Hồi ký Lý Quang Diệu - Chương 22
22
TIẾNG BOM CỦA TUNKU VỀ
VIỆC HỢP NHẤT
Cuộc
xung đột giữa chúng tôi với những người cộng sản đang tới hồi căng thẳng, trong
khi ở chuyện hợp nhất với Malaysia chúng tôi lại hoàn toàn chẳng đạt được một
tiến bộ nào cả. Thái độ của Tunku đối với Singapore thật đáng nản, và ông ta
luôn tránh né, tảng lờ trước bất kỳ đề nghị hợp nhất nào. Ông nhất quyết không
chịu hợp nhất dù là dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, và ông đã tận dụng mọi cơ hội,
riêng tư hay trước công chúng, để nói rõ điều này. Vào tháng 5/1960, ông phát
biểu trước sinh viên Malay tại London rằng suy nghĩ chính trị, cũng như cơ cấu
chủng tộc, tại Singapore đều khác hẳn với Malay. Cho nên việc có thêm 1,3 triệu
dân Hoa trên hòn đảo này sẽ chỉ gây hỗn độn cho người Malay và phá vỡ bầu không
khí bình yên của đất nước. “Nhiều người Hán học và những di dân mới đến xứ
này,” ông nói, “sẽ luôn luôn trung thành với Trung Quốc và họ chẳng mấy có tâm
hồn hướng về Malay.”
Nhận
định của ông đúng là nhận định của một Tunku. Quả là thẳng thắn. Trong một
chương trình truyền thanh hồi tháng 6/1960, khi được hỏi triển vọng hợp nhất ra
sao, tôi đã quyết định dập tắt các kỳ vọng bằng cách cho rằng điều đó sẽ không
thể xảy ra trong tương lai gần được. Tôi đã trả lời rằng Liên bang rất muốn giữ
nguyên cán cân chủng tộc của mình, và họ e rằng có quá nhiều người Hoa
Singapore thiện cảm với cộng sản; do đó, bổn phận của chúng ta là phải cho thấy
một cách cụ thể rằng chúng ta đích thực trung thành với Malay.
Điều
đặc biệt đáng lo là việc Tunku dửng dưng trước sự tổn thương mà ông ta đã gây
ra cho tình cảm của dân chúng Singapore bằng cách dội nước lạnh vào các hy vọng
của chúng tôi. Mỗi lần ông ta làm như vậy, báo chí đều có đăng tải thật rõ
ràng, và điều này có nghĩa là ông ta đang củng cố niềm tin cho những người chủ
trương cho Singapore được độc lập trong tách biệt. Vào tháng 10/1960, ngay cả
Lim Yew Hock và Liên minh Nhân dân Singapore cũng đều công khai ủng hộ việc
thành lập Singapore như một quốc gia có chủ quyền trước đã, còn chuyện hợp nhất
với Malaysia thì để lại sau này hẵng hay. Nhưng như tôi đã nhấn mạnh với
Selkirk, điều này thậm vô lý. Một Singapore độc lập dưới sự kiểm soát của cộng
sản sẽ chiến đấu tới cùng trước khi buông xuôi chủ quyền của mình cho Liên
bang.
Selkirk,
con trai thứ của một công tước Scotland, người cao, hơi lom khom và trông dáng
đúng là một nhà quý tộc. Ông có mái tóc hoa râm, gương mặt xương xẩu, thường có
vẻ như cau có, và có thói quen lơ đãng, khi đang ngẫm nghĩ vấn đề gì thì ông
như đang nghịch với hàm răng của mình, nhất là với một trong những chiếc răng
trên, bằng cách dùng lưỡi búng vào nó. Ông không phải là người có đầu óc mạnh,
nhưng có một sự hiểu biết xã hội sâu sắc và vẻ quyến rũ của một nhà quý tộc
khiến kẻ dưới phải an tâm. Ông hiểu chuyện và chúng tôi ăn ý với nhau,
nhưng người phó của ông, Philip Moore, hẳn có lúc đã hiểu sự nôn nóng của tôi,
và ông ta đã nghi ngờ rằng tôi chẳng coi ông có kí lô nào. Do đó, để nhấn mạnh
tầm quan trọng của mình, ông ta cứ nhắc đi nhắc lại với tôi rằng Selkirk đã
từng là một Bộ trưởng trong nội các và vẫn còn trực tiếp tiếp xúc với Thủ
tướng.
