần khắp tỉnh Pleiku, miền Bắc Darlac, Tây-Bắc Phú-Yên và Bắc Khánh-Hòa.
Người Haroi lai Djarai và Rhadé. Phong-tục của người Djarai rất phiền-phức.
a) Hôn-lễ
Người Djarai theo chế-độ mẫu-hệ. Trai gái đến tuổi trưởng-thành đều đeo đôi hoa tai thô-sơ nặng-trĩu.
Ở đây câu : « Nam nữ thụ thụ bất thân » được tuyệt-đối áp-dụng cho trai gái thanh-tân.
Tối tối những chàng trai phải cùng nhau ngủ tại nhà làng, còn các cô gái ngủ ở nhà, nhưng ngủ ở dưới hầm có nắp đậy. Ngày nay, nhiều nhà không có hầm nhưng con gái vẫn phải ngủ riêng biệt và tuyệt-nhiên không bao giờ được đặt chân tới nhà làng, trừ trường-hợp đã có chồng rồi bị ly-dị.
Khi đôi trai gái ưng ý muốn lấy nhau, gia-đình nhà gái phải đứng lo việc cưới chồng cho con. Họ phải nhờ mai-mối để hỏi chồng cho con. Nhà trai bằng lòng, nhà gái phải lo việc cưới và phải gánh chịu mọi phí-tổn.
Trong tiệc cưới, gia-chủ phải có một con dê dành cho các trai làng ăn nhậu.
Sau ngày cưới, người chồng phải về ở nhà vợ và phải làm việc cho bố mẹ vợ trong thời-gian ba năm. Hết ba năm, hai vợ chồng có thể ra ở riêng, dắt nhau về ở nhà chồng hoặc ở lại nhà vợ tùy ý. Nếu người vợ chết, em vợ sẽ thay-thế lấy anh rể, sau khi hết tang.
b) Ly-dị
Người Djarai có tục ly-dị. Muốn ly-dị, hai vợ chồng phải xin với hội-đồng gia-tộc và chủ làng. Chủ làng sẽ họp ở nhà làng để phân xử. Chồng xin ly-dị phải trả lại cho vợ đồ hôn-lễ. Nếu ly-dị do người vợ khởi-xướng, người vợ không được đòi bồi-thường gì, và người chồng cũng không được gì ngoài việc không phải trả lại phí-tổn cưới xin.
c) Ngoại-tình và thông-dâm
Người Djarai trừng-phạt tội ngoại-tình và thông-dâm cũng gần giống như người Chàm Trung-Việt nghĩa là bắt nộp vạ lợn bò trâu dê để mời dân làng ăn. Về thể-xác, sự trừng-phạt khe-khắt hơn nhiều : gian-phu, dâm-phụ phải ăn cơm trong máng lợn luôn ba tháng, bị sỉ-vả và bị roi quất vào người. Thực ra, sự ngoại-tình và thông-dâm ít xảy ra ở người Djarai.
10) NGƯỜI ROGLAI
Người Roglai ở các tỉnh Khánh-Hòa, Ninh-Thuận, Bình-Thuận và Lâm-Đồng, từ miền Tây-Nam Diên-Khánh (Khánh-Hòa), tới phía Bắc Bình-Thuận và rải rác về phía Nam tỉnh Lâm-Đồng.
Người Roglai được cấu-tạo bởi sự pha giống của người Chàm và người Rhadé, có pha lẫn cả giống người Koho. Họ chia làm nhiều chi-phái : Agglai, Tring, Sté, v.v…
Phong-tục của người Roglai chịu ảnh-hưởng phong-tục của ba sắc dân cấu-tạo nên họ : Chàm, Koho và Rhadé.
* Hôn-lễ
Người Roglai theo chế-độ mẫu-hệ, tuy-nhiên nhà gái không cưới chồng mà việc hôn-nhân phải do các chàng trai khởi-xướng.
Để ý tới một cô gái nào, chàng trai có thể đem đồ-đạc đến trú-ngụ tại ngay nhà cô ta và tự coi như người nhà để tham-dự vào mọi công-việc của gia-đình này. Cha mẹ người con gái không phản-đối việc chàng trai đến. Ở nhà cô gái, chàng trai sẽ có dịp tiếp-xúc và đàm-thoại với cô gái.
Sau một thời-gian chung đụng, chàng trai có thể ngỏ tình với người yêu bằng cách trao một tặng-vật : hoa tai, nhẫn, vòng, v.v… Cô gái nhận tặng-vật nếu ưng-thuận chàng ta. Nếu cô từ-chối, chàng trai có thể kiên-nhẫn ở lại đợi chờ cô động-tâm hoặc cuốn gói về nhà mình.
