Khang Hy Đại Đế - TẬP 3 - Chương 07

7

Cầu hiền gặp hiền đi qua không được

Sợ họa gây họa mệnh trời khó chống

Võ Đơn vốn xuất thân là trộm ngựa Quan Đông, bản tính vô cùng thô lỗ, hễ mở miệng là xúc phạm người ta, Mục Tử Húc vội vàng tiến lên ngăn lại. Anh liếc nhìn anh chàng đo sức gió, cười hỏi: “Đại ca, chỗ này đã không thể ở lại, vì sao anh lại ở đây?”

“Tôi là hà bá Trần Thiên Nhất!” Trần Hoàng lạnh lùng nói, “Ông này quen thói hống hách thì cứ để ông ta ở lại đây, còn các anh hãy chạy nhanh lên!” Anh chàng vừa nói tay vừa ra dấu, mắt nhìn, không dừng một phút. Cũng không nhìn đám người Khang Hy, anh nói tiếp: “Nước lũ hoa đào một canh giờ nữa sẽ tới, một chốc nữa nơi này sẽ là biển nước mênh mông!”

Khang Hy nghe nói lại xuống ngựa, bước tới hỏi: “Mạng sống của anh không đáng giá sao? Tôi thí mạng theo cùng quân tử!” Hùng Tứ Lý bỗng nóng ruột, không kể người này là điên hay là khờ, lũ hoa đào mùa này khẳng định là có. Ông hối hận hôm nay không kịp nghĩ sâu nên vội vàng bước tới kéo Khang Hy, nói: “Long gia, không có gì đáng xem đâu, hãy mau đến thị trấn nghỉ chân uống nước còn người anh em này, rất cảm ơn đã nhắc nhở!” Khang Hy vừa đi vừa nói to: “Nếu nguy hiểm như vậy thì anh cũng đi nhanh lên!”

“Tôi phải đo mực nước, giờ phút này ngàn vàng khó mua được”. Trần Hoàng nói không quay đầu nhìn, rồi nói to rất tự đắc, “nước mà dìm được chết tôi, kiếp sau mới có!” Nói xong đi vội lên phía thượng du.

Vua tôi Khang Hy mười mấy kỵ sĩ vội phóng nhanh trở về trấn Thiết Ngưu, ngồi lại ở một lều quán bên đường. Khang Hy gọi một đĩa cá chép Hoàng Hà, một bàn thức ăn, vừa ăn mà tâm thần bất định mải ngóng nhìn về phía sông, vua gắp mấy miếng thức ăn rồi thả đũa xuống. Nơi đây cách Hoàng Hà bảy tám dặm. Mọi người thấy người trong trấn đi qua đi lại rộn ràng nhộn nhịp, mọi thứ đều êm ả nên cũng an lòng. Mục Tử Húc thấy Khang Hy tâm thần bất định, nên cười nói: “Rừng lớn rồi, loài chim gì mà chẳng có, cũng không biết người ấy điên hay khờ, Hoàng thượng đừng nên nghĩ tới hắn!” Khang Hy nghe nói gật đầu, ngồi xuống uống rượu. Hùng Tứ Lý và Kiệt Thư mỗi người ngồi một bên, không dám động đũa, chỉ gắp củ ấu, ngó sen tươi cẩn thận cùng nhấm nháp.

Một hồi lâu sau, Trần Hoàng cũng từ bãi sông trở về, hỏi chủ tiệm mua hai cái bánh nướng, một đĩa thịt bò khô, thật không chút khách sáo ngồi xuống trước mặt Khang Hy, tay xé mồm nhai ăn uống nhồm nhoàm. Khang Hy lặng lẽ lấy đồng hồ trong túi ra xem, sắp được một canh giờ rồi, vua chọc cười nói: “Tôi nói này, ông anh hà bá, sao anh lại đốt quả pháo tịt ngòi vậy? Chẳng phải vừa rồi anh nói một canh giờ nữa nước lũ sẽ tới ngay sao?”

Trần Hoàng chưa đáp lời ngay, anh liếc nhìn bóng mặt trời chiếu xuống cột lều, rồi lại nhìn lên thượng lưu, nói một cách mơ hồ: “Đồng hồ tốt mấy cũng không chuẩn bằng mặt trời, đợi một lát nữa xem!” Kiệt Thư và Hùng Tứ Lý thấy anh ta khoác lác, bất giác cười thất thanh. Võ Đơn cười khó chịu nói với Mục Tử Húc: “Anh em ta kể cũng xem như đã trải sự đời, nhưng đã từng thấy người nào khoác lác kiểu bán trời không văn tự như thế này chưa?”

