Khang Hy Đại Đế - TẬP 3 - Chương 01

1

Nước lụt vây thành, mẹ hiền dạy con

Cứu tế nạn dân, quan tốt chống lệnh

Mùa thu năm Khang Hy 17, trời mưa liên miên. Từ sau tiết Bạch lộ, ông trời đã phát rồ, mưa mãi không ngớt, lúc thì rả rích nhỏ giọt, lúc thì mưa phùn lai rai, nếu không sương mù âm u thì cũng mưa lạnh triền miên, chẳng khi nào được ba ngày tạnh ráo. Con đường trạm dịch mới làm ở Trực Lệ, Sơn Đông, Thiểm Tây, Hà Nam giống như những con rồng bùn đất ngoằn ngoèo vươn tới nơi xa tắp trong màn mưa. Những vũng nước đục vàng ngàu chảy tràn từ ruộng sang những con mương nhỏ do nông dân đội mưa đắp lên, chảy vào các ao đìa, rồi tụ về đập lớn. Các con sông Vĩnh Định, Phẫu Dương, Hải Hà, Hồ Đà, Vận Hà bỗng chốc lồng lộn điên cuồng, gầm gào kêu thét; cuốn theo bùn đất, rác cỏ, lá lẩu, rơm rạ, khúc gỗ gãy, trái cây dưa bí đủ loại... làm thành những xoáy nước đáng sợ, nổi lên những bọt trắng như sữa đậu nành cuồn cuộn chảy về phía đông.

Đáng sợ nhất vẫn là Hoàng Hà. Mặt sông mênh mông không thấy bờ, gió buốt thổi mưa tạo nên từng đám mù sương nước xối ào ào xuống dòng chảy cuồn cuộn đục ngàu, gào thét như tiếng sấm rền. Chỗ đê ba con sông Hoàng, Hoài, Vận tiếp nối nhau ở huyện Thanh Giang tỉnh Giang Nam, từ sau vụ thu ở khe Cao Lương, Bản Công... có đến hai mươi sáu chỗ vỡ, đê Cao Gia vỡ bảy chỗ, nước sông Hoàng, sông Hoài xói vỡ đồi Thiên Gia, đổ vào bãi bùn nhão, làm cho đầm nước trong dâng cao một trượng rưỡi, đứng trên thành nhìn xuống, xa tít mù tắp chỉ thấy sóng cả, không biết đâu là bờ.

Thành Thanh Giang là một cái trấn nhỏ mới xây, là nút giao thông xung yếu nên triều đình làm đường chuyển lương, chuyển muối, thuyền bè lui tới thường nghỉ chân ở đây, lâu ngày trở thành cái trấn đông đúc, thực ra ngày thường chỉ có hơn một vạn nhân khẩu. Giờ đây bị nước bao vây bốn mặt, dân vùng lũ chen nhau vào thành tránh nước lụt, một lúc tập trung đến hơn mười vạn người. Tất cả vườn hè quán xá, lán dựng sân chùa đều chật ních những con người vàng võ, hai bên phố chất đầy những bọc hành lý ướt mèm, các hiệu bán thức ăn trong thành đều đóng cửa, một chiếc bánh ngày thường chỉ một chỉ bạc nay phải một lạng bạc mới mua được.

Huyện lệnh Thanh Giang Vu Thành Long vì trong nội hạt của mình xảy ra vụ án trái nghịch luân thường đã bị cách chức, huyện lệnh mới bổ dụng chưa đến, ngay cả quan đến thu ấn cũng bị vây khốn trong thành. Trong hoàn cảnh này, Vu Thành Long không chịu giao ấn, quan thu ấn sợ trách nhiệm nên cũng để mặc ông ta, riêng mình tránh vào kho lương lớn trong cửa Đông hưởng nhàn nhã. Vu Thành Long nguyên là người Sơn Đông, ông có người anh nổi tiếng là quan thanh liêm làm Tuần vũ Sơn Đông. Từ nhỏ Vu Thành Long được mẹ dạy dỗ, một lòng làm quan thanh liêm, không ngờ năm ngoái Tổng đốc Lưỡng Giang Cát Lễ làm lễ mừng thọ, ông chỉ mừng thọ có một đôi giày vải làm cho Cát Lễ nổi giận tìm cách trị ông. Thực ra vụ án trái nghịch luân thường huyện nào chẳng có, người ta biết mà không nói ra, trên dưới đồng lòng với nhau, thì chẳng xảy ra chuyện gì. Vu Thành Long không thức thời, gặp phải rủi ro âu cũng là việc đương nhiên.

