Khang Hy Đại Đế - TẬP 3 - Chương 41
41
Mục Tử Húc mưu trọ trong viện Tỳ Lư
Dương Khởi Long hành hung trên bờ Trường Giang
“Cuối cùng thì cũng tìm ra mi!” Mục Tử Húc vừa phấn khởi vừa căng thẳng, tim cứ đập thình thịch, vội vã nói, “Để xuống đi. Tôi sẽ trọ ở đây!”
Sử Giám Mai thấy Mục Tử Húc mặt mày trắng bệch, liền đặt bức tranh xuống, nói: “Không được, ở đây nguy hiểm quá!”
“Không sao, Hoàng thượng sai tôi tới đây làm gì?” Mục Tử Húc nói, “Tôi phải trọ ở đây, sau ba ngày giờ Tý nửa đêm, xin anh cả đưa binh tiếp ứng!”
“Vì sao phải ba ngày?”
“Tôi mãi chưa được nghỉ, rất mệt”. Mục Tử Húc nói, “Hơn nữa trong miếu có nhiều cao thủ, tôi phải tìm cơ hội...” Nói tới đây nghe có tiếng ủng đi sột soạt bên ngoài, một vị sư già mặc cà sa chậm rãi bước vào, chắp tay cúi đầu vái hỏi: “A di đà Phật, tăng già Giác Viên cúi xin vấn an, hai vị thí chủ vui khỏe bình an!” Mục Tử Húc vội đứng dậy chắp tay nói: “Tín dân Lý Nhật Thăng từ Trường Xuân Chuyên tới bái yết, dám xin phương trượng đại hòa thượng một cửa thuận lợi, cho phép chị em chúng tôi được bái kiến Phật sống Tính Minh!”.
Giác Viên nghiêng người ngồi xuống trước chiếc án giữa nhà, ngẫm nghĩ nói: “Vừa rồi Minh Huyền có bẩm qua, lệnh đường đại nhân lòng thành đáng kính! Thầy trò Tính Minh từ nhỏ quy y cửa Phật, thấu hiểu tam thừa diệu nghĩa và nỗi khổ vui chư vô sinh tướng, quay mặt vào tường tu tỉnh mười năm rũ sạch bụi trần trên gương sáng, đã ngộ chân để Phật lý, làm bài kệ định vào ngày 25 tháng 5 sang năm giờ Hợi ngồi hóa ở bản viện. Lúc đó không chỉ hai vị, phàm là thiện nam tín nữ đều có thể tới lễ bái, bây giờ mà quấy rầy thì không tiện, xin được lượng thứ!” Mục Tử Húc nghe nói ngày đó, tim nhảy thót lên, đó cũng là ngày Khang Hy dự định đến Kim Lăng thị sát! Không hiểu vì sao không khớp với điều Ngụy Đông Đình nói, bèn hỏi: “Lẽ nào không phải là ba ngày sau?”
“Cư sĩ sai rồi!” Giác Viên bỗng mở mắt, nói, “Ba ngày sau là học trò Tín Mẫn viên tịch”. Sử Giám Mai không tin, hòa thượng trong chùa người nào cũng đều sắc không tương thông, hiểu đạo sáng lòng, có thể biết trước ngày giờ sống chết của mình, rất muốn hỏi một câu “Thầy trò các ông người nào cũng đi tới thế giới cực lạc, nhưng sao ông cứ ở lỳ trên cõi đời không chịu lên niết bàn?” Liền mỉm cười nói: “Trưởng lão, như vậy thật không may, tôi còn phải theo ông chủ tới Dương Châu, thời gian dài như vậy, chị em chúng tôi đành phải ở lại chỗ ngài đây”. Nói xong, lấy ngân phiếu trong tay Mục Tử Húc, hai tay dâng lên, “Có một số tiền hương khói, xin trưởng lão nhận cho!” Giác Viên nhận tiền có vẻ không tự nguyện, hồi lâu mới nói: “...Thôi được, thì trọ ở viện Lan Nhược, cơm chay sẽ có người đưa tới, nhưng phải giữ nghiêm quy chế nhà chùa. Xin lỗi thí chủ!”
Mục Tử Húc được bố trí ở phòng tăng bên cạnh kho để tượng thần phía chái tây viện Lan Nhược, ăn cơm trưa xong liền đi ngủ. Từ khi vào Giang Nam, ông ngày đêm bôn ba, chỉ ngủ được mấy canh giờ trong phủ Ngụy, quả thật quá mệt, ngủ mãi tới chiều tối mới thức giấc. Bên ngoài trời đã sắp tối, Huyền Minh đưa cơm chiều vào, ông ăn qua loa mấy miếng, rồi nằm dựa vào gối suy nghĩ. Bên ngoài tiếng dế rên rỉ, lá cây rì rào, trống chiều từ xa vọng lại càng tăng thêm cảm giác u buồn ảm đạm. “Một người họ Minh, một người họ Mẫn...” Mục Tử Húc nghĩ, “Hà tất là hai người? Lại “viên tịch” như thế nào? Xem ra bọn giặc biết Chúa thượng tháng chín năm nay đến Giang Ninh, đã chuẩn bị trước một người, sau nghe nói đổi ngày đành phải bố trí một người nữa nhanh nhảu thật, đáng sợ thật... Viện chùa này thờ Chung Tam Lang, khẳng định là sào huyệt giặc Dương Khởi Long, tên lừa già đầu trọc dễ dàng cho ta trọ ở đây, không biết ta có lộ ra điều gì? Nó đâu chịu để cho ta dễ dàng thoát ra khỏi chùa? ...Đang suy nghĩ thì có tiếng lào xào trên cỏ, Mục Tử Húc mắt sáng lên, nghiêng người giả vờ ngủ, một tay để chỗ thắt lưng nắm chặt con dao găm Khang Hy ban cho.
“Ông khách, ngủ ngon nhé!” Người đi vào là Vu Nhất Sĩ, đi làm trò kiếm sống trở về, ném chiếc áo khoác vào góc phòng, hỏi Mục Tử Húc, “Ăn cơm chưa?” Mục Tử Húc nghiêng người ngồi dậy, dụi mắt nói: “Ông phải chăng là họ Vu ăn bánh rán? Quả là có bản lĩnh, có tay nghề sao ông lại trọ ở đây?” Vu Nhất Sĩ cười kéo cái đệm cỏ nằm xuống rồi nói: “Tôi là một người lang bạt giang hồ, trọ nhà hàng ư? Có một chỗ ngủ trong miếu chùa là thiên đường rồi”.
Tối hôm đó hai người đốt đèn lên, nằm trên sạp chuyện gẫu, hỏi nhau về lai lịch, quê hương, nói về tình người, phong tục, mãi đến nửa đêm mới ngủ. Liên tiếp ba ngày, Vu Nhất Sĩ đều sáng đi tối về, Mục Tử Húc ban ngày dâng hương dạo chơi khắp chùa, cũng không cảm thấy có gì khác thường. Chỉ trong nhà có thêm một người, Mục Tử Húc tối đó cũng không dám làm gì. Đến ngày thứ tư là ngày hành động, Mục Tử Húc ban ngày chuẩn bị đầy đủ tinh thần, thấy Vu Nhất Sĩ trở về, bèn nói là mình hơi mệt, nằm yên nghỉ trên giường. Nghe các nhà sư tụng kinh gõ mõ buổi tối xong rồi, Vu Nhất Sĩ ngáy to như sấm, đoán là anh ta ngủ say rồi, Mục Tử Húc lặng lẽ ngồi dậy buộc giày.
“Đi đâu đó?” Vu Nhất Sĩ đang ngáy bỗng tỉnh giấc.
“Đi giải”.
“Ở nơi núi hiểm chùa hoang này, một người buôn bán như ông nửa đêm đi ra ngoài không sợ sao?” Vu Nhất Sĩ ngồi dậy, “Vừa hay tôi cũng buồn giải, chúng ta cùng đi”.
Mục Tử Húc đành phải nói: “Vậy thì hay quá, tôi cũng hơi nhát gan!” Thế là hai người cùng đi ra, đái ở ngoài vạt cỏ. Trở vào, Mục Tử Húc nằm xuống, thấy Vu Nhất Sĩ đứng thù lù bất động bên giường liền hỏi: “Ông Vu, sao ông không ngủ?”
“Ông thực ra là người thế nào?” Vu Nhất Sĩ hỏi một cách lạnh lùng, vừa nói vừa áp sát Mục Tử Húc. Mục Tử Húc hoảng kinh, nhưng cười nói: “Ông làm sao vậy? Bị ma ám hả? Tôi buôn bán mà!” Vu Nhất Sĩ cười gằn, tiến thêm tới một bước: “Buôn bán? hay là đi ăn cướp giết người? Tôi đã hỏi thăm, phủ Dương Châu ở bến tàu Nam Kinh không có phố tiệm nhà ông! Nói! Người đàn bà kia là người thế nào, nhà ở đâu? Mà lại nhanh như thế, vừa ra khỏi cửa chùa đã mất tăm!
Mục Tử Húc nghe nói Giám Mai không có việc gì, trong lòng nhẹ nhõm, ông ngồi thẳng dậy, cười nói: “Ông Vu đừng đùa, nửa đêm khuya khoắt làm tôi hoảng kinh...” Vừa nói vừa lấy hết sức dùng thế chim ưng vồ mồi, hai chân nhảy lên dùng miếng liên hoàn đá thẳng vào giữa ngực Vu Nhất Sĩ. Vu Nhất Sĩ hoàn toàn không ngờ đối phương võ nghệ cao cường như vậy, bị đá văng ra mấy bước mới ghìm lại được. Hắn quay người phóng ra hai mũi phi tiêu, Mục Tử Húc quỳ sát xuống dùng thế “Tào Nga nhảy sông”, mũi dao đã cầm trong tay, giở miếng hạc trắng chao cánh. Qua mấy miếng thử sức, Mục Tử Húc thấy đối phương hơn mình một bậc, hơi hoảng lên, đang chưa biết cách nào thì Vu Nhất Sĩ đã vung tay, một sợi dây đen phóng tới, vì không biết là vật gì nên không dám lấy tay đỡ, ông lăn mấy vòng khó khăn lắm mới tránh khỏi, chưa đứng vững được thì sợi dây đen như có mắt đã quay trở lại! Mục Tử Húc cảm thấy đau ở cánh tay phải, mũi dao trong tay đã bay đi đâu mất, đang kinh ngạc thì cái giây đen trong tay Vu Nhất Sĩ đã vòng tới trói chặt cánh tay trái vào hông, tay phải vội gỡ ra mới biết là dây da bò ruột sắt, trong lúc cấp bách làm sao gỡ nổi?
Vu Nhất Sĩ thấy đối phương bị trói liền nhảy phóc tới, giật mạnh cái dây trói chặt thêm làm cho Mục Tử Húc cả tay chân đều không nhúc nhích được. Hắn bật lửa đốt đèn lên, cười gằn nói: “Tài nghệ ông không tồi, ta đi giang hồ bao nhiêu lâu, chỉ có một người mi tránh được sợi dây bàn long của ta ba chiêu, mi hãy nói xem, mi có phải là người buôn bán không?”
“Người buôn bán!” Mục Tử Húc gân cổ lên nói, “Đây là viện Tỳ Lư không phải là hắc điếm, mi không mở trói ta la lên đấy!”
“Cứ la lên đi!” Vu Nhất Sĩ cười nhăn nhở nói, “Mi có gào rách cổ họng cũng không có ai nghe đâu!”
“Cũng may cho ông! Sao không có người nghe?” Đạo nhân Thanh Phong đột nhiên mở cửa bước vào, lắc la lắc lư đi tới trước mặt Mục Tử Húc, lấy tay vuốt sợi dây đen, chặc lưỡi nói: “Cái đồ chơi này thật ít thấy, làm thế nào mà trói người như bó củi thế này...”. Lời chưa dứt, Vu Nhất Sĩ nhanh nhạy đã quất nhẹ một roi trói hai tay đạo sĩ lại.