Nhưng sắc mặt họ lập tức thay đổi. Tiếng nước lũ cuồn cuộn nghe như tiếng sấm ngầm đã văng vẳng truyền tới, mặt đất rì rào run rẩy. Trấn Thiết Ngưu đang yên tĩnh bỗng ồn ào náo loạn, một người mình đầy mồ hôi, tay rung chuông, chạy như bay kêu to: “Thần triều đến rồi! Mọi cư dân hãy lên gò đất phía đông mà tránh”. Tiếng người la, tiếng chó sủa, người già niệm Phật, trẻ em kêu khóc, tiếng nồi niêu xoong chảo khua... nháo nhào hỗn loạn, từng đoàn người ùn ùn tranh nhau chạy lên ngọn đồi phía đông không dám để tụt lại sau.

“Các lão gia, còn ngồi đực đấy làm gì?” Chủ quán sắc mặt tái xanh, hốt hoảng chạy tới, thấy Khang Hy đứng yên lặng dưới cây cột lều, mấy người chung quanh cũng đứng yên không nhúc nhích, nên nói vội vàng: “Năm nay không giống các năm trước, đê sông đều sụp lở! Mau, chạy mau lên!”

“Quả thật là một lần bị rắn cắn, mười năm sợ dây gàu”. Trần Hoàng chỉ đứng lên nhìn, rồi ngồi xuống, cười ồ lên nói: “Đây quả là trấn Thiết Ngưu có thần trâu chắn nước, có gì đáng sợ? Các ông đi đi, một bàn tiệc ngon như thế này, chỉ có lợi cho Trần Mỗ ta. Ngày mai về Hàm Đan, đúng là làm lễ đưa tiễn ta đi, ở đây quá nguy hiểm!” Khang Hy đã biết tài Trần Hoàng, vội kéo anh ta: “Ngày mai tôi mở tiệc rượu mời ông, ở đây nguy hiểm quá!”

Trần Hoàng liếc nhìn Khang Hy, lắc đầu nói: “Rất cảm tạ lòng yêu mến, tôi phải ở lại đây xem nước dâng. Hãy yên tâm, lũ hoa đào không tới nổi trấn Thiết Ngưu đâu!” Khang Hy thấy Tố Luân và Đức Lăng Thái chồm tới xốc nách mình, bèn khoác tay ra hiệu dừng lại, ánh mắt bỗng như xoi mói khó chịu: “Vì sao vậy, ngươi là thần tiên chăng?” Trần Hoàng ngơ ngác, rồi cười phá lên: “Làm gì có thần tiên! Tôi báo cho ông biết, lúc này nước sông Hoàng Hà có 6 phần cát bùn, vùng trấn Thiết Ngưu sông rộng năm trăm trượng, đều sâu bảy thước, lại thêm nước bùn, chỉ dâng lên được hai trượng. Bờ sông cách trấn một ngàn một trăm trượng, bãi cát này là tấm chắn thiên nhiên. Nước lên bãi cát, dòng chảy chậm lại, bùn cát tất đọng lại, càng tích càng cao, không biết chừng vun lên thành một bờ đê dài, điều này tiết kiệm được cho Hoàng thượng mấy mươi vạn bạc...” Anh ta nói thao thao bất tuyệt, làm cho Khang Hy ngây người ra nghe. Trần Hoàng vung tay múa chân, vừa gắp thịt bò bỏ vào mồm, còn muốn nói tràng giang đại hải nhưng đã bị Võ Đơn nhổ một bãi nước bọt vào mặt: “Câm ngay cái mồm chó của mày! Mày chắc chắn là một thằng điên chán sống rồi! Cứ đợi ở đây mà chờ chết đi!” Hùng Tứ Lý quát to một tiếng: “Đức Lăng Thái, Tố Luân, dìu ông chủ chạy mau lên!”

Đức Lăng Thái và Tố Luân “dạ” lên một tiếng, không cần nói năng gì, đã đỡ Khang Hy lên mình ngựa. Võ Đơn quất mạnh một roi vào mông ngựa, con ngựa hí một tiếng lồng lên mà chạy. Võ Đơn nhảy lên ngựa, sắc mặt u ám, trở cán roi chỉ thẳng vào mặt Trần Hoàng nói: “Đồ láo toét! Còn sống mà trở về thì đừng có rơi vào tay ông mày nhé!” Nói xong quất ngựa phóng đi. Trong trấn lập tức vắng tanh, chỉ còn Trần Hoàng ngồi trong lều. Lúc đó nước sông gầm thét như thiên binh vạn mã rung trời dậy đất xông vào...

Nhưng nước sông Hoàng Hà không vào trấn Thiết Ngưu, cơn lũ đầu tiên đi qua, đúng là một công tích lạ lùng, đã đùn lên một bờ đê cát thiên nhiên cao hơn một trượng. Sáng sớm hôm sau, Khang Hy sai Mục Tử Húc phi ngựa tới thị trấn xem, người đi tránh lụt còn chưa trở về, chỉ có bàn tiệc Khang Hy chưa kịp dùng tới thì Trần Hoàng đã đánh chén sạch, còn người không biết đi đâu.

Trên đường trở về kinh, Khang Hy không vui. Tiểu thái giám Tần Triết không biết tâm tư nhà vua, tìm mọi cách chọc cho Khang Hy vui lên, nhưng lại càng làm Khang Hy bực mình sai người lột quần đánh cho một trận suýt chết. Võ Đơn tuy không mấy tế nhị, nhưng cũng biết mình đã làm hỏng việc của nhà vua, thấy Khang Hy đánh người cho hả giận, nên suốt dọc đường càng thận trọng, sợ e xúi quẩy, ngay cả đạo mạo ngang nhiên như Hùng Tứ Lý cũng rón ra rón rén.

Tuần vũ An Huy Cận Phụ vì có mấy bộ hạ rất tài giỏi, trước nay làm việc gì cũng nhanh chóng. Sau khi phụng chỉ hai tháng đã giải quyết xong các vụ tồn đọng bao lâu nay, và chuyển án văn những vụ chưa giải quyết xong sang nha môn ty Tư phiên thụ lý, và lệnh cho hai ông thầy đến trước Thanh Giang xem xét chỗ ngã ba sông Hoàng, Hoài, Vận, chuẩn bị đề nghị tâu chuyển tổng hành dinh đốc sông từ Tế Ninh sang Thanh Giang. Mọi việc chuẩn bị xong xuôi, bèn gọi môn khách đắc lực nhất Phong Chí Nhân xuống đánh cờ. Thực ra ông đâu có tâm chí, ông chỉ phát sầu vì phải sắp nhậm chức đốc sông!

Cận Phụ từ nhỏ đã yêu thích thủy lợi. Năm Khang Hy thứ 10, ông được bổ nhiệm Tuần vũ An Huy, đúng lúc Hoàng Hà đổi dòng tràn qua địa phận. Lần đầu tiên ông thử cách trị thủy, thấy có kết quả. Nhưng phải tiếp nhận chức tổng đốc trị sông, thì lòng Cận Phụ thắc thỏm không yên. Hoàng Hà từ Tam Môn Hiệp về đông, thế nước bằng, chậm, đến vùng Huy Ninh do địa hình càng bằng phẳng, bùn cát tích tụ làm cho lòng sông ngày một cao, từ xa nhìn tới, giống như một con rồng đất trời không quản đất không thu, do vậy mới đặt tên là “huyền hà”(sông treo). Các quan địa phương trước nay xem đốc sông như một chức vụ nguy hiểm. Bây giờ chiếu chỉ triều đình tuy chưa xuống tới nhưng thư của Minh Châu đã để lộ tin ra làm đốc sông, Cận Phụ tuy là Chánh nhị phẩm tấn phong lên Tòng nhất phẩm, nhưng thần hồn tỏ ra bất định.

Phong Chí Nhân ngồi đối mặt thấy ông lơ đễnh, biết được tâm trạng của ông, bèn yên lặng đập đập những quân cờ ăn được, thỉnh thoảng liếc mắt nhìn Cận Phụ. Ông biết tính Cận Phụ nên không hỏi, mà rồi ông chủ này sớm muộn gì cũng tự mình nói ra thôi.

“Việc làm bây giờ chẳng ra thể thống gì cả!” Quả nhiên một lát sau, Cận Phụ nhướng mày tự nói với mình: “Làm quan bên ngoài càng ngày càng khó, tay dài một chút đòi tiền thì bá tánh chửi anh là giặc dân; không đòi tiền thì không lấy lòng được cấp trên, có người trong triều vu anh là giặc nước... tóm lại trước sau đều mang tiếng là giặc! Ôi...”.

Phong Chí Nhân gật gật đầu, đi nước cờ “mã nhảy cao”, hỏi: “Ông chủ, lần này vào kinh, mang theo bao nhiêu tiền?”

“Hả?”

“Tôi muốn nói, mang ít tiền thì không được việc”.

“Mang theo một vạn rưỡi”. Cận Phụ mỉm cười nói, “Lần này tôi cũng phải làm quan tham nhũng rồi. Tiền đắp đê đưa xuống sẽ thanh toán cho khoản tiền này. Đốc sông không bằng Tuần vũ, lỗ hổng này tôi lấp không xuể”. “Một vạn rưỡi!” Phong Chí Nhân nhẹ nhàng lặp lại, nháy mắt một cách xảo quyệt, không biết được là ý gì. Cận Phụ nhìn anh, kinh ngạc hỏi: “Thế nào, không đủ chăng?”

Phong Chí Nhân xoa xoa tay, cười như không có việc gì, nói: “Đủ dùng hay không làm sao nói được! Trung thừa chỉ cần có quan hệ tốt, có khi chẳng tốn một đồng. Đại sự biên cương tình trạng như thế nào tôi không được biết. Một người đồng hương của tôi mua một chức đồng trị, chỉ tốn ba trăm lạng, đầu ngay vào cửa tể tướng Minh, tiền vào cửa một ngàn bảy, quan văn phòng năm ngàn, thực đến tay tể tướng Minh tám ngàn mới thí cho một chức tri phủ đang khuyết. Lưu Nhữ Bản ở Giang Tây dùng một ngàn năm trăm lạng vàng đúc một tượng Phật dâng lên mừng thọ Sách Trung đường, văn bản đưa xuống lập tức làm đạo muối Hoài Tây. Còn một người trong họ tôi Từ Cầu Nhâm, đầu tháng tiến kinh, nghe nói mang theo năm vạn... Món tiền đó cũng ví như cái lý của người buôn bán, người mua ưng ý, người bán bằng lòng, tiền trao cháo múc, không nói hai giá, trẻ già không lừa nhau!” Ông tiếp tục nói, Cận Phụ mặt đã biến sắc, nhướng người lên, nghển cổ nói: “Nếu như vậy, thì tôi chẳng có một cái gì cả! Tôi làm đến chức quan to như thế này, không thể làm như vậy. Một vạn rưỡi này chẳng qua là để mua sự bình yên, nếu còn không được, thì đành tới đâu hay tới đó!”

Đang nói tới đó, người canh cửa vào bẩm rằng: “Thưa Trung thừa, bên ngoài có một người đàn bà trẻ, mang theo hai đứa con, muốn xin gặp Trung thừa, nói là gia quyến của đại nhân Lý An Khê...” Nói xong môi mấp máy còn muốn nói tiếp nhưng lại thôi. Cận Phụ nghe nói ngạc nhiên: Lý An Khê tức là Lý Quang Địa, thường chỉ biết nhau trong quan hệ bình thường, bây giờ ông ta là huân thần quốc gia, làm sao lại đem vợ gửi gắm cho ta, lại chẳng có một lá thư, một danh thiếp gì cả, mà mẹ con ba người lại đến nhà? Trong lòng đang nghi ngờ, nhưng mồm lại nói: “Anh đứng ngây ra đó làm gì, mau mời họ vào!” Trưởng tùy khom người vâng một tiếng: “Vâng ạ... có điều ba người họ... nô tài xem chẳng giống thân thích nhà quan một tí nào. Quần áo họ rách bươm giày cũng tả tơi, giống như là ăn mày...”.

Cận Phụ nghe nói liền đứng lên rồi lại đặt đít ngồi xuống, chẳng biết xử trí cách nào, ông nhìn Phong Chí Nhân. Phong Chí Nhân hỏi: “Ông không bảo bà ta là Cận đại nhân không mang theo gia quyến không tiện tiếp đãi, hơn nữa lại sắp rời nhiệm sở về kinh rồi!” Trưởng tùy vội nói: “Xin thưa ông Phong, nô tài có nói. Nhưng bà ta nói chính là nghe Trung thừa về kinh, nên xin nghĩ tình cùng làm quan trong triều, cho mẹ con bà cùng đi để đến chỗ Lý đại nhân, bản thân bà ta một đồng lộ phí cũng không có...” Cận Phụ hơi do dự, thở ra nói: “Đã như vậy, cứ mời vào gặp rồi hẵng hay”.

Một chốc đã thấy trưởng tùy đưa vào một người đàn bà trẻ ăn mặc rách rưới. Cận Phụ nhìn thấy bà ta khoảng 27, 28 tuổi, thân người mảnh khảnh, gương mặt trái xoan với đôi lông mày nhỏ hình chữ bát, tóc mai nhọn, tuy thân hình tiều tụy nhưng cặp mắt ánh lên rất linh hoạt, mỗi tay dắt một đứa bé lủi thủi bước vào. Không đợi Cận Phụ lên tiếng, bà khom người vái hai cái vạn phúc, rồi quỳ xuống, nói khẽ: “Tiện phụ Lý Tú Chi kính chào Cận lão gia...” Cận Phụ lấy tay khoát bảo đứng lên, nói: “Xin mời tôn phu nhân đứng dậy, mời ngồi, tôi không dám nhận lễ, Tấn Khanh đại nhân hiện nay là tôi thân tín của Thiên tử, Cận Phụ càng coi trọng hơn, làm sao dám như vậy?”

“Xin thưa đại nhân”, Lý Tú Chi ngồi xuống nhận chén trà người ta bưng tới, đỏ mặt nói, “Đây là việc đương nhiên, tiện phụ không phải là chính thất của Tấn Khanh...” vừa nói vừa đưa chén trà cho đứa bé bên tay trái, nói giọng run run: “Hưng Bang, con uống một chút, rồi đưa cho em...” Đứa bé bưng chén trà chỉ hớp một ngụm nhỏ rồi đưa sang cho đứa bé bên tay phải, nói: “Hưng Quốc, em uống đi...” Hưng Quốc có lẽ rất khát, bưng chén trà uống một hơi cạn.

Phong Chí Nhân chú ý nhìn, hai anh em cao như nhau, ăn mặc giống nhau, tướng mạo giống nhau, ước khoảng bảy tám tuổi, y như hai anh em sinh đôi, nên mới hỏi: “Tại hạ Phong Chí Nhân, xin tha tội vô lễ, dám xin hỏi Lý thái thái làm sao lưu lạc đến đây?” Tú Chi mắt đỏ ngầu, nghiêng mình nói: “Ba mẹ con chúng tôi bán cả nhà cửa, từ Hàng Châu đến An Khê Phúc Kiến tìm người thân không được, nên phiêu bạt ngàn dặm tới đây. Nghe nói Cận đại nhân sắp vào kinh, muốn xin dẫn dắt chúng tôi đến Bắc Kinh gặp Quang Địa... Tôi thì miễn cưỡng ráng được chứ hai đứa bé thực tình đi không nổi nữa...”. Nói xong nước mắt ràn rụa.

“Lẽ nào nhà họ Lý ở An Khê không có người?” Cận Phụ ngạc nhiên hỏi.

“Có chứ...” Tú Chi nức nở, nước mắt ướt đẫm tay áo, chỉ cố gắng không khóc thành tiếng, “Họ... họ không chịu nhận...”.

Cận Phụ và Phong Chí Nhân đưa mắt nhanh nhìn nhau, nhà Lý Quang Địa vốn là dòng họ nổi tiếng Phúc Kiến, sao lại vô lý như vậy? Cận Phụ hắng giọng, rồi hỏi: “Hai vị công tử nhỏ năm nay mấy tuổi rồi, làm sao lại sinh ra tại Hàng Châu?”

“Đại nhân, đã không hỏi thì thôi”. Tú Chi lau nước mắt nói: “Nếu ngài nghi cho tôi mạo nhận là thân nhân nhà quan, thì xin cứ trị tội; nếu tin tôi thì dẫn tôi đi; nếu không chịu dẫn thì thôi vậy. Còn nợ ngài tình cảm một chén nước, ngày sau bảo Quang Địa trả cho ngài là xong”. Nói xong bèn đứng lên định đi.

Người đàn bà này ăn nói nhỏ nhẹ, chỉ mấy câu làm Cận Phụ kinh ngạc, vội nói: “Xin chớ hiểu nhầm, tôi không có ý nghi ngờ bà, nếu bà quả thực mạo nhận người thân nhà quan thì làm sao dám cùng tôi đi gặp Tấn Khanh?” Phong Chí Nhân đã gọi người sai cho dọn dẹp phòng ốc, sắp đặt cơm nước, rồi sai người ra phố mua quần áo cho phu nhân.

“Đây là một việc khó xử”. Đợi Tú Chi đi ra, Cận Phụ thở dài, nói với Phong Chí Nhân, “Nhà họ Lý ở Phúc Kiến đã không thừa nhận bà ta, Lý An Khê có nhận hay không vẫn chưa biết. Ở bên trong e có uẩn khúc gì đây!”

Phong Chí Nhân gõ quạt vào mu bàn tay trầm ngâm nói: “Việc này đã rõ như ban ngày, có điều bà ta vẫn bảo vệ Lý đại nhân, không chịu nói thực. Thời gian Lý đại nhân cư tang ở Đinh Ưu, nhất định có tư tình với gái lầu xanh, hai chữ ‘đạo học’... ôi chao!” Cận Phụ ngơ ngác, bỗng nhiên một thoáng dự cảm không hay nảy ra, ông nói: “Kỳ thực tội cư tang bất cẩn vẫn là thứ yếu, bỏ tình máu mủ, làm cha không nhân từ, nghe càng xấu hơn. Lý Quang Địa bây giờ quyền thế cao sang, đâu chịu nhận hai tội danh to lớn đó?” Nói xong cảm thấy ớn lạnh. Phong Chí Nhân bỗng cười nói: “Ông chủ đừng suy nghĩ nhiều, tôi cho rằng đó là hàng lạ có thể giữ. Nếu ở Bắc Kinh ông chịu che dấu cho Lý đại nhân, thì ân tình này đáng giá hơn vạn bạc. Ông chủ, Lý Tấn Khanh là tay chân đắc lực nhất của trung đường Sách Ngạch Đồ đó!”

Cách một ngày sau, Cận Phụ đưa Phong Chí Nhân và ba mẹ con Tú Chi lên đường. Do bùn cát Hoàng Hà làm đứt đường kênh vận chuyển, trước mắt không thể đi thuyền, nên ven theo đê phía bắc sông đi về tây, nhân tiện xem xét tình hình sông nước. Qua khỏi Khai Phong vòng lên hướng bắc, đi vào địa phận Trực Lệ. Không vào thành Hàm Đan mà đi thẳng đến trạm ngựa Lâm Minh quan phía bắc Hoàng Lương Mộng nghỉ chân.

Ăn cơm xong trời đã tối. Cận Phụ mặc chiếc áo dài màu đỏ sẫm, không mang tất, cùng với Phong Chí Nhân đi ra sân sau. Nhìn ra xa, phía Hoàng Lương Mộng đèn đuốc sáng trưng một vùng trời, liền hỏi: “Chí Nhân, anh đi thi đi ngang qua vùng này nhiều lần, phía trước vùng sáng trưng kia là chỗ nào?” Phong Chí Nhân chưa kịp đáp lời, người gác cổng trực đêm của trạm cười nói: “Ngài tuần vũ đại nhân. Nếu ngày mai ngài phải đi bầy tôi khuyên ngài nên đến xem cho biết. Ở đó vui nhộn ít có trong thiên hạ! Ngày mai mồng 4 tháng tư, Hoàng Mộng Lương làm lễ tạ ơn thần, chỉ riêng sân khấu xem hát đã có sáu cái” Cận Phụ cười gật gật đầu, nói với Phong Chí Nhân: “Cùng đi chơi với tôi cho nó tiêu cơm nhé!”

Hai người vừa đi vừa trò chuyện, chừng nửa bữa cơm thì tới Hoàng Mộng Lương, quả là nhộn nhịp khác thường. Hàng ngàn cây đuốc sáng rực trong miếu ngoài miếu. Mấy trăm chiếc đèn dầu, bấc to bằng quả trứng gà chiếu bốn bên sáng trưng. Những tốp người đi cà kheo, có tốp hóa trang bát tiên, có người đóng Quan âm, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, có nơi diễn tuồng hát Tây sương, đình Mẫu đơn. Sáu sân khấu lớn, đông tây mỗi bên ba cái đối mặt nhau mà hát, trống chiêng điểm chầu nghe cứ như mưa rào đổ xuống mái tranh. Tiếng pháo nổ loạn xạ không còn nghe hát gì trên sân khấu nữa. Phía dưới sân khấu, đám người chen nhau đông nghẹt. Hàng quán quà bánh bày bán la liệt, nào hạt dưa, nào kẹo vừng, trà bơ, thức nhắm rượu, thứ gì cũng có. Còn ông thầy gieo quẻ bói toán, đoán chữ, xem tướng cao giọng kêu rao ... Phong Chí Nhân cũng xúc động nói: “Đông công, xem ra Khổng Tử khó mà bì kịp so với Thái thượng Lão quân, hoặc Phật Như Lai! Khúc Phụ tế Khổng Tử tôi có được xem, làm gì được to tát thế này, náo nhiệt thế này!”

“Chiến tranh chưa dứt, cảnh thái bình hưng thịnh đã hiển hiện”. Lòng Cận Phụ có khuây khỏa chút ít, “Chỉ cần không đánh nhau, việc khôi phục sẽ rất nhanh! Chí Nhân, anh đã thấy chưa? Ở đây còn có tiệm bán hàng ngoại, cái đồng hồ chuông to như vậy cũng bày trên quầy hàng, Ngụy Đông Đình quả là người biết làm việc!” “Đó là”, Phong Chí Nhân cười nói: “Hàng chuyển đi qua hải quan là tơ lụa, trà, đồ sứ, tôi đã thấy tận mắt; tàu trở về tiền bạc mang về nhiều vô kể!” Vừa nói hai người bèn bước vào sau miếu, dưới ánh đèn sáng choang, xem kỹ chữ ghi của người xưa trong hành lang bia thần đạo. Có lời tán dương thần đạo, có người cầu phúc cầu con, cũng có lời nói lên chí hướng, nỗi thắc mắc. Nhân thấy lời phê của Cao Sĩ Kỳ đảo lên đảo xuống chỉ ba chữ “rắm chó thối”, Cận Phụ lớn tiếng cười ha hả: “Tên họ Cao này quả là ngông cuồng kiêu ngạo!”

“Tài tử nổi tiếng Tiền Đường mà, cũng khó tránh khỏi tâm trạng mục hạ vô nhân, chẳng còn nhìn thấy ai”. Phong Chí Nhân cười nói: “Nghe nói ông ta phê bình văn chương, thơ ca người khác đại để chỉ có ba chữ. ‘Rắm chó thối’ tức là người đánh rắm chó chỉ là ngẫu nhiên; ‘thối chó rắm’ là trách người phẩm hạnh không ngay thẳng, văn còn dùng được; ‘chó rắm thối’ chỉ những con chó chuyên môn đánh rắm, trách người đó bình phẩm văn quá tồi tệ...” Ông chưa nói xong, Cận Phụ không còn nén chịu nổi, cười nói: “Tóm lại đều là đánh rắm, tốt xấu chỉ khác nhau một tẹo. À, thơ của Trần Hoàng này cũng thú vị: phải ‘cùng bạn bên nhau mượn gối đầu’. Lời cũng đặc biệt Trần Hoàng, tên này nghe khá quen, nhưng không nghĩ ra là người nào!”

Phong Chí Nhân phe phẩy chiếc quạt trầm ngâm hồi lâu, nói: “Trần Hoàng, Trần Thiên Nhất chăng? Là em Trần Thủ Trung ở Tiền Đường. Vì trong số tử vi của ông ta thiếu nước, từ nhỏ trong nhà không cấm hắn chơi nghịch nước, thế mà lại thành tài! Trung thừa chắc là quên rồi, ngài đã đọc cuốn Dương thủy biên của hắn, chẳng phải là rất tán thưởng đó sao?” Cận Phụ nói: “Té ra là hắn! Đáng tiếc, số phận không ra gì, đã phải lưu lạc tới đây! Hâm mộ mộng phong lưu của người xưa, thật đáng làm người ta hối tiếc chỉ hận là chưa được gặp!”

“Kẻ bất tài ở đây”, bỗng nghe sau lưng có tiếng người nói, “Hai vị tiên sinh có gì dạy bảo?”

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.