Lúc này mưa đã tạm ngưng, Vu Thành Long dìu bà mẹ Phương Thị trên năm mươi tuổi đứng trên lầu bắn tên ở cửa Nam thành Thanh Giang lo lắng nhìn ra nơi xa phía đê lớn Hoàng Hà chỉ còn như một đường chỉ nhỏ ló trên mặt nước. Hai người hơi run, hình như áo quần họ không chịu nổi cái lạnh mùa thu. Bốn năm chục tên nha dịch bảo vệ thành, người nào cũng bùn đất đầy người, ngả nghiêng dựa vào tường lầu bắn tên.

“Thành Long”, một hồi lâu, bà Phương Thị mới nói, “xem trời này, khó có thể tạnh ngay được!”

Vu Thành Long lắc đầu, khuôn mặt xanh gầy không chút biểu cảm. Ông lấy trong túi ra tờ thông báo đưa cho mẹ, nói: “Mẹ, đây là thông báo triều đình đưa về...” Bà cụ nhẹ nhàng đẩy ra nói: “Mắt mẹ độ rày kém lắm rồi, con nói cho mẹ nghe vậy”. Vu Thành Long giơ tờ giấy nhìn qua, nói nhỏ: “Dạ, một tờ là thông báo của triều đình lệnh cho Tuần vũ An Huy Cận Phụ về kinh báo cáo tình hình công việc; một tờ nội dung điều Phủ viễn tham nghị tướng quân nhận chức Đề đốc Phụng Thiên; lại một tờ nói về đê vỡ ở thượng du Trịnh Châu - Trịnh Châu đã vỡ đê thì nước ở đây không lên nổi đâu, mẹ cứ yên tâm ạ!”

“Ta đã gần đất xa trời, chết cũng được rồi, có gì đáng sợ?” Một luồng gió lạnh đột nhiên thổi tới, bà Phương Thị ho sặc sụa, Vu Thành Long vội đấm lưng mẹ nhưng bà đẩy mạnh ra, nói qua hơi thở dốc: “Quan trọng là trong thành tụ tập mười mấy vạn người, vừa lạnh vừa đói, làm sao chịu được? Con là quan phụ mẫu của vùng này phải quan tâm ngay - nghe nói hôm qua lại đói chết đến hai mươi mấy người!”

Đây chính là việc Vu Thành Long thấy khó nhất! Giữ hàng núi lương thực trong kho, mà trong thành hầu như nhà nào cũng tắt bếp, ông cảm thấy nhức nhối trong lòng. Nhưng kho lương không thuộc quyền ông cai quản, còn chưa nói tới quan đến thu ấn Lương Thủ Nghĩa đang ở đó, chỉ riêng thủ bị kho lương, quan đạo đều là những quan lớn hơn ông đến mấy bậc. Việc này quả rất khó khăn. Vu Thành Long nghe mẹ nói liền trầm ngâm, rồi nói: “Thưa mẹ, con biết, để bá tánh chết đói, con thật đau lòng. Con đã sai người đi xin Lương đại nhân, thủ bị Quách Chân đại nhân và Đạo đài Hàn Xuân đại nhân cùng đi xem xét tình hình nạn đói, nhất định sẽ có cách”. Nói xong bèn dìu mẹ vào trong lầu bắn tên, gọi nha môn nói: “Cùng ta đi tới kho lương”.

Vừa bước ra đã thấy ba người Lương Thủ Nghĩa và Quách Chân, Hàn Xuân dẫn theo mấy ông thầy đề vén áo dài bước lên bậc cấp lên thành. Hàn Xuân là quan đạo đài, chức vị cao nhất, kiêm quản cả văn võ, đi trước, thấy Vu Thành Long đứng ở trên, vội vòng tay nói: “Thành Long huynh, vất vả, vất vả! Ôi chao ôi, mấy ngày không gặp gầy đến mức này, thiếu thứ gì thì cứ tìm tôi!”

“Hàn đại nhân, Lương đại nhân, Quách đại nhân” Vu Thành Long chào, một mặt mời họ bước vào trong sảnh, ngồi trên chiếc ghế đá, một mặt nói “Bỉ chức sáng hôm nay đã sai gia nhân Vu Lộc mang thư đến quý phủ, chắc ngài đã đọc rồi ạ?”

Ba người nghe nói nhìn nhau một lát, Hàn Xuân nét mặt tươi cười nói: “Đã có đọc rồi, tấm lòng tha thiết yêu dân của tiên sinh, anh em đã thấy rõ. Có điều mở kho cứu tế không phải là chuyện đùa... à mà, ông anh ở đây đã hơn hai năm, cái quy củ này còn chưa hiểu sao? Anh em chúng tôi thật là lực bất tòng tâm!” Lương Thủ Nghĩa cười nói: “Ngay cả điều này, mấy hôm nay, mấy người chúng tôi bàn định mãi, nhưng không nói được như ông anh. Lần này, thành Thanh Giang an toàn vượt qua nạn lụt, nước không tràn vào thành, đấy là nhờ có ông anh ngày đêm cùng dân quân phòng giữ. Đây là một công lao lớn. Anh em chúng tôi do quan hiến Cát sai đến thu ấn, cái ấn này ta quyết trước hết không thu, xin trở về bẩm lại cho quan hiến đại nhân rõ, không chừng còn được tấu tốt cho nữa!”

Vu Thành Long nghe xong suy gẫm ý tứ trong câu nói của ông ta, một hồi lâu mới lạnh lùng nói: “Tôi vốn là một thư sinh nghèo đến đây, cũng muốn ra đi là một thư sinh nghèo. Lương đại nhân đã chưa thu ấn, thì người anh em đây giờ này vẫn là đứng đầu cái thành này, triều đình chuẩn bị lương thực vốn là vì bá tánh, mấy vị đại nhân đều biết, ba ngày nay trong thành đã chết đói hơn bảy mươi người. Vạn nhất dân tình biến động thì trong không có binh, ngoài không có viện, xin hỏi trách nhiệm này ai chịu?” “Chúng tôi tới đây xin gặp quý huyện, cũng chính là vì việc này”. Quách Chân lo lắng nói: “Bá tánh trong thành đã bàn nhau tụ tập lại cướp lương thực. Không dám dấu huynh, hôm qua trước cửa kho lương đã đánh chết ba người dân gây rối...”. Vu Thành Long hơi nhếch mép cười khinh bỉ, nói: “Đã là gây rối thì tới một tên đánh chết một tên, tới hai tên đánh chết hai tên, vui vẻ biết bao! Bọn chúng tới kho lương gây rối thì đúng là việc các hạ phải ra tay, người anh em này còn biết làm thế nào?”

Quách Chân xuất thân võ biền, đâu có hiểu hết ý châm chọc trong câu nói của Vu Thành Long, ông cười khan nói: “Nếu như cả một vạn người cùng làm loạn thì làm sao đánh cho kịp, huống chi binh sĩ giữ kho đều là người địa phương, đều không muốn ra tay, ai mà biết cóc khô gì?”

“Cho nên chúng tôi đến đây là muốn nhờ vào quý huyện”. Lương Thủ Nghĩa nghe Quách Chân nói thô lỗ, bất giác chau mày, người ngả về phía trước nói: “Đến đây mấy ngày tôi đã thấy, ông anh tuy xảy ra việc, nhưng vẫn là chỗ mọi người trông chờ vào, bá tánh đều nghe ông anh. Xin ông anh đi ra hiểu dụ một lát, đàn áp một chặp nhất định là có kết quả. Để được những ngày thiên tai này, lẽ nào ở trên không đến cứu tế? - cũng chỉ cần mười mấy ngày thôi”.

Bà Phương Thị trong nhà nghe thấy, không nhịn nổi nữa bèn chống gậy bước ra nói to: “Mười mấy ngày, ông có biết mười mấy ngày không có hạt cơm nào vào bụng thì sẽ như thế nào không? Đó là hàng ngàn mạng sống ông biết chứ!” Bà đứng trước cửa, mái đầu đã bạc phơ.

“Bà là ai?” Mọi người đang tranh luận chưa ngã ngũ ra sao bỗng nghe có người ngoài xen vào ai nấy đều kinh ngạc. Lương Thủ Nghĩa nhìn thấy là một bà già nghèo liền quát to: “Đây là chỗ bà nói hả? Bà ...” Hàn Xuân biết là mẹ của Vu Thành Long vội ngăn Lương Thủ Nghĩa, nói: “Đây là cao đường của Vu đại nhân... Thưa cụ, cụ già cả rồi xin cụ cứ nghỉ cho, chúng tôi đang bàn nhau tìm cách giải quyết đây ạ!”

Bà Phương Thị ầm ừ một tiếng nhưng không lui ra. Bà kéo một chiếc ghế ngồi xuống, chống chiếc gậy, bà hơi suy nghĩ rồi nói ung dung: “Đàn bà không nên tham gia việc chính sự, ta từ nhỏ đọc sách há không biết sao? Nhưng nay, vì lo cho dân không nên nói quy tắc đó - Thất phu khởi loạn, nhất hô bách ứng, xưa nay đã có biết bao bài học? Nước ngoài thành có thể lấy đất mà ngăn, nước trong thành có thể lật thuyền. Một khi đã làm cho dân nổi loạn, bà già này dám hỏi, ai chịu trách nhiệm đây?” Vừa nói bà vừa lắc đầu, chiếc gậy tre gõ nhẹ xuống đất, đôi mắt tuy không có tia sáng, nhưng gương mặt trang nghiêm lạnh lùng.

Mấy người đều ngồi đực ra đó, những lời lẽ chính nghĩa, cử chỉ thong dong, phong độ một gia đình danh tiếng của bà cụ bỗng chốc đã làm sửng sốt mấy quan viên.

“Vậy theo ý kiến của cụ?”, rất lâu, Hàn Xuân mới trấn tĩnh lại hỏi.

“Ý của con ta đúng”, Bà Phương Thị bình tĩnh nói, “tình thế bây giờ chỉ có cách là mở kho cứu chẩn, không còn cách nào khác tốt hơn đâu!” “Lương thực có”, Hàn Xuân cười nhạt nói, “nhưng không phải của tôi, cũng không phải của Vu Thành Long, mà là lương thực của vua, của triều đình, năm nay còn thiếu một triệu tạ chưa kịp chuyển về Trực Lệ”. Bà Phương Thị cười nói tiếp: “Vậy thì tốt quá rồi, đúng là nên lấy để giải cứu việc khẩn cấp trước mắt - Thành Long, con viết giấy mượn một triệu cân thóc cứu tế nạn dân, xong việc sẽ trả ngay”.

“Dạ!”

“Khoan!” Lương Thủ Nghĩa khoát tay, cười khanh khách, bước tới trước mặt bà Phương Thị chắp tay khom người nói: “Thưa cụ, một triệu cân là một vạn đấu, cứ tính mỗi đấu thóc năm tiền, thành ra năm ngàn lượng bạc, Vu đại nhân không có một đồng xu dính túi, hì hì - khoản tiền này, Thủ Nghĩa xin hỏi lấy ở đâu ra?”

Bà Phương Thị nghe nói cười ha ha, bà nói: “Cũng may mà đại nhân tên là “Thủ Nghĩa”! Há chẳng nghe nghĩa ngay ở chỗ có hại mà không vội tránh? Năm ngàn lượng bạc ta trả được, ta cũng không nghĩ là sau này bá tánh không trả tiền - xin đem giấy bút ra đây, viết đi!” Các nha dịch đứng trong ngoài lầu bắn tên đã nghe rõ cả đầu đuôi. Nhà họ cũng không có cái ăn từ lâu rồi, chỉ mong có được câu này, liền vội mang ra đồ văn phòng tứ bảo mà Vu Thành Long dùng hàng ngày.

“Không được!” Với chức trách của mình, Hàn Xuân biết rõ sự việc can hệ trọng đại, ông ngả người ra sau, nói dứt khoát, “Lương thực này là quân lương, Hoàng thượng có chỉ đặc biệt điều cho quân môn Thi Lang dùng luyện quân. Nếu động vào một hạt, các ông ngồi đây đều có tội!”

“Nếu để cho dân được toại nguyện, thà vất quách chức tước đi còn hơn! Ta không tin tính mạng của mấy quan viên các anh đáng giá hơn mấy vạn bá tánh!”

Quách Chân thấy sự việc không xuôi, vội nói: “Chúng con đều là thần tử của Hoàng thượng. Thưa cụ, nói hai chữ trung hiếu, thì chữ trung đứng trước, chúng con đâu dám chống lại ý vua!” Lời nói chưa dứt, bà Phương Thị đã bẻ lại: “Mạnh Tử nói: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh - anh có hiểu không?”

Vu Thành Long đã cố ý muốn mượn lương thực, biết sự việc trọng đại, sau này tội trạng càng nặng, sợ liên lụy đến mẹ. Cuộc đấu khẩu kịch liệt này, bà cụ còn cứng cỏi hơn mình, Vu Thành Long cảm thấy hổ thẹn, ông đứng lên đi tới trước bàn viết ngay mấy hàng chữ rồi tới trước mặt Hàn Xuân, chắp hai tay dâng lên, nói “Xin đại nhân duyệt ký cho”.

Vốn định tìm Vu Thành Long để đàn áp dân bị nạn, không ngờ đến đây gặp phải cái đinh cứng. Bà Phương Thị nói lời nào cũng dẫn lời ghi chép của thánh nhân, ba người đành nhìn nhau, không cách gì bác nổi bà. Hàn Xuân không bình tĩnh được nữa, thấy Vu Thành Long như có ý buộc ông phải ký, xanh xám cả mặt mày, lấy giọng quan trên nói: “Vu Thành Long, có phải ông định bức bách bản đạo - nếu tôi không ký thì sao?”

“Tôi phụng thánh mệnh coi giữ quận này”, Vu Thành Long vòng tay nói, “bây giờ, bên trong có mười vạn dân bị nạn lụt, bên ngoài nước lũ vây thành, là thời điểm không bình thường, phàm ở trong thành là con dân tôi - cả các vị cũng thuộc trong số này. Trong thành những hộ giàu còn lương thực tôi đều mượn sạch rồi, có một số đầu cơ tích trữ làm giàu bất nhân, tôi đã dùng phép nước trị tội!” Lời chưa nói xong, ba người đã tức giận run lên. Lương Thủ Nghĩa đập bàn cái “bốp”, mặt đỏ như gan lợn thét lên. “Anh điên rồi hả! Bây giờ ta tước ấn của ngươi!”

“Muộn một chút, nhưng cũng hơi sớm một chút!” Vu Thành Long ngẩng mặt lên trời cười to: “Ông đáng lẽ phải tước ấn từ lâu nhưng sợ nước lụt phá thành phải gánh trách nhiệm; nhưng đã chưa tước, thì tôi phải toàn quyền quản tới cùng, đợi phát chẩn xong, sẽ tự động giao nộp ấn quan cho ông!”

Hàn Xuân thấy các nha dịch đứng trước cửa nhìn chằm chằm, dáng hung dữ trong lòng hơi sợ, hắn hối hận hôm nay đi ra không mang theo một tên lính kho nào. Hắn hậm hực đứng lên khoát tay nói: “Quách Chân, Thủ Nghĩa, đã muộn rồi, không thể tranh cãi với anh chàng gàn này, chúng ta đi thôi!” Nói xong ba người sa sầm nét mặt đứng lên định đi ra.

“Bay đâu...” Vu Thành Long ngồi xuống ghế, ngước mặt lên sai bảo: “đóng cửa!”

“Dạ!”

Mấy chục tên sai dịch đồng thanh dạ ran, đứng tại chỗ vái cái rồi đánh sầm một tiếng, đóng chặt cửa lớn, xếp thành hai hàng chữ bát đứng hai bên Vu Thành Long như trong khí thế xử án thường ngày.

“Phú hộ Hàn Xuân trong thành ta nhà còn tồn trữ lương thực”, gương mặt hơi gầy của Vu Thành Long mặt lạnh như tiền, nói không nhanh không chậm, “để cứu bá tánh trong thành, bản huyện mượn một vạn đấu thóc. Hàn tiên sinh, xin ngài ký cho một chữ!”

Hàn Xuân tức giận suýt ngất, cảm thấy trong lòng trống rỗng không biết bấu víu vào đâu, khi quay đầu nhìn hai người thấy cũng đứng đực ra như trong mộng, lắc la lắc lư như người say rượu... hắn hơi trù trừ thì các nha dịch đã đồng thanh thét lên như sấm: “Mau ký tên, mau ký tên!” Hàn Xuân chợt tỉnh, hắn rùng mình lạnh toát mồ hôi, nhìn qua nhìn lại đều là nha dịch của Vu Thành Long, xem ra nếu chỉ kéo dài chậm thêm chút nữa, lập tức người ta sẽ ra tay, mình mang danh mệnh quan tứ phẩm của triều đình bỗng dưng bị đè xuống đánh đít, quả thật là sẽ “lưu danh ngàn đời”. Trố mắt ngớ ra một lát, Hàn Xuân nghiến răng nói: “Đại trượng phu có thể co có thể giãn, ký thì ký, xem ông làm sao tránh được phép vua ba thước của Thánh thượng!” Vừa nói vừa cầm bút ký nhanh mấy chữ trên tờ giấy, rồi bẻ cây bút làm hai vất lên trên mặt bàn.

“Ừ, được!” Vu Thành Long cầm tờ giấy thổi khô nét mực, “Chỉ cần chịu cho mượn lương thực, ta không tính sổ việc ông làm ồn công đường”. Nói xong đưa giấy mượn lương cho thư lại nói: “Cầm lấy thuê người đi lãnh lương thực đưa sang miếu Quan đế sau nha huyện, rồi trở về bẩm cho ta để ta tự tay phân phát”.

Quách Chân là quan võ, vốn định dùng võ lực nhưng một là Vu Thành Long người đông thế mạnh, hai là dẫu sao Vu Thành Long vẫn là mệnh quan triều đình, nếu mà đánh thì không có lý hoàn toàn, thấy Hàn Xuân đã ký giấy liền nói: “Vu Thành Long, giấy đã ký, lương thực đã mượn, ngươi nên để chúng ta đi thôi chứ?”

“Còn phải mời ba vị nán lại cho một lát”, Vu Thành Long cười liếc nhìn mẹ, “đệ ta phải nắm được lương thực trong tay mới yên tâm được, hơn nữa, đệ ta vi phạm phép vua tày đình như vậy, không bao lâu sẽ có họa lớn bằng trời, các ngài nỡ nào bỏ đi ngay, nha dịch đâu, có rượu không, mang một bình lại đây”. Lương Thủ Nghĩa cười khanh khách, nói: “Bây giờ có rượu thì cũng rất thú vị, nhưng uống xong rượu thì cũng khó có tình cảm tốt đẹp, ba người chúng tôi đêm nay sẽ liên danh làm tờ tấu bẩm trình lên, và nhờ hiến đài đạo nhân chuyển tâu lên triều đình xin ghi công cho ngài!”

“Xin tùy ngài!” Bà Phương Thị lạnh nhạt buông một câu rồi đứng lên đi vào trong nhà.

Tối hôm đó Vu Thành Long bận rộn suốt đêm không chợp mắt, phân phát cho dân gặp nạn một vạn đấu thóc được chuyển đến miếu Quan đế, mềm lưng mỏi gối mệt đến nhừ xương. Ba người bọn Hàn Xuân về đến kho lương thực nhân danh ba người viết tấu nói cụ thể việc Vu Thành Long mượn thóc. Không đến mười ngày văn thư phủ Tổng đốc đưa đến Thanh Giang, ra lệnh đưa Vu Thành Long đã bị cách chức Huyện lệnh áp giải về nha môn hầu nghe xét xử. Dân chúng địa phương nghe tin truyền báo cho nhau, có người lập tức đứng ra bàn nhau hàng vạn người cùng đứng tên đi kêu oan lên Hoàng thượng.

Sớ tâu của tổng đốc Cát Lễ vì không phải là sớ hỏa tốc, nên nửa tháng sau mới chuyển về đến Bắc Kinh.

Thời đó các quan lớn bên ngoài đều có mời thầy đồ xem sớ tâu ở tại Bắc Kinh, làm môn khách ở nhà quyền quý thạo tin tức, một khi có sớ đến, thầy đồ mở ra xem trước, căn cứ tình hình dư luận Bắc Kinh và ý hướng triều đình, mà thầy đồ quyết định có nên đưa vào trình hay không. Thầy đồ xem sớ của Cát Lễ tên Trần Tích Gia và anh trai là Thiết Gia, thầy Uông Minh Đạo, đều ở trong phủ đại thần phòng dâng thư Sách Ngạch Đồ. Trước đó mấy ngày, có mấy người bá tánh xông vào gõ chuông Cảnh Dương kêu oan cho Vu Thành Long, Tích Gia xem sớ thấy không biết nên thế nào bèn đi gặp Thiết Gia bàn bạc.

“Anh Tư”, Tích Gia huơ huơ tờ sớ của Cát Lễ, nói: “Cát Tiết chế muốn vạch tội Vu Thành Long, nhưng bây giờ có người kêu oan lên Hoàng thượng bảo vệ Vu Thành Long. Anh xem tờ sớ này có nên đưa vào hay không?”

Anh em họ Trần năm người, xếp theo thứ tự là Kim, Ngân, Đồng, Thiết, Tích.

Ba người anh đã sớm đỗ đạt, đi làm quan châu huyện bên ngoài. Chỉ hai người không được tuyển, Sách Ngạch Đồ bèn thu dụng làm môn khách. Nghe lời em nói, Thiết Gia đốt một que diêm hút một hơi thuốc, rồi cười nói: “Anh thấy có thể đưa vào. Vu Thành Long con người này anh biết, trước nay kiêu căng ngạo mạn, cả tể tướng Sách cũng không muốn gặp hắn. Bây giờ triều đình bốn bên bốc khói tám hướng nổi lửa, đâu đâu cũng cần lương thực. Chức quan to bằng hạt vừng như hắn mà dám điều động lương thực trong kho, đó chẳng phải tự đi tìm đến Diêm vương?” Qua một hồi bàn bạc, Trần Tích Gia có sáng kiến, đem tờ sớ bỏ vào tráp tâu việc, đóng con dấu, đợi Sách Ngạch Đồ về phủ sẽ trình lên. Trời sắp tối vẫn chưa thấy Sách Ngạch Đồ trở về, Trần Tích Gia thấy lạ bèn gọi quản gia Thái Đại đến hỏi: “Lão gia hôm nay có về nhà chưa?” Thái Đại cười nói: “Lão gia không trở về, chỉ cho người nhắn tin tới Uông lão tiên sinh, nói đi bàn việc ở các hộ, chưa chừng còn vào đại nội nữa đấy!” Trần Tích Gia nghe nói lặng thinh, suy nghĩ một hồi, rồi cắp tráp ngồi kiệu nhỏ đi đến nha môn bộ Hộ.

Trời âm u, tối rất nhanh, vì kinh sư thiếu lương thực, triều đình ra lệnh cấm rượu, hàng quán đã đóng cửa từ sớm, phố xá tối om, ngay cả những thứ như bánh nướng, vằn thắn, tào phớ cũng không bán, chỉ phía xa xa mấy cửa hàng bán trái cây lác đác đốt lên mấy ngọn đèn sừng dê leo lắt như ma trơi, trông thật lạnh lẽo.

Khi đến trước cửa, trời đã vào đêm, Trần Tích Gia khom người bước xuống kiệu. Lính gác cổng bộ Hộ đều là người quen, vội ra đón, nói: “Ngũ gia đến thật đúng lúc, vừa rồi tể tướng Sách còn dặn cho người về lấy tráp!” Trần Tích Gia cười gật đầu, hàn huyên một chặp, đang định bước vào, thì nghe từ xa tiếng chân bước gấp, một người đàn bà ăn xin mặt mày lem luốc, vội vàng sải bước, chỉ mấy bước đã chạy vào ngách cổng lớn nha môn bộ Hộ. Người đàn bà quỳ thụp xuống, nói trong hơi thở hổn hển: “Các quan lớn, cứu, cứu con! Phía sau có người đuổi theo... bọn chúng giết người...”. Chắp tay, vái lạy, rồi xì xồ một tràng tiếng Mông Cổ. Mọi người đang ngơ ngác thì đã nghe phía xa xa có mười mấy người quát tháo đuổi theo, đều nói tiếng Mông Cổ, không ai hiểu được. Quan gác cổng Liêu Sinh Vũ biết là có chuyện, một mặt bảo Trần Tích Gia cứ tự nhiên, một mặt bảo người đàn bà đứng ra phía sau, rồi sai người vào trong bẩm báo. Những người Mông Cổ đuổi theo người đàn bà đều nhất loạt mặc áo dài màu đỏ sẫm, mũ da cáo, đi ủng, tới trước cửa nha môn bộ Hộ, họ giơ dao sáng chói lên, chỉ vào người đàn bà chửi mắng, định xông vào bắt đi.

“Các người từ đâu tới, tùy tiện lỗ mãng như vậy, chẳng còn biết phép vua gì nữa hay sao?” Liêu Sinh Vũ xem kỹ thì ra là người Mông Cổ bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ trú ở gần quán trạm dịch. Bọn họ hai ngàn người vào kinh sư tiến cống, ngày nào cũng gây sự, hôm nay làm náo động cả đến nha môn bộ Hộ, ông nổi giận nói: “Đây là nơi trọng yếu của quốc gia, các người phải biết phép tắc chứ! Cát Nhĩ Đơn tự tiện xưng Hãn, không khéo Hoàng thượng không chuẩn y mà còn giáng tội nữa, các người lại dám làm càn như vậy sao?”

Một người đàn ông Mông Cổ cầm dao đi tới, bộ mặt bạnh ra, hung hãn nhìn Liêu Sinh Vũ, nói: “Tôi là Đa Nhĩ Tế! Người đàn bà này là nô lệ bộ tộc Ca Nhĩ Ca trốn ra! Thổ Tạ Đồ Hãn của Ca Nhĩ Ca là thù địch với Tây Mông Cổ tôi, nhân dịp chúng tôi đi đánh sa mạc Bắc Mông Cổ, hắn quấy rối hậu phương chúng tôi, cướp bò dê của chúng tôi, cắt đứt lương thảo của chúng tôi, bị thiên binh Bác Thạc Khắc Đồ Hãn của chúng tôi tiêu diệt. Hôm nay sứ thần Cách Long của chúng tôi phát hiện bà ta ở trong một tiệm cơm, lệnh cho tôi đi bắt, vì sao ông che chở cho bà ta?”

“Tôi không cần biết ông là Bác Thạc gì Hãn gì”, Liêu Sinh Vũ nổi nóng nói: “Tôi chỉ biết đây là nha môn tư không của thiên triều! Các người làm loạn ở đây là phạm tội! Hơn nữa người đàn bà này tố cáo các người giết người, sự việc không rõ ràng, bay đâu!” Ông phất tay, to tiếng quát: “Không được cho người nào ra khỏi đây!”

Đa Nhĩ Tế cười khanh khách, nói: “Xem ra trưởng quan muốn bắt lấy hung thủ? Tên chủ quán cơm chó má người Hán để sổng tên nô lệ chạy trốn, ta đã giết chết hắn! Không biết trưởng quan xử lý thế nào?”

“Bắt!” Liêu Sinh Vũ quát to một tiếng. “Dạ!” Mấy tên lính gác ở ngách cửa đã nghe chán chê, nghe tiếng hô đã nhất tề xông ra, đang định ra tay bắt người.

Báo cáo nội dung xấu