Cô gái đã nhận tặng-vật của chàng trai, trình cho bố mẹ hay. Cha mẹ cô cho đem rượu đến biếu nhà trai và bàn đến việc hôn-nhân.
Khi cả hai gia-đình đã ưng-thuận, lễ cưới sẽ cử-hành, phí-tổn do nhà trai chịu.
Tiệc cưới tổ-chức đơn-giản ; nhà giàu có thể mổ trâu bò làm to linh-đình được.
Sau tiệc cưới, người đàn-ông phải về nhà vợ ăn ở chung, làm chung như chế-độ mẫu-hệ đã quy-định.
Người Roglai có tục tảo-hôn, nhất là ở vùng Phan-Lý-Chàm. Có những thanh-niên 20 tuổi cưới vợ mới một hai tuổi. Có người cưới cả vợ còn ở trong bụng mẹ và khi đi làm thường địu vợ trên lưng. Họ tin rằng nuôi vợ như vậy là có phúc.
11) NGƯỜI RHADÉ
Người Rhadé sinh-sống tại hầu hết tỉnh Darlac, ở lan sang phía Nam tỉnh Quảng-Đức, Đông-Nam tỉnh Phước-Long ; lại cũng có một số ít ở rải-rác phía Nam tỉnh Phú-Yên và phía Tây-Bắc tỉnh Khánh-Hòa.
Người Rhadé tuy cùng một phong-tục nhưng chia ra nhiều bộ-lạc :
- Edekpa
- Krung
- Adham
- Blô
- Span
- Bih
- M’dhur
- Nong.
Trong các bộ-lạc trên, có bộ-lạc Nong-lai Koho nên tập-tục có ngả theo tập-tục của người Koho, còn những bộ-lạc khác vẫn giữ nguyên màu-sắc của dòng-giống Rhadé.
Phong-tục tập-quán của người Rhadé, cũng như phần nhiều các sắc dân khác vùng Cao-Nguyên Trung-Việt, còn mang nặng tính-chất mê-tín, tuy người Rhadé là sắc dân tiến-bộ trong các đồng-bào Thượng. Chính sự mê-tín này đã khiến đời sống của họ chậm cải-hóa và còn nhuốm nhiều màu-vị của thời bán-khai.
a) Hôn-lễ
Theo chế-độ mẫu-hệ, đàn-bà Rhadé phải cưới chồng.
Người con gái đến tuổi trưởng-thành, ưng chàng trai nào, thưa cùng bố mẹ để nhờ mai-mối tới nói với nhà trai.
Nhà trai bằng-lòng và chàng trai đồng-ý, hai họ sẽ làm lễ trao vòng, mỗi bên trao cho bên kia một chiếc vòng-đồng để đeo cho chú rể và cô dâu.
Trao vòng tựa như lễ ăn-hỏi. Nhà trai bữa đó có làm tiệc mời ông bà mai-mối.
b) Lễ cưới
Ngày cưới do hai bên cùng thỏa-thuận theo sự lựa-chọn của nhà trai. Trước ngày cưới, cô dâu phải về làm dâu bên nhà chồng một thời gian từ ba tháng tới ba năm. Việc làm dâu chấm-dứt theo ngày cưới.
Lễ cưới được tổ-chức trong hai ngày.
Ngày đầu, nhà gái tới nhà trai rước rể dưới sự hướng-dẫn của môi-nhân. Nhà trai làm tiệc khoản-đãi.
Hôm sau, nhà trai kéo sang nhà gái. Lại cỗ-bàn, có ngả trâu, giết bò, mổ gà lợn để mời làng nước, bè-bạn dự và chứng-kiến cho lễ thành-hôn của đôi trẻ.
Hôm nay, nhà gái trao lễ hồi-môn cho nhà trai.
Họ-hàng khuyên-nhủ đôi vợ chồng ăn ở với nhau cho hòa-thuận trung-thành.
Cưới xong chú rể ở lại nhà vợ, làm việc cho gia-đình nhà vợ và xa dần nhà mình.
Có nhiều trường-hợp tự-do kết-hôn : trai gái lấy nhau trước rồi mới báo cho cha mẹ biết để điều-chỉnh sau.
Người Rhadé không có tục tảo-hôn. Con gái ít nhất 16 tuổi, trai 20 mới lập gia đình.
Trong trường-hợp nhà trai chỉ có một con, nhà trai có thể xin cùng nhà gái cho cô dâu ở gửi dâu. Con dâu sẽ được coi như con đẻ và thừa-hưởng gia-tài nhà chồng.
c) Ly-dị
Người Rhadé cũng có tục ly-dị. Một trong hai người phối-ngẫu có thể xin ly-dị trong những trường hợp sau :
- Bất-lực
- Phản-bội
- Can án hay phạm lỗi nặng với tập quán có ảnh-hưởng đến đời sống lứa-đôi.
Trong việc ly-dị, người chồng thường phải chịu sự thiệt-thòi. Người chồng xin ly-dị với người vợ có ngoại-tình, tuy lỗi về người vợ, người chồng vẫn phải bồi-thường cho những đứa con. Nếu muốn lấy vợ khác, ngoài việc bồi-thường cho các con còn phải trả của hồi-môn và phí-tổn ngày cưới cho nhà gái. Người chồng cũng lại mất hết quyền lợi về của-cải đôi vợ chồng đã kiếm được trong thời-kỳ chung sống với nhau.
d) Vợ chết hoặc chồng chết
Người vợ chết, người chồng, sau tang-lễ, phải trở về nhà mình và phải trả lại những đứa con côi cho họ-hàng nhà vợ. Người chống chỉ được quyền ở lại nhà vợ nếu được gia-đình người vợ kiếm vợ khác cho, hoặc đã già nua không tiện về với gia-đình mình.
Sau một thời-gian tang-chế, người chồng có thể lấy vợ khác được.
Trường-hợp người chồng chết, người vợ góa được quyền giữ lại những đứa con mà cũng được quyền lấy chồng khác, không bị bó-buộc gì với nhà chồng cũ.
12) NGƯỜI KOHO
Người Koho là một sắc dân rất đông ở rải-rác khắp các tỉnh Quảng-Đức, Lâm-Đồng, Tuyên-Đức, Bình-Tuy và Long-Khánh.
Về nguồn gốc người Koho, nhiều nhà nhân-chủng-học trong số đó có các ông Gillbert Bocher và Jacques Boumes cho rằng người Koho là một sắc dân pha giống người Chàm, người Anh-Đô-Si-A, người Mã-Lai và cả người Mên nữa.
Người Koho chia làm nhiều bộ-lạc xếp thành hai hạng :
Những bộ-lạc chịu nhiều ảnh hưởng của người Chàm :
- CHURU ở Quảng Đức, quận Đôn-Dương.
- NOANG và SRÉ ở Tuyên-Đức.
Những bộ-lạc khác không mấy chịu ảnh-hưởng của người Chàm :
- MAA
- CÍL hay CHÍNH
- TOA
- QUEYON
- LAT
- NOP
- KODIONG
- NAM
- v.v…
Nhiều phong-tục của người Koho hơi giống phong-tục của người Roglai.
Bộ-lạc quan-trọng nhất của người Koho là bộ-lạc NAM ở từ vùng Xuân-Lộc, tỉnh Long-Khánh tới quận Đức-Trọng tỉnh Tuyên-Đức.
Kế đó là bộ-lạc Maa, một bộ-lạc khỏe-mạnh hiếu-chiến và về phương-diện phong-tục có thể là bộ-lạc điển-hình của người Koho.
a) Hôn-lễ
Người Koho theo chế-độ mẫu-hệ ; việc cưới xin có nhiều tục-lệ tốn-kém, phiền-phức và kỳ-lạ.
Khi một thiếu-nữ ưng-ý một cậu trai nào, nàng thưa cùng cha mẹ nhờ mai-mối đánh tiếng với nhà trai. Kế đó, cô nàng tìm cớ qua lại cửa nhà chàng trai để chàng ta có dịp biết cô.
Người con trai ở đây cũng e-lệ thẹn-thùng như các cô gái Việt-Nam khi có chàng trai muốn bỏ miếng trầu !
Mỗi gia-đình Koho có con trai lớn cũng mong có người dạm-hỏi, giống như các gia-đình Việt-Nam muốn gả chồng cho các cô con gái lớn.
Bố mẹ muốn gả chàng trai, lòng chàng tuy ưng-thuận nhưng chàng còn giả-bộ từ-chối để nhà gái phải thưa đi nói lại mới xong.
Người con trai tuy bằng-lòng nhưng việc quyết-định vẫn chưa xong, phải cần có ý-kiến của người con trưởng. Người con trưởng có đi xa cũng phải tìm cách lấy cho được sự đồng-ý, bằng không dù hai vợ chồng người em đã thành-hôn rồi, mấy năm sau người anh cả trở về vẫn có quyền bắt vạ và đánh đòn cả đôi.
Được sự đồng-ý của người con trưởng, nhà trai mới báo tin cho nhà gái.
b) Lễ cưới
Nhà gái được tin làm lễ trao tín-vật như lễ ăn-hỏi của ta.
Ngày đem tín-vật sang nhà trai, nhà gái mang cả đồ lễ tới làm cỗ ăn uống trước mặt họ-hàng. Cha mẹ cô gái lấy hột cườm chia cho tất cả trẻ con người lớn trong nhà để làm chứng cho buổi lễ. Cô dâu, chú rể mỗi người đeo một chuỗi vòng vào cổ và đeo vào tay một chiếc nhẫn bạc.
Ít lâu sau, có khi vài hôm, có khi vài tháng, nhà gái sang rước rể. Chàng rể được họ hàng nhà trai tặng mang về nhà vợ, đồ-đạc, trâu bò, lúa giống, v.v… để làm của hồi-môn. Lại có cỗ bàn ăn uống.
Ăn uống ở bên nhà trai xong, về bên nhà gái lại cỗ bàn nữa. Lại ngả trâu bò, giết gà lợn.
Nửa đêm hôm đó, họ làm lễ nhập-phòng cho chàng trai. Cả họ đưa chú rể vào phòng rồi cùng trở ra, để chú rể ở lại cùng với cô dâu tận-hưởng đêm tân-hôn.
Nếu đôi trai gái lấy nhau không được sự đồng-ý của cha mẹ, nhà gái phải nộp vạ cho nhà trai một con lợn để mổ thịt mời làng.
c) Làm việc trả ơn
Sau đêm tân-hôn độ mươi ngày, hai vợ chồng cùng dắt nhau về nhà chồng ở vài tháng. Người vợ làm việc cho nhà chồng để trả ơn. Mấy tháng làm việc trả ơn xong, đôi vợ chồng lại trở về nhà vợ rồi chờ độ một năm sau, họ lại trở lại nhà chồng, mang theo quà biếu bố mẹ chồng, quà biếu chính là hoa-lợi của những tặng-vật, ngày cưới. Biếu quà cũng có ý tỏ lòng biết ơn.
d) Ly-dị
Người Koho có tục ly-dị, vợ hay chồng khởi-xướng đều được. Người khởi-xướng xin ly-dị, nếu có lý-do chính đáng được phép ly-dị, nhưng phải bồi-thường cho người kia từ một đến bảy con trâu. Không có lý-do chính-đáng cũng xin ly-dị được, nhưng người khởi-xướng phải bồi-thường cho người kia 15 con trâu.
đ) Ngoại-tình và thông-dâm
Ngoại tình và thông-dâm bị người Koho trừng-phạt rất nặng. Cách đây độ khoảng 20 năm, kẻ quyến rũ chồng hay vợ người thường bị giết chết quăng xác xuống suối tuy dân làng đã có lệ nộp vạ.
Vợ hay chồng ngoại-tình bị bắt quả tang, gian-phu lẫn dâm-phụ phải chung nhau lo-liệu nộp vạ cho chồng hoặc vợ 14 con trâu và cho làng một con, con này làng mổ ra ăn uống với nhau. Nếu nạn-nhân tức là người bị vợ hoặc chồng lừa, đòi ly-dị thì kẻ phối-ngẫu phạm-pháp, nếu là đàn ông chỉ phải trả vạ một nửa, còn nếu là đàn bà vẫn phải nộp đủ 15 con trâu như lệ định.
Loạn-dâm, cả hai phạm-nhân đều bị bỏ rọ trôi sông một quãng mới được vớt lên, bị mọi người đánh đập, sau đó mới được đưa tới vị tộc-trưởng xét xử.
13) NGƯỜI M’NONG
Sống ở biên giới Mên-Việt, người M’Nong là một sắc dân sống cả trên đất Mên lẫn đất Việt. Tại Việt-Nam, bộ lạc M’Nong ở trên địa-hạt các tỉnh Đà-Lạt, Quảng-Đức, Lâm-Đồng và Phước-Long. Tại Cao-mên, họ sống trên tỉnh Haut Chlong và mang tên là P’Nong.
Bộ-lạc M’Nong ở Việt-Nam chia làm nhiều chi-phái :
- Chi-phái M’NONG R’LAM ở chân những dãy núi vùng Lac tỉnh Darlac và phía Tây-nam tỉnh Quảng-Đức.
- Chi-phái M’NONG CÁT ở trên đỉnh các núi cao, mé trên chi-phái M’Nong R’lam.
- Chi-phái BU-ĐÔNG, gan-dạ, hiếu-chiến ở vùng Ba-biên-giới, dọc từ Djong-Dram tới Dakmil.
- Chi-phái DI-BRI cũng ở vùng trên.
- Chi-phái M’NONG-BÔNG ở trên đồi vùng Ba-biên-giới.
- Chi-phái BUNOR cũng ở vùng trên.
Phong tục của người M’Nong có nhiều điểm tương tự với người Rhadé và người Koho.
* Hôn-lễ
Hôn-lễ người M’Nong giống hôn-lễ người Rhadé với điểm đặc biệt là khi người vợ hay người chồng chết thì người em vợ hay em chồng có quyền cai-quản gia-đình đó.
14) NGƯỜI STIÊNG
Người Stiêng là một sắc dân thuần-nhất hơn tất cả các sắc dân người Thượng miền Nam. Họ không chia làm nhiều bộ-lạc nhỏ. Họ sống theo ranh giới Mên-Việt từ Tây-Nam Quảng-Đức tới Bình Long, Tây-Ninh và ở rải rác tại cả các tỉnh Biên-Hòa và Bình Dương. Họ gần người Việt hơn các sắc dân kia. Ở Biên-Hòa và Bình-Dương họ chính là người Thổ và người Tà-Nam.
Người Stiêng cùng dòng-dõi với những thổ-dân sơn-cước Cao-mên và phong-tục của họ cũng giống nhau.
a) Hôn-lễ
Người Stiêng theo chế-độ phụ-hệ, người đàn-ông cai-quản gia-đình và các chàng trai có quyền kén vợ.
Việc cưới xin bắt đầu bằng mai-mối. Khi đôi gia-đình cùng đồng-ý, mỗi bên đều Cử-nhân-chứng dự lễ cưới.
b) Lễ buộc chỉ cổ tay
Hai người nhân-chứng được đôi bên chọn phải là những người hiểu về tục-lệ hôn-nhân, lại biết niệm kinh để mời các vị thần đến chứng-kiến trong lúc làm lễ Buộc chỉ cổ tay cho đôi bên trai gái. Sợi dây buộc ở cổ tay đôi bên có giá-trị thiêng-liêng buộc đôi bên vào với nhau. Các vị thần chứng-giám lễ này sẽ phù-hộ cho đôi bên được hạnh-phúc.
Lễ buộc chỉ cổ tay cử-hành trước hai họ, hai vị nhân-chứng vừa niệm kinh vừa buộc chỉ cho đôi trẻ.
c) Lễ cưới
Sau đó là lễ cưới. Nhà trai mời thân-bằng hai họ tới dự-lễ ăn uống. Nhà gái cũng đáp lễ làm cỗ mời lại.
Việc cưới xin sau hai bữa đại-tiệc của hai bên có thể coi là xong, và cô dâu về nhà chồng.
Cưới vợ, chàng trai phải nộp sính-lễ rất nặng. Theo cổ-tục sính-lễ gồm :
- 1 người nô-lệ
- 1 vò Srung
- 1 thanh đao cổ, giá-trị bằng một con trâu
- 1 lưỡi dao cổ, giá-trị bằng một con trâu
- 1 vò Djiri, giá trị bằng một con trâu
- 1 chiếc váy mền
- 1 cái chiêng, giá-trị bằng một con trâu
- 10 chiếc tô lớn
- 20 chiếc tô nhỏ
- 1 tô bằng đồng
- 1 chuỗi vòng cườm lớn
- 1 chiếc vòng bằng thau
- 1 cuộn chỉ.
Nếu nghèo quá, chàng trai không nộp được sính-lễ, chàng phải đến ở gửi rể nhà vợ.
Người Stiêng có thể cưới một người nô-lệ làm vợ được và cũng phải nộp sính-lễ như trên. Ngoài ra còn phải nộp ba con lợn, một con để cúng thần rừng, một con cúng thần làng, một con dành cho những người chứng và một bò để mổ thịt mời làng nước.
Sính-lễ rất nặng, nhưng chàng rể có thể xin nộp dài hạn trong một thời-gian do nhà gái định. Qua thời-gian này, sính-lễ vẫn chưa nộp xong, hai vợ chồng phải về ở nhà bố mẹ vợ.
Người Stiêng có tục đa-thê, nhưng muốn cưới vợ lẽ phải có sự đồng-ý của vợ cả. Nếu vợ cả không đồng-ý, có thể xin ly-dị và trả lại đồ sinh-lễ và phí-tổn trong ngày cưới.
d) Ly-dị
Người Stiêng có tục ly-dị.
Đôi vợ chồng bất-hòa có thể xin ly-dị. Khi ly-dị họ mời hai nhân-chứng cũ và họ-hàng đôi bên tới chứng-kiến rồi tuyên-bố bỏ nhau.
Người chồng xin ly-dị được vợ bằng lòng phải đền cho vợ một con lợn và một vò rượu. Khi người vợ đi lấy chồng khác, người nhà gái phải trả cho nhà trai một nửa đồ sính-lễ đã nộp trước.
Đã có con rồi, người chồng còn xin ly-dị, các con sẽ theo mẹ và người chồng cũ phải bồi-thường cho người chồng mới một món tiền ngang với giá mua một người nô-lệ, tiền này gọi là tiền trả trinh-tiết.
Người chồng bỏ vợ đi lấy vợ khác phải bồi-thường cho vợ và người vợ không phải trả lại của.
Nếu người vợ xin ly-dị, gia-đình phải trả lại đồ sính-lễ và các con sẽ theo cha.
đ) Ngoại-tình và thông-dâm
Tội ngoại-tình và thông-dâm bị trừng phạt.
Người chồng ngoại-tình bị vợ bắt được quả tang, người vợ có quyền bắt vạ một con gà, nhưng không được xin ly-dị.
Người vợ ngoại-tình bị chồng bắt được, gian-phu phải nộp vạ tiền vào khoảng 2.000$, một con lợn và một vò rượu, nếu sự gian-dâm xảy ra ở trong rừng. Nếu việc gian-dâm xảy ra ở trong nhà người chồng, gian-phu sẽ bị phạt 4 con trâu và nộp làng một con lợn để mổ thịt.
Kể từ ngày ngoại-tình, người vợ bị người chồng coi như nô-lệ, nếu tái-phạm sẽ bị ly-dị và phải trả của.
Kẻ phạm-gian bị phạt nếu không có tiền để nộp sẽ phải làm nô-lệ cho gia-đình người hưởng phạt suốt đời.
e) Người góa-phụ
Chồng chết, người vợ có thể lấy chồng khác được. Nếu người chồng chưa nộp đủ sính-lễ, góa-phụ được tự-do tái-giá. Sính-lễ, nếu đã nộp đủ, người vợ bắt buộc phải lấy em chồng, có khi làm lẽ. Không chịu, góa-phụ phải trả của lại.
15) MẤY TỤC LẠ VỀ HÔN-NHÂN CỦA MỘT SỐ ĐỒNG-BÀO THƯỢNG MIỀN BẮC
Lẽ ra bài này chấm dứt ở đây, nhưng nhân nói tới hôn-lễ đồng-bào Thượng miền Nam, xin nhắc qua đôi ba tục-lệ đặc-biệt của một vài sắc dân thiểu-số miền Bắc trong việc cưới xin. Đây chỉ là một vài tục-lạ chứ không nói tới tất cả hôn-lễ của đồng bào Thượng miền Bắc.
16) PHIÊN CHỢ CƯỚI
Cưới xin phải có mai-mối dạm hỏi, con người ta phải đâu một món hàng mang ra chợ bán mà lại có phiên chợ cưới.
Ấy thế mà có phiên chợ cưới, phiên chợ cưới không phải ở xứ xa-lạ nào, chính ở ngay trên đất nước Việt-Nam chúng ta.
Phiên chợ cưới hàng năm họp vào ngày 25 tháng chạp âm-lịch tại Tam-Lộng, huyện Bình-Xuyên, tỉnh Vĩnh-Yên, cách Tây-Bắc Hà-Nội hơn năm chục cây số.
Đây là phiên chợ đặc-biệt của đồng bào người Mán suốt mấy tỉnh Vĩnh-Yên, Phú-Thọ, Tuyên-Quang và Thái-Nguyên. Chợ họp trên một khu đất rộng, thường ngày vẫn là nơi họp chợ của xã Tam-Lộng, ngay lối vào trong làng, giữa cánh đồng, bên một con sông đào nhỏ.
a) Ngày phiên chợ
Ngày phiên chợ các nam-nữ thanh-niên Mán mấy tỉnh trên kéo tới rất đông đảo ; có cả ông già bà cả đi theo trước là để chứng-kiến lời giao-ước của lứa-đôi niên-thiếu, sau là để hồi-tưởng lại cái thủa đương-thì của mình cũng đã tươi như hoa, đẹp như tranh vẽ và cũng đã kết mối lương-duyên sau một phiên-chợ cưới.
Trai gái dắt nhau tới đây, thường là những cặp trai gái có khi đã biết nhau, đã thương yêu nhau từ trước, hôm nay đi chợ để cha mẹ chứng kiến cho sự yêu-đương và tác-thành cho họ. Cũng có những chàng trai tới đây để tìm ý-trung nhân, cũng có những cô nàng tới đây để kén người đôi lứa.
Họ từ Quan-Chu (Thái-Nguyên) lại, họ tự Sơn-Dương (Tuyên-Quang) tới, họ ở Đoan-Hùng (Phú-Thọ) về, có khi họ ở ngay Tam-Lộng hoặc những làng kế cận như Hạ-nậu, Dị-nậu, Sơn-đình, Lục-liễu, tỉnh Vĩnh-Yên ra.
Họ sắm sửa về đây từ mấy hôm trước và luôn trong mấy ngày họ tấp-nập bận-rộn lo hành-lý để đi họp chợ.
Người già, người trẻ đến chợ đều quần-áo lịch-sự, chỉnh-tề. Họ mặc bộ quần áo đẹp nhất, đội chiếc khăn mới nhất, đi đôi hài-sảo gọn-gàng nhất. Các cô sơn-nữ, người Mán hầu-hết ở vùng rừng núi, khoác chiếc yếm sặc-sỡ nhất, và có bao nhiêu đồ trang sức lộng-lẫy nhất hôm nay, các cô phải đeo cho hết : vòng cổ, hoa tai, vòng tay và cả vòng chân nữa. Các chàng trai mặc toàn quần áo đẹp, mặt họ tươi cười hớn-hở lòng họ hân-hoan.
b) Những cuộc gặp-gỡ
Họ gặp-gỡ nhau ở chợ. Họ đứng túm-tụm trên nền chợ, xen lẫn vào các người bán hàng, họ đứng túm-tụm bên bờ ruộng, ven bờ sông, dưới một gốc cây bên chợ : Đây một cặp trai gái đang nỉ-non tình-tự, kia một chàng trai khẩn-khoản biếu một sơn-nữ một món quà kỷ-niệm.
Mặc cho gió bấc cuối năm căm căm rét, mặc cho mưa phùn giá-lạnh lấm-tấm rơi, họ vẫn đứng ngay giữa trời. Hôm nay họ cùng nhau ôn lại những buổi gặp-gỡ từ trước, hôm nay có ông già bà cả chứng kiến lời giao-ước đinh-ninh của họ. Lòng họ rộn-ràng lửa yêu-đương, họ sợ chi rét buốt ngoài trời. Bầu trời đông đối với họ không ảm-đạm, cây cỏ đang đâm chồi nẩy lộc như chào mừng họ.
Gặp nhau đây, họ nhắc lại những lời êm-dịu đã nói với nhau từ trước, hoặc những cặp mới quen biết, họ ngỏ nỗi-niềm cùng nhau. Họ sửa-soạn đón một mùa xuân tưng-bừng ở bên ngoài và êm-dịu ở trong lòng.
c) Chợ tàn
Phiên chợ họp từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều thì tàn, tàn theo những người bán hàng về chợ.
Sau những lời giao ước, những cặp trai gái dắt nhau vào các quán chợ ăn uống, trước khi cùng nhau từ-giã.
Một năm một lần, trai gái dắt nhau tới phiên chợ để định-đoạt cuộc hôn-nhân của đời mình.
Ở chợ ra về, gái cũng như trai, lòng sung-sướng, mặt hớn-hở vừa đi vừa vui-vẻ chuyện-trò.
Cặp trai gái này, thành vợ thành chồng, cưới xin theo tục-lệ ở trong bản, trong thôn, sang năm sẽ có những cặp trai gái khác dắt nhau đi chợ cưới Tam-Lộng.
Chợ cưới xong, mùa xuân cũng sắp đến, một mùa xuân thật êm-ấm cho những lứa-đôi hẹn-hò.
Phiên chợ tàn, cuộc hôn-nhân của họ mới chỉ bắt đầu.
Phiên chợ cưới hàng năm vẫn có cho tới thời tiền-chiến, nhưng từ đó tới nay, ai còn biết chợ có họp nữa hay không ?
17) PHIÊN CHỢ LƯỢN
Nếu ở Tam-Lộng có phiên chợ cưới của đồng-bào Mán, thì tại các tỉnh Cao-Bằng, Lạng-Sơn, Bắc-Kạn có những phiên chợ Lượn để các nam nữ thanh-niên đồng-bào người Thổ cùng gặp gỡ hát Lượn với nhau. Hát Lượn là lối hát trao-tình yêu-đương của các đồng-bào người Thổ, bắt đầu cho những cuộc hôn-nhân về sau.
Khác phiên chợ cưới họp trong năm, các phiên chợ Lượn họp ngoài tháng Giêng. Hầu hết các chợ tại mấy tỉnh trên đều có những phiên chợ Lượn.