Ba
tháng sau, ngài Geofroy Tory, cao ủy Anh tại Malaysia, nói cho tôi biết Tunku
đã nói riêng với ông là ông ta thấy rất phiền hà mỗi khi tôi, hay bất kỳ phát
ngôn nhân Singapore nào khác, tuyên bố trước công chúng rằng hợp nhất là một
chuyện có thể có. Bởi lẽ nó tạo lợi thế và khuyến khích các địch thủ của ông,
những người xã hội chủ nghĩa, chủ yếu là người Hoa, những kẻ đang khao khát cái
ngày họ có thể liên minh lực lượng được với PAP ngoài đảo. Mặt khác, điều đó có
khuynh hướng gây căng thẳng cho quan hệ của ông với phe quốc gia Malay, vì rằng
bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy chính phủ Liên hiệp đang suy nghĩ nghiêm túc ý
kiến quan hệ hữu nghị với Singapore theo kiểu nào đó cũng đều
dễ làm tăng nỗi lo sợ của họ là đường lối của ông ta sẽ cho phép người Hoa tràn
vào và đè bẹp người Malay. Cho dù có nỗ lực nào đi chăng nữa thì Tunku, Razak
và Ismail cũng sẽ không ngồi xuống và thảo luận nghiêm túc với tôi về tương lai
lâu dài của Singapore và Malaysia. Họ không muốn nghi tới những hậu quả khủng
khiếp cho Malaysia nếu như Singapore độc lập và nằm dưới sự kiểm soát của cộng
sản.
Cuối
cùng – để cho tôi vẫn còn có hy vọng, theo tôi nghĩ – người Anh đã khuyến khích
tôi đưa ra một công thức rộng hơn, một thiết kế lớn hơn về một liên bang mà sẽ
không chỉ bao gồm Singapore mà còn cả ba lãnh thổ bảo hộ khác trên đảo Borneo
(đó là Bắc Borneo, Brunei và Sarawak), như vậy bài toán chủng tộc sẽ không gây
đảo lộn cho khả năng đa số của người Malay. Selkirk và Moore khuyên tôi nên
soạn ra một văn kiện, không phải gửi cho Tunku, nhân vật luôn bực bội với
chuyện này, mà cho Razak. Tôi nghĩ chắc là, thông qua Geofroy Tory, họ đã
thuyết phục được Razak xem xét quan điểm ấy, và tôi đã soạn ra văn kiện đó vào
đầu tháng 5/1961 và trao nó cho Ismail để trình lên ông ta. Thật vậy, người Anh
đã làm việc kỹ với ông ta với sự hỗ trợ của Robert Thompson, một viên chức Dân
sự vụ Malay, ủy viên quốc phòng của Malay và từng làm việc gần gũi với Razak.
Nhưng
người đã đề cập thẳng chuyện này với Tunku là Duncan Sandys, Bộ trưởng Ngoại
giao phụ trách quan hệ của Khối Thịnh vượng chung. Ông đến Singapore vào tháng
1/1961, trên đường đến Malaysia, để báo với cả hai chính phủ rằng nước Anh đang
sắp đệ đơn gia nhập khối Thị trường chung Châu Âu. Tôi đã nhân cơ hội này để
giải thích cho ông hiểu rõ mối nguy hiểm đang đặt ra trước mắt chúng tôi nếu
như không có cuộc hợp nhất vào năm 1963, thời điểm của những đàm phán về hiến
pháp – một Singapore theo cộng sản sẽ là một kết quả không thể nào tránh khỏi.
Tôi hẳn đã tác động được ông ta. Moore đã nói với tôi sau đó rằng Sandys nói là
ông ta chưa từng gặp một nhà lãnh đạo đương quyền nào lại thiết tha với chuyện
trao quyền của mình cho một trung tâm quyền lực khác đến như vậy. Các tài liệu
lưu trữ Anh cho thấy rằng Sandys đã nói chuyện với Tunku, và Selkirk thuật lại
rằng Sandys có kể với ông là cuộc nói chuyện thật thuận buồm xuôi gió, tuy ông
ta chẳng cho biết chi tiết.
Sau
này tôi mới được biết rõ về Sandys. Ông ta có thể thẳng thắn và cả thẳng thừng.
Ông là con rể của Winston Churchill, và không hề thiếu tự tin. Ông gan dạ và
hết sức quả quyết. Ông có một chân bị thương trong một vụ tai nạn xe hơi thời
kỳ chiến tranh và nó thường gây đau nhức, nhưng ông dùng thuốc giảm đau và khập
khiễng tới lui với cây gậy, gắn bó với cuộc sống và lao đầu vào công việc. Ông
là một con người đáng yêu, đáng ngưỡng mộ nếu như bạn ngẫu nhiên cùng phe với
ông ta. Cũng may là tôi rơi vào trường hợp như thế. Ông hối thúc việc hợp nhất
thành một “Malaysia” rộng lớn hơn và hẳn đã thuyết phục được Harold Macmillan,
Thủ tướng Anh, để ủng hