Khang Hy Đại Đế - TẬP 3 - Chương 23

23

Tài lạ nhận tiền bất nghĩa

Học trò giỏi tìm kế đánh chuông gỗ

Từ Càn Học và Dư Quốc Trụ như bị sét đánh chết đứng giữa trời, mặt xám như tro. Mà hồi lâu, Từ Càn Học mới nói: “Việc này can hệ gì đến các quan ở kinh sư? Chẳng phải là Cát Lễ dựa thanh thế tể tướng Sách, khích bác Tuần vũ Giang Nam đứng ra làm! Cũng thật quá đáng, lẽ nào bọn họ kiếm được ít sao?” Minh Châu tất nhiên biết là có Sách Ngạch Đồ đứng sau đỡ lưng, Cát Lễ mới dám sai người làm cái trò đó. Ông nghĩ sự tình đã đến bước này, Từ Càn Học còn muốn phủi tay, lại còn đòi đứng ra tranh cãi với Sách Ngạch Đồ, giận đến nỗi gân ống chân vặn co rút từng hồi. Tức giận cũng chỉ là tức giận. Việc ở trường Nam, cuối cùng Minh Châu cũng đã thọc tay vào, ba tên đầu tiên là làm theo ý ngầm của ông ta, thư tay lại rơi vào tay Từ Càn Học, hễ vỡ lở ra, tội chém đầu, thì ông là người đầu tiên. Trong lúc cùng đi chung một chiếc thuyền không thể nã pháo vào trong quân mình. Nghĩ vậy, Minh Châu thở dài nói: “Thánh thượng quyết ý làm sáng tỏ vụ án này, chạy trời không khỏi nắng, càng kêu van càng không được, cầu xin Sách Ngạch Đồ thì càng là bảo cọp cho lột da! Cũng may Quốc Trụ với Cát Lễ là bạn thân với nhau, còn có thể nắm lấy Cát Lễ, đưa thật nhiều ra xin ông ta chiếu cố, không kéo hai vị vào. Những người khác thì không lo nổi rồi”.

Nói tới đây, lòng Minh Châu bỗng ớn lạnh. Ông đột nhiên ý thức rằng, sau khi Sách Ngạch Đồ trở lại chức vụ, Khang Hy đối với mình không còn mặn mà tri kỷ như trước nữa, việc lớn như thế này trước kia vẫn phải bàn bạc với mình trước. Nghĩ như vậy lòng càng rối bời, ông điếng người ngồi lặng thinh. Dư Quốc Trụ và Từ Càn Học đến lúc đó mới thật hiểu ra sự việc nghiêm trọng, bỗng sốt ruột như kiến bò chảo nóng, cầu xin Minh Châu: “Xin Trung đường tìm cách cứu chúng tôi!” Minh Châu lắc đầu gượng cười, nói: “Án này mà xử thì ta buộc phải tránh xa ra. Cầu xin ta chỉ bằng cầu xin cái tên thư sinh ăn mày thối đó!” Ông lóe ra một ý, bỗng nghĩ tới Cao Sĩ Kỳ, “Đúng! Các ngươi tức khắc đi gặp Cao Sĩ Kỳ, bỏ ra hai vạn bạc đi mua chuộc con khỉ lông dày đó, trước mặt Hoàng thượng, ông ta nói có tác dụng!”

Dư Quốc Trụ phẩm trật cao hơn Cao Sĩ Kỳ hai bậc, cầu xin hắn đã cảm thấy oan ức, lại còn phải hối lộ, mất mặt lắm, nên lẩm bẩm: “Ăn gì mà dữ thế, đến hai vạn bạc!” Từ Càn Học là đại học sĩ, càng cảm thấy hai chân cao quý, cũng không muốn đi, chỉ lặng thinh, mặt đỏ gay.

“Các ngươi vất quách đi cái sĩ diện hão!” Minh Châu cười nhạt nói, “Vào phòng dâng thư thì đã là tể tướng đương triều, chỉ sợ tiền mặt anh ta không nhận! Phải đem tiền mua đồ cổ, mua thêm bức tranh chữ son nổi! Chỉ cần con khỉ lông dày đó nói cho mấy câu, thì mọi sự đều tốt lành!” Nói xong liền gọi: “Hoàng Minh Ấn, Hoàng Minh Ấn!”

“Có nô tài!” Hoàng Minh Ấn dón gót nhẹ nhàng bước vào, cười nói: “Tể tướng...”

Minh Châu trở lại bình tĩnh, nói lạnh lùng: “Tuồng hát này không cần diễn trong phủ ta, đưa tới phủ tể tướng Cao, ngày 16 tháng 10 là ngày đại hỷ mừng tân hôn của ông ta, cần tới nó. Cứ nói là ta nói, là bản tuồng cực hay, ban hát cực hay, không biết chừng Hoàng thượng có khi cũng thích thú cũng nên. Còn nữa, bức Tranh chim ưng thời Vi Tông và cặp lò Tuyên Đức Hạ Khí Thông tặng, cùng đưa sang một thể, nói là cung chúc Cao trung đường vui kết lương duyên. Nghe rõ cả chưa?”

“Dạ? Rõ rồi, vâng ạ!”

Cao Sĩ Kỳ ngồi trong phủ bỗng dưng nhận được món đồ cổ của ba người trị giá bốn vạn bạc, bên ngoài làm một sàn diễn hát tuồng anh cũng “cười nhận”, viết bậy bạ mấy trang chữ cho Từ, Dư, lại vẽ một tờ tranh tặng Minh Châu, tuy không nói ra cũng biết phen này phải giải khó cho Minh Châu rồi.

Đúng như Minh Châu đã nói, Cao Sĩ Kỳ trước nay không nhận bạc. Những vật như nghiên Thụy, mực cổ, giấy Tống, ngói Hán, đồ hoa đồng tráng men, đồ sứ lò Quân... vừa nhã, vừa không bị mang tiếng nhận hối lộ, quả là cao tay hơn nhận bạc nhiều. Anh ta không phải không sợ mất đầu, từ trong sự do dự của Khang Hy, anh biết Khang Hy chỉ muốn rung cây dọa khỉ thôi. Hiện nay Khang Hy dốc một lòng dùng binh dẹp loạn, không thể mặc nhiên không nghĩ tới đại cuộc mà đi giết hại đại thần.

Nhận xong lễ vật, Cao Sĩ Kỳ ngồi nhà viết viết vẽ vẽ, suy nghĩ hai ngày, đã có chủ định, nhân ngày thành hôn của mình làm việc này. Hôm đó Khang Hy có nói sẽ đến làm “chủ hôn”, nhưng lời nói quý nhân nói xong là quên liền, Cao Sĩ Kỳ sợ vua không đến, nghĩ tới nghĩ lui, nghĩ tới Tô Ma Lạt Cô.

Để tiện cho Tô Ma Lạt Cô giải sầu, Khang Hy nghe theo “cách điều trị” của Cao Sĩ Kỳ, truyền xây cho nàng một tòa biệt thự trong vườn Sướng xuân. Cao Sĩ Kỳ liền gọi kiệu đi liền. Biệt thự xây dưới núi đầu bò giữa vườn. Cao Sĩ Kỳ trình thẻ vào vườn cấm, đi quanh co liên tục, chỉ thấy dưới núi đầy những hàng cây bồ đề, cây bách cối đằng la, xanh um rậm rạp, hạt bách treo sương, trái tùng đầy đất, vừa thanh tịnh lại vừa không u uất như trong viện Phật ở cung Chung Túy. Cao Sĩ Kỳ bước chậm rãi, từ xa đã thấy Tô Ma Lạt Cô đang đánh cờ với một người đàn bà, mấy ni cô vây quanh xem. Do anh thường lui tới nên nhận ra người đàn bà kia là Khổng Tứ Trinh. Khổng Tứ Trinh thấy từ xa Cao Sĩ Kỳ đi vào bưng một chồng giấy lớn, bà mỉm cười nói: “Cao lang trung đến rồi! Lại định quấy rầy không để nơi Phật đường này được yên tĩnh rồi! Lần trước tôi bị sốt, cảm ơn ông cho thuốc!”

“Tứ Cách cách nói đùa rồi, chuyện vặt đó có gì đáng nói!” Cao Sĩ Kỳ vừa cười trả lời Khổng Tứ Trinh, vừa nhìn khí sắc Tô Ma Lạt Cô, nói: “Bệnh của đại sư, tôi xem chẳng can chút gì. Thanh tịnh vắng vẻ, dưỡng đức tu thân, đó là ý nghĩa tinh túy của nhà Phật. Với khí chất bẩm sinh của đại sư thì bệnh gì cũng phải khỏi, không giống những người tục chúng tôi, cứ phải mài giũa một đời vẫn không thành chánh quả!” Khổng Tứ Trinh nghe bỗng bật cười, bà nói: “Làm quan to như vậy, lại còn tới chỗ này nịnh hót, chúng ta không có chức tước thưởng cho anh!”

Tô Ma Lạt Cô đã quen thân với Cao Sĩ Kỳ, tuy cảm thấy người này hơi ranh mãnh, nhưng tài học trời sinh thì không chê vào đâu được, mà lại rất hay nói, hễ nói ra là thao thao bất tuyệt, có một chút nho nhã tinh tế, nên rất có tình cảm với anh. Nghe Cao Sĩ Kỳ tán tụng, mặt bà nở một nụ cười, đưa tay mời: “Cao cư sĩ, xin mời ngồi trên ghế bên kia, Nhân Vân dâng trà!”

Một ni cô nhỏ bưng trà ra, Cao Sĩ Kỳ nhận trà ngồi xuống, anh cười nói: “Trà ngon! Cảm ơn đại sư cho uống trà!” Tô Ma Lạt Cô hỏi: “Ngọn gió nào đưa con người bận tối tăm mặt mũi như ngài đến đây? Cuộn giấy to anh cặp trong người là vật gì vậy?”

“Học sinh tới dâng ít tài mọn” Cao Sĩ Kỳ nói hơi hổ thẹn, “Lần trước đại sư nói chữ tôi viết, trở về bận quá quên mất. Hôm trước uống rượu tại nhà Võ Đơn, Tử Húc xin tôi viết chữ mới nhớ tới. Nhân có men rượu vẽ bừa ra, chỉ sợ không hợp mắt Phật của đại sư”. Khổng Tứ Trinh đã nghe Cao Sĩ Kỳ có thư pháp đẹp liền đứng dậy cầm cuộn giấy trải ra trên bàn xem. Tô Ma Lạt Cô nhìn thấy bỗng chấn động toàn thân.

Tranh chữ gồm ba tờ. Một bức tranh trung đường, phi tùng phi trúc phi mai, cũng không phải loại thú lạ chim quý như kỳ lân hươu hạc, chỉ có một mảnh trăng giữa trời, có những vòng sáng cạnh trăng, phía dưới một cái ao trong veo, bồng bềnh một cọng lục bình, kèm theo một bông sen cao ngạo đứng một mình, một con ong bên cánh hoa đập cánh muốn bay. Một câu đối càng tỏ rõ tinh thần:

Ráng là hồn phách của mây

Ong là tinh thần của hoa.

Tô Ma Lạt Cô xem, không khen hay mà cũng không chê dở, bà đã như mê như mẩn. Lúc đó như trăm mối đổ về, tinh thần đi đâu mất, thân hình không biết ở đâu, tâm ở chỗ nào. Cao Sĩ Kỳ sợ thót tim, sợ nịnh bợ không đúng chỗ.

Câu đối này vốn có nguồn gốc. Mười bốn năm trước, Ngũ Thứ Hữu cũng đã huơ bút viết câu đối này trước mặt mọi người để tặng bà.

“Viết không đẹp, không bằng Ngũ tiên sinh!” Cao Sĩ Kỳ cười nói, “Nhưng theo Cao tôi từ trong lòng suy ra, căn bệnh của đại sư quả thực từ đây mà ra. Thường treo giữa nhà so với việc khư khư giữ trong tim có lợi cho sức khỏe hơn nhiều”.

Tô Ma Lạt Cô điếng người. Bà tỉnh ra, cảm thấy câu nói của Cao Sĩ Kỳ chẳng phải là không có lý, hai tay giơ giấy ra mỉm cười nói: “Nét bút này ai dám nói không đẹp? Có điều ta không có gì trả lại cho ngươi khoản nợ nhân tình này. Không giống như bọn quan lại bẩn thỉu chẳng biết xấu hổ, chẳng cần biết tròn hay méo, chỉ cần nhét đầy cho các đại thần phòng dâng thư các anh. Thời cuộc hiện nay khác xa so với trước, quả thật đáng than phiền. Ta hẵng nhận đây, người xuất gia không còn duyên nợ, anh cũng đừng hy vọng ta giúp cho anh được việc gì!”

Bỗng chốc bà ta tinh thần rạng rỡ, những lời nói sắc bén cay nghiệt làm Cao Sĩ Kỳ kinh ngạc, có ai nghĩ rằng vị bồ tát bằng đá ít lời, lạnh lùng này lại chua cay như vậy! Anh đâu có biết nàng Tô trước năm Khang Hy thứ 9 vốn là một người như vậy. Anh ngơ ngác vội cười nói: “Đâu có đâu có! Tôi chưa hề nhận tiền người ta, càng không có việc gì cầu xin đại sư. Đại sư nhận tranh chữ là vinh dự cho tôi lắm, Cao tôi đã có vốn để khoe khoang với bạn bè rồi. Ôi, chút nữa thì quên, kinh sư mới đến mấy ban hát, có tuồng hát hay, nghe nói Hổ Thần đại nhân rất tán thưởng. Tiện nội chỉ mấy ngày nữa là về nhà chồng, thành tâm muốn mời đại sư đến dự cho vui, không biết đại sư có nghĩ tình hạ cố? Nếu Tứ Cách cách cũng chiếu cố, Hoàng thượng không biết chừng cũng tới, đó tức là tổ nhà họ Cao có đức, cũng không uổng cho Phương Lan tấm lòng kính phụng!” Tô Ma Lạt Cô vẫn còn xem tranh, mở miệng nói: “Ta trước nay không xem tuồng hát, Hoàng thượng bảo ta tới gác Sướng âm xem hát, ta còn không muốn đi! Chẳng qua chỉ là Phi Yến, Ngọc Hoàn, Tử Thoa, Mẫu Đơn, nếu không thì cũng là Phong thần, Tây du, Bao Long Đồ đêm xử cõi âm, thì có gì hứng thú? Chắc chắn là anh không mời được Hoàng thượng, nên tranh chữ mà nện chuông gỗ chứ gì?” Khổng Tứ Trinh buồn chán trong cung, muốn đi ra ngoài xem xem, bèn cười nói: “Huệ Chân đại sư may mà ‘không còn duyên nợ’, tâm tư của một người tinh xảo đặc sắc như vậy thì một đời cũng khó mà thành Phật! Nếu chị đi thì tôi cũng xin đi cùng, bao nhiêu năm không thấy chị tươi cười như thế!”

Cao Sĩ Kỳ hấp háy mắt, một hồi lâu mới cười thất thanh, nói: “Đại sư, nếu bà là đàn ông, lại không đi tu, thì những người như Sĩ Kỳ tôi phải cuốn gói về nhà học thêm mười năm nữa! Đại sư nói đúng lắm! Tôi đúng là có ý đó, nhưng với tài mọn của Sĩ Kỳ này thì làm sao vời được Hoàng thượng! Tuồng hát này không phải kịch bản bình thường. Hổ Thần nói trong thư, ngay cả Ngũ tiên sinh hồi đó đọc bản thảo đã thích thú huơ tay múa chân!” Anh khôn khéo lôi ra vị tôn thần Ngũ Thứ Hữu này.

“Tuồng gì?” Quả nhiên Tô Ma Lạt Cô động lòng.

Đào hoa phiến! Mắt Cao Sĩ Kỳ sáng lên, lấy hết tinh thần nói, “Đây là thủ bút đắc ý của Khổng Thượng Nhiệm, tài tử Sơn Đông viết ròng rã hai mươi năm! Nói lên một thời hưng vong của nhà Minh trước, chuyện vui buồn tan hợp của Hầu Triều Tông và Hương Quân. Trong đó, thơ, từ, phú, nhạc, cách điệu tình ý đều cực hay! Tôi mời Hoàng thượng cũng không hoàn toàn như vậy, một là Hoàng thượng vốn cũng đã nhận lời mời rồi, hai là phong thái tuồng hát rất đứng đắn, tuy nói thánh học uyên bác, dù bộn bề công việc, lúc rảnh xem một chút loại tuồng có tình, có hứng, có việc, có răn cũng không phải là vô ích!”

Tô Ma Lạt Cô nghe anh ta ba hoa chích chòe, nghĩ lại trước nay anh ta chữa bệnh rất tận tình và thực sự có lòng tốt, không nên làm anh ta mất mặt bèn nói: “Anh cứ trở về đợi tin. Tứ Cách cách là con gái nuôi của lão Phật bà, nếu đi ta sẽ cùng đi với chị ấy. Mời được là vận may của anh, mời không được cũng đừng than trách”.

Cao Sĩ Kỳ tốn công thuyết phục cả buổi, phải vòng vo bao nhiêu mới được một lời như vậy, sợ bà ta trở quẻ, vội vàng vâng dạ rồi trở về phủ.

Quả nhiên chuông vàng vừa gõ, tiếng vang to lạ thường. Tiếng tăm hai bà đó lớn đến mức làm người ta líu lưỡi. Ngày hôm sau cuối giờ Thìn bãi triều, Hà Quế Trụ truyền ý chỉ, lệnh cho phòng dâng thư nghỉ vào ngày 26, lão Phật bà sẽ cùng Hoàng thượng, Thái tử, Quý phi họ Nữu Cô Lục, Huệ phi họ La Lạp, Vinh phi họ Mã Gia, Đức phi họ Ô Nhã, Nghi phi họ Quách Lạc La, Lương phi họ Vệ và Hoàng tử Dận Thị, Dận Chỉ, Dận Chân, Dân Tộ đến xem hát, bảo Cao Sĩ Kỳ chuẩn bị tốt phòng vệ. Hà Quế Trụ còn mang tới hai mươi lượng vàng và ba mươi xấp lụa Thái hoàng Thái hậu ban thưởng Phương Lan.

Cao Sĩ Kỳ vừa nghe đã biết, đó là các phi tần vú nuôi Hoàng tử và các A Ca ba tuổi trở lên đều đưa tới tất. Phòng dâng thư nghỉ việc, nhất định là theo ý của Khổng Tứ Trinh và Tô Ma Lạt Cô. Thái hoàng Thái hậu đã tới thì không sợ Hoàng thượng không tới, Hoàng thượng mà tới thì Sách Ngạch Đồ, Minh Châu, Hùng Tứ Lý, Thang Bân, Lý Quang Địa và các biên tu Hàn lâm viện tất phải đến góp vui. Danh giá to lớn thế này, thanh thế phô trương như thế này, cả triều văn võ bá quan có ai làm nổi? Cao Sĩ Kỳ càng nghĩ càng thấy diệu kỳ. Anh liền bảo già Quan lập tức lấy hai ngàn lượng bạc thưởng cho kẻ hầu người hạ trong nhà.

Trên dưới hơn trăm người phủ Cao được bạc, ai cũng vui mừng phấn khởi, chạy lăng xăng như đèn kéo quân bận rộn suốt buổi tối, mà chẳng ai tỏ ra mệt nhọc đã làm cho cả phủ hầu như thay đổi hẳn: sảnh chính làm nơi nghỉ ngơi cho Thái hoàng Thái hậu và cung quyến, phía trước che bằng một bức màn the; chính giữa sảnh trước đặt sập nằm cho Khang Hy; phòng hông hai bên cũng đặt ghế ngồi cho các đại thần quan trọng cơ mật. Bức tường cửa thứ hai san bằng, làm cho sân trước sân sau thành một khoảnh đất trống, phía đông dùng tre cất một sàn diễn giống như đài tiên gác quỳnh sừng sững giữa sân. Trước sàn diễn trên khoảng đất trống đặt nhiều ghế thấp để vừa xem hát vừa uống trà. Các món điểm tâm cung đình, trà, rượu, thực nhắm, bút mực, nghiên, giấy đều chuẩn bị sẵn, ngay cả chỗ vệ sinh cho phụ nữ cũng nghĩ chu đáo vừa không xa quá, lại không được có mùi.

Hôm sau ngày 26, Cao Sĩ Kỳ vội vã làm nhiệm vụ chú rể. Khang Hy theo lệnh Thái hoàng Thái hậu đến phủ Cao chúc mừng. Các bộ viện cũng đến chúc mừng vô cùng náo nhiệt.

Sau một hồi trống, người đầu trò ra cảm tạ hoàng ân. Trước hết diễn trò mào đầu có tên Hà manh quan, vai Quan Vũ diễn màn “dưới đèn xem truyện Xuân thu” vừa xuống, tiếng Thái hoàng Thái hậu sau bức màn truyền chỉ gọi Khang Hy: “Màn kịch này hay, thưởng cho cái gì đi!”

Khang Hy đang mê mải xem, từ khi vào quan trung gây dựng cơ đồ đến nay, thánh văn đã sớm xác định là Khổng Tử. Nhưng tiêu chuẩn xác định, thánh võ đã bàn mấy lần vẫn chưa có kết quả. Bộ Lễ đề ra ba vị: Ngũ Tử Tư, Nhạc Phi và Quan Vũ. Do chiến tranh chưa dứt, Khang Hy chưa quyết đoán, đã gác lại đó. Bây giờ thấy Quan Vũ trong tuồng hát vững vàng uy vũ, đứng dưới ánh đèn vuốt râu đọc sử, Châu Thương cầm đao thanh long yển nguyệt, oai phong lẫm liệt đứng một bên, phong cách đại tướng trung nghĩa khí khái quả thật làm người ta vui lòng đẹp mắt. Khang Hy bừng tỉnh lại, vội bảo Lý Đức Toàn: “Lấy thưởng cho hắn một nắm hạt hướng dương vàng!” Rồi quay mặt xuống dưới nói với một số quan văn: “Theo tuồng hát vừa diễn, lấy đề tài Quan Vũ, các khanh mỗi người làm một câu đối cho Trẫm xem”.

Bọn Cao Sĩ Kỳ tuân chỉ lui ra ngoài, thấy Tra Thận Hành cũng ở đó, lâu ngày không gặp vội đi tới vái chào định nói mấy câu vui vẻ. Tra Thận Hành cầm bút cười ha hả nói: “Anh Đàm Nhân người hiền tướng tốt, muôn sự thỏa lòng, mà quên mất cố nhân với tình hương khói?”, “Đừng tán dóc, làm sao dám quên công đức ông anh tiến cử?” Cao Sĩ Kỳ cầm bút trải giấy ra cười nói: “Tâm tư anh tôi biết, hôm nay không diễn vở Trường sinh điện do anh chọn, nên tủi thân phải không?”

“Đâu phải!” Tra Thận Hành cười nói: “Trường sinh điện của Hồng Phưởng Tư kết cục quá đau buồn. Tôi can gì phải để cho chủ không vui? Tối nay viết câu đối, thì đừng tranh luận với tôi, cẩn thận kẻo hay quá đấy!” Cao Sĩ Kỳ đang viết nghe Tra Thận Hành nói vậy, liền xóa ngay, nói: “Được, anh nói, tôi ghi, chúng ta không thèm làm bảng nhãn, thám hoa. Nhanh lên chút nào, các vị hàn lâm bên kia có người đã nộp quyển rồi, trễ một chút nữa thì làm sao xứng là ‘khói sóng buông câu Tra hàn lâm’?”

Viết xong hai người đi tới trước mặt Khang Hy, màn tuồng giáo đầu đã hát xong, “Quan Vũ” dắt “Châu Thương” quỳ trên sàn nhìn lên khấu đầu tạ ơn được thưởng. Khang Hy thấy hai người đi tới, cười nói: “Cây bút lớn đến rồi! Trẫm đang đợi xem các khanh!” Cao Sĩ Kỳ vội nói: “Nô tài mừng quá không nghĩ văn vẻ được, nên Tra Thận Hành có văn, thần có chữ”. Khang Hy cười nói: “Được, muốn đứng đầu bảng chăng?” Nói xong mở ra đọc thấy:

Mặc áo xanh, đối đèn xanh, đọc sách sử xanh, cầm đao thanh long yển nguyệt lục hợp đầy chí nghĩa trung.

Sinh mặt đỏ, tấm lòng đỏ, liếc mắt phượng đỏ, cưỡi ngựa xích thố truy phong thiên cổ rõ trang dũng tướng.

Khang Hy bất giác cười to: “Hay hay! Đoạt khôi nguyên rồi đó. Có điều, hai người một quyển, chỉ được một phần thôi!” Lại xem của Thang Bân, viết rằng:

Lòng trung giữ gìn triều Hán thế ba chân.

Ý chí còn lại Xuân thu sách một bộ.

Khang Hy xem lặng yên không nói, trong bụng nghĩ: Ngũ Tử Tư, Nhạc Phi xem ra không bằng Quan Vũ. Ngũ Tử Tư báo thù cho cha anh, đánh chết Sở Bình vương, tuy có hiếu, nhưng kém về đạo tôi, không gọi là trung được; Nhạc Phi trung hiếu đều đủ, nhưng kẻ địch của ông là “Kim” phạm húy ông tổ bản triều. Chỉ riêng Quan Vũ, trung hiếu tiết nghĩa tập trung vào một người, thật xứng với ba chữ “Võ phu tử”. Người này được!

Báo cáo nội dung xấu