Vu Nhất Sĩ cười hả hả: “Không ngờ mày cũng trúng cái mẹo của bố mày đây!” Đạo sĩ Thanh Phong như không hay biết, không hiểu dùng phép gì, ông co người lại, sợi dây rơi xuống đất, hai tay vung ra nói: “Ông Vu, ông còn có cái cách gì trói được Thanh Phong này? Ay cha cha! Mi là bà gió chăng?” Lúc này Mục Tử Húc đã nhìn rối mắt.
Vu Nhất Sĩ sợ điếng người, mặt trắng như tờ giấy, ngón tay run run chỉ vào Thanh Phong nói: “Ông... ông là người hay là ma quỷ?” Hắn thét lên một tiếng quay đầu chuồn thẳng.
“Quay lại!” Không biết bằng cách gì, Thanh Phong nhảy tới một bước nắm vai Vu Nhất Sĩ kéo lại, nhặt sợi dây dưới đất lên quấn quanh người Vu Nhất Sĩ, tên này đã bị điểm huyệt, không còn sức chống lại. Thanh Phong cười nói: “Thuật trói người này, đạo sĩ không tập luyện, phiền phức lắm. Chu Tử nói nên lấy cách của người để trị người tuy là có lý nhưng phiền phức lắm...” Vừa nói vừa trói chặt Vu Nhất Sĩ.
Mục Tử Húc ngơ ngác nhìn màn trò này, như trong giấc mơ, để cho Thanh Phong mở trói. Một hồi lâu mới nói: “Đạo trưởng, rốt cuộc ông là người thế nào? Vì sao đến cứu tôi?” Thanh Phong mở trói cho Mục Tử Húc, ông ngồi xuống giường gỗ, lơ đễnh trả lời: “Chắc là có duyên với ông đấy. Giàu bỏ vợ, sang bỏ bạn, ông không nhớ tôi là điều đương nhiên”. Mục Tử Húc nhìn chằm chằm Thanh Phong một hồi, đột nhiên đầu óc lóe sáng lên, nói lắp bắp: “Ông ông là... em Tư, chú Tư Hách? Chú Tư của tôi!” Mục Tử Húc bước tới ôm Thanh Phong khóc to...
Số là vào năm Thuận Trị, Mục Tử Húc, Võ Đơn, Tư Hách cùng ăn trộm ngựa ở ngoài gặp Ngụy Đông Đình, mới làm thị vệ cho Khang Hy. Để cứu Ngũ Thứ Hữu, Mục Tử Húc... bị vây khốn ở nhà Sơn Cô ải Bạch Vân, có để lộ tin tức cho Ngao Bái. Năm Khang Hy thứ 18, Ngao Bái bị bắt, việc đó vỡ lở, Tư Hách vốn được ban chết, nhưng được đạo sĩ Hồ Cung Sơn núi Chung Nam cứu đưa đi.
“Tư Hách đã chết từ lâu rồi, tôi là Thanh Phong”. Thanh Phong từ từ gỡ tay Mục Tử Húc ra. Ông tuy bình tĩnh, nhưng không thể không xúc động, “Đạo nhân sớm có ý tiêu diệt cái chùa giặc này, chỉ vì nó được quan phủ bảo hộ, thế cô lực mỏng chưa thể làm được như ý nguyện, đêm nay, tôi đưa anh đi quan sát kỹ lưỡng nhé!” Mục Tử Húc cũng đã bình tĩnh lại, nếu cứ nhận chú Tư Hách này, thì anh ta vẫn là khâm mệnh trọng phạm, chẳng những Ngụy Đông Đình mà cả Lang Thẩm cũng không tránh khỏi tội dung túng kẻ ác, chẳng có lợi cho ai cả. Ông bèn lau nước mắt nói: “Tôi cũng không muốn nhắc lại chuyện cũ, sau việc này sẽ lập cho chú một cái am! Ông Hồ ở đâu? Sao ông ta không đến?” Thanh Phong nói: “Ông ta có tuổi rồi, đã đóng cửa núi tịnh tu - xuỵt, có tiếng động!” Nói xong đá Vu Nhất Sĩ một cái điểm vào huyệt câm, hai người lẻn nhanh vào sau cửa. Nghe tiếng bước chân đi tới gần, “kẹt” một tiếng có ai đẩy cánh cửa, hòa thượng chốc đầu Minh Huyền thò đầu vào cười nói: “Ông Vu, việc xong rồi còn chần chừ cái gì! Hả, sao bị người ta trói” Lời nói chưa dứt, lưỡi dao Mục Tử Húc lóe lên, Minh Huyền chưa kịp kêu một tiếng đã ngã uỵch xuống đất. Mục Tử Húc bước qua vũng máu, một tay kéo Vu Nhất Sĩ dậy, quay đầu nói với Thanh Phong, “Tên này khai thác sẽ có ích nhưng để lại sợ có điều bất trắc, vậy làm thế nào?” Thanh Phong chắp tay nói: “Thiện tai, vô lượng thọ Phật! Sau kho Thần có cái giếng cạn, cho hắn chịu khó xuống đó”.
Hai người thu xếp xong việc hậu sự ở viện Lan Nhược, ngước đầu nhìn sao, ước đã tới giờ Hợi. Trong bóng tối, hai người gật đầu làm hiệu, nhún người nhảy qua bức tường cao đi vào Thiền Sơn, thấy bên trong từng từng lớp lớp lô nhô những hố gò, phòng ốc san sát, mịt mù đen tối, không tìm thấy đường đi. Mục Tử Húc trầm ngâm một lúc rồi nói: “Thế này không được, đi theo tôi!” Rồi nhảy lên tường đi tới lầu Diệu Hương Hoa Vũ mới nhảy xuống sân.
Trong viện im ắng, tịnh không có ánh đèn lửa nào trong các phòng ốc, Mục Tử Húc lách người bước vào trong, quay đầu nhìn lại, Thanh Phong cũng đã lách vào, đóng cửa lại. Mục Tử Húc lặng lẽ mò tới trước bàn hương án, kéo mở bức tranh giữa nhà, dùng hai tay khuân bức tượng Chung Tam Lang thì nó như mọc rễ. Thanh Phong nói nhỏ: “Anh yên tâm, không có người trú ở đây, cứ từ từ mò tìm cái chốt khóa thì di dộng được thôi”. Mục Tử Húc yên chí mò mẫm đủ chỗ, người đầy mồ hôi vẫn không tìm thấy gì, đang định bỏ đi, một tay vô tình mò tới cái sáo sau lưng tượng thần, bỗng nghe có tiếng két két, tượng Chung Tam Lang di chuyển về phía tây, một cái cửa phía vách sau mở ra không gây một tiếng động, bên trong đen thui thui giống như con đường đá giữa hai lớp vách, có lẽ thông tới Thiền Sơn, gió đâu thổi tới lạnh buốt.
Mục Tử Húc đi sát theo sau Thanh Phong, men theo bức tường hẹp, bước thấp bước cao, lò dò từng bước chừng khoảng nửa bữa cơm bỗng thấy phía trước đèn đuốc sáng trưng, nhanh bước tới nhìn, cuối bức tường hẹp có một căn phòng nhỏ xây bằng đá, nhìn qua cửa sổ thấy bên trong đầy đủ sạp, ghế, tủ đều rất tinh xảo, Giác Viên đang ngồi uống trà nói chuyện với một người trung niên.
“Sơn trưởng”, người trung niên nói, “ngài không nên để cho một nam một nữ đến lầu Diệu Hương Hoa Vũ của ngài. Bây giờ tên nam tuy chết rồi nhưng người nữ thì không tìm ra tung tích, việc này đáng ngờ mà cũng đáng sợ!” Giác Viên cười nói: “Tên Minh Huyền không biết điều, không biết cách ứng phó. Ta thì đi thăm Tính Minh, hắn không biết cách nào mới dẫn họ lên lầu. Tên nam chết rồi thì tên nữ kia có tài cán gì? Yên tâm đi! Ta từ lúc bỏ đông chính giáo quy y theo Phật, nhờ được Dương tiên sinh ông chăm sóc ở đây đã mười năm, có ai đã biết được bộ mặt thật của quả núi này?”
Dương tiên sinh! Mục Tử Húc thất kinh, “Đây là Dương Khởi Long, Chu Tam Thái tử giả đây sao?” Hồi năm Khang Hy thứ 12, theo vua ban đêm đến chùa Thanh Tự phố bò ông đã gặp tên “Tam Thái tử” này một lần, một thư sinh trẻ phong lưu hào phóng, nho nhã tuấn tú là vậy, mới mười năm đã trở thành một ông già gầy đét như vậy sao? Đang ngẫm nghĩ thì đã nghe Dương Khởi Long cười gằn nói: “Ông quả là khẩu khí, nếu không có Cát Chế đài thì cỏ trên ngọn núi này đã bị người ta đạp bằng rồi, còn nói cái gì nữa!” Giác Viên bác lại: “Ta thật không hiểu anh mất bao công sức ở đây để làm gì, chẳng phải anh còn mấy chục cái hắc điếm, còn bốn năm trăm người của Lưu Thiết Thành hồ Hồng Trạch sao! Đây quả thật là kiểu ôm cây đợi thỏ. Hơn nữa, trong chùa, giết hết người này đến người khác, người ngoài thấy viên tịch nhiều như vậy chẳng nghi ngờ sao?”
“Dân đen bá tánh thì biết cái gì? Bọn họ đâu có nghi ngờ”. Dương Khởi Long mồm ngậm một cái lá trà nói, “Tri phủ Nam Kinh bị cách chức, Trương Bá Niên, điều đi rồi; ông sợ cái gì? Ông chủ quả có sáng suốt hơn người, nhưng có chỗ yếu: hiếu kỳ, thích mặc thường phục ra ngoài vi hành. Ở đây tôi đã trượt ngã qua tay hắn, nên muốn hắn trượt ngã ở đây - Ở nơi khác thì tôi đã có cách sắp xếp khác, ông chỉ cần nghe lời tôi là được!”
“Ta thật tình phục anh cái tính khí nước chảy đá mòn đó!” Giác Viên than thở, “Chẳng lẽ sự việc thành công, còn có thể đến phiên các hạ ngồi điện rồng? Chẳng qua là giúp người làm áo cưới thôi!”
“Điều đó tôi biết. Tôi hận, nên tôi chỉ cần rửa hận!” Dương Khởi Long đứng lên, đôi mắt phát ra ánh sáng xanh tối, “Các di lão trên núi chỉ biết làm văn chương, nhưng bây giờ hết người này đến người khác đi nịnh hót đương kim Hoàng thượng, tôi phải làm nhục họ, làm cho họ biết tấm lòng của cô thần nghiệt tử nhà Đại Minh không thể gắn bó với bọn Tác ta người Mãn!” Nói xong, ánh mắt xoay chuyển, nói: “Đến giờ rồi, chúng ta đi thôi. Tôi nhớ là đêm nay đến lượt nhân bánh bao số 14?” Nói xong hai người đẩy cánh cửa nhỏ phía tây đi ra. Mục Tử Húc và Thanh Phong đưa mắt ra hiệu với nhau, nhảy vào cửa sổ, qua căn phòng xây đá đuổi theo từ phía sau.
Vừa mới từ bức tường hẹp bước ra đã thấy phía ngoài Thiền Sơn gió rét trời lạnh, tre trúc xào xạc, lá phong rì rào, phía dưới chân núi, sóng Dương Tử gầm gào âm u đáng sợ, làm người sởn tóc gáy. Hai người Dương Khởi Long cầm đèn quả dưa lắc lay lúc mờ lúc tỏ, đi về phía chân núi, vừa đi vừa trò chuyện không hay biết có hai người võ nghệ cao cường đi theo sau. Mục Tử Húc trong bụng nghi ngờ mải suy đoán “nhân bánh bao” là cái gì.
Một lát sau, Dương Khởi Long và Giác Viên đã tới trước một nhà tăng tối thui, trong nhà chỉ leo lắt mấy ngọn đèn gió sừng dê tối om. Một sa di thấy hai người tới vội ra đón, chắp tay nói: “Đệ tử Tính Không nghênh hầu Ông chủ, đại hòa thượng!”
“Chuẩn bị xong rồi chứ?” Giác Viên hỏi. “Thầy Trí Thông số.14 đã khởi giá!”
“Ở chỗ cũ chứ?”
“Nước sông triều xuống, đệm hương bồ viên tịch dời tới trước bảy thước”.
Giác Viên nghe nói quay đầu lại, giơ tay mời: “Ông chủ Dương, xin mời!” Dương Khởi Long không đáp, chỉ gật đầu rồi đi về phía bờ sông.
Mục Tử Húc bỗng cảm thấy tràn ngập một nỗi sợ hãi ghê gớm, trời lạnh như vậy mà mồ hôi cứ vã ra, cổ họng như vừa ướt vừa ngứa, trong lúc tâm thần đang bấn loạn, Thanh Phong đập vào vai anh nói giọng u ám: “Đi theo xem thử bọn chúng giết người như thế nào”.
Đã tới nơi viên tịch. Trên bãi cát bờ Trường Giang chất một đống củi khô cao bằng một gian nhà, trên nhỏ dưới to xếp rất ngay ngắn. Một cái giá gỗ dựng trên chỗ nước cạn sát bờ, cách không xa phía bờ sông có một tấm ván dày to bằng hai cánh cửa. Giữa tấm ván là một cái dao răng cưa mài rất sắc để ngửa bề lưỡi hướng lên, dưới ánh mấy ngọn đèn sừng dê tối om phát ra ánh sáng lạnh ngắt, chỗ gần cán dao có một cái lỗ to bằng cái chén trà để đựng máu. Dương Khởi Long dù đã mấy lần chứng kiến thảm kịch này, lúc này cũng bất giác ớn lạnh.
Trí Thông bị trói, béo trắng như cục bột, không còn chút sắc máu. Từ lúc vào miếu làm nhân bánh bao đã bắt uống nước thuốc, hắn chắp tay ngồi bệt xuống cát không động đậy, trừ đôi mắt có lúc động đậy ra, hoàn toàn hắn không giống một con người sống. Thanh Phong biết trong đám ác tăng này có nhiều tay võ nghệ cao cường nên không dám tiến lại gần, chỉ đứng xa nhìn không thấy rõ lắm, chỉ nghe tiếng Giác Viên kêu lên nho nhỏ:
“Trí Thông...”
Trí Thông đôi môi mấp máy, nhưng không nói ra lời nào.
“Ngươi vốn là người đợi chết trong lao tù, thí độ ba năm đã thành chánh quả, bỏ cửa địa ngục, lên thế giới cực lạc, ngươi đã đổi thay”. Giác Viên nói nhỏ, “Từ nay về sau, ngươi không còn lạc thú ăn uống, cũng không còn nỗi khổ ngồi thiền khô héo, không còn biết thân mình tai mắt mũi lưỡi, cũng không còn vui buồn hờn giận ghét yêu. Muôn mối tơ duyên đều không, nhập vào cảnh đại La Hán. Hôm nay sư phụ tiễn ngươi, tháp xá lợi ngươi ngồi cho vững!” Nói xong, phẩy tay một cái, bốn tên sa di béo tròn lực lưỡng rất thành thạo giơ dao lên cao vút qua người Trí Thông, mũi dao qua chọn thẳng vào hậu môn, ấn mạnh cái... rất đơn giản, Mục Tử Húc và Thanh Phong còn chưa hiểu rõ là chuyện gì, thì Trí Thông đã “viên tịch” máu từ chỗ trống trên tấm ván chảy xuống ròng ròng hòa vào dòng nước sông chảy mãi không ngừng.
“A di đà Phật!” Dương Khởi Long và Giác Viên chắp tay niệm Phật, “Tịch diệt thế giới chư vô sinh tướng, xá lợi tử, vu Trí Thông xá thân cầu pháp, thì siêu thoát biển khổ, không có địa ngục chư tướng, xá lợi tử cầu pháp không tiếc thân ta. Đời ta mà không xuống địa ngục, thì ai xuống địa ngục?” Mấy mươi vị hòa thượng có mặt đều lên tiếng niệm Phật.