Dưới đây liệt-kê mấy phiên chợ mà nhiều người Kinh biết tới và thường rủ nhau đi chơi chợ cùng đồng-bào Thổ :
- Chợ Kỳ-Lừa bên kia sông Kỳ-Cùng, giáp tỉnh Lạng-Sơn họp vào ngày mồng 9 tháng Giêng.
- Chợ Đồng-Đăng họp vào ngày mồng 4 tháng Giêng.
- Chợ Đồng-Mỏ thuộc châu Ôn, Lạng-Sơn, họp vào ngày mồng 4 tháng Giêng.
- Chợ Nước-Hai, thuộc phủ Hòa-An, tỉnh Cao-Bằng họp vào ngày mồng 8 tháng Giêng.
- Chợ Phục-Hòa, thuộc phủ Trùng-Khánh, tỉnh Cao-Bằng họp vào ngày 15 tháng Giêng.
- Chợ Cánh-Linh, thuộc phủ Trung-Khánh, tỉnh Cao-Bằng họp vào ngày 16 tháng Giêng.
- Chợ Quảng-Nguyên, thuộc châu Quảng-Nguyên, tỉnh Cao-Bẳng họp vào ngày mồng 2 tháng 2.
- Và còn nhiều chợ khác nữa.
Ngày phiên chợ Lượn, trai gái các Lán, các Bản kéo nhau tới gặp-gỡ nhau để cùng hát những câu ân-ái. Nhiều đôi lứa nên duyên do những buổi hát Lượn này.
Những phiên chợ Lượn lại chính là những ngày hội Xuân của các địa-phương. Tuy gọi là phiên chợ, nhưng đã ai buôn-bán gì, họ còn đang nghĩ tới thưởng Xuân.
Chỉ ca lại hát, nam xướng nữ đối, suốt từ sáng tới chiều và trên đường về các Bản, họ vẫn tiếp-tục cùng nhau ca-hát những lời ái-ân cho tới khi ai về nhà nấy.
Ngoài hát Lượn là cái thú riêng của thanh-niên nam-nữ, còn có nhiều trò vui khác trong ngày phiên chợ như Ném Còn, đốt pháo, v.v…
18) TỤC CƯỚP VỢ
Đồng-bào người Mèo, thuộc châu Hoàng-su-Phì, tỉnh Hà-Giang có tục cướp vợ.
Người con trai thấy người con gái mình ưng-ý về nhà thưa với bố mẹ. Bố mẹ liền triệu-tập họ-hàng, tuyển lựa những trai-tráng khỏe-mạnh, đến nhà cô gái ăn cướp lấy cô mang về. Lẽ tất-nhiên trước khi tới cướp, nhà trai cũng đã báo cho nhà gái biết, nên việc ăn cướp thường chỉ xảy ra một cách tượng-trưng, trừ trường hợp nhà gái không thuận gả con cho nhà trai. Trong trường-hợp này nhà gái phải chống giữ, bằng để nhà trai cướp được, cô gái bó buộc phải làm vợ chàng trai.
Các chàng trai chỉ được cướp những gái chưa chồng. Rủi cướp phải gái có chồng rồi, chàng trai phải trả lại cho chồng người ta, nếu không khi tới quan, quan cũng bắt hoàn lại.
Cướp vợ như vậy cũng có khi gặp sự chống cự mãnh liệt, và đã nhiều đám, trước sự cương-quyết chống giữ của nhà gái, nhà trai đành chịu thối-lui.
Cướp được vợ rồi, chàng trai có toàn-quyền đối với vợ.
Tết đến, chàng trai phải dắt vợ về trình-diện với nhạc-gia. Ván đã đóng thuyền, nhạc-gia lúc đó phải mừng vì có thêm rể mới.
XXV KẾT-LUẬN
Phong-tục thay đổi từng địa-phương, có điều hay cũng có điều dở. Về hôn-lễ đồng bào Thượng, đành rằng tại một vài sắc dân có nhiều điều phiền-phức tốn-kém, nhưng nếu đem so với tục-lệ cưới xin của ta theo lục-lễ của Chu-Công và theo Thọ-Mai Gia-lễ, có lẽ sự phiền-phức cũng không phải là nhiều.
Lễ-nghĩa cốt để cho người ta tin mà theo. Gắn-bó với nhau phải tuân lễ-nghĩa, phải theo phong-tục. Biết đâu trong sự phiền-phức của tục-lệ lại chẳng có những điều hay.
T. A.
Nhật báo Cách-Mệnh Quốc-Gia
Số 1538,1539 và 1540 ngày 3,4,6
tháng 8-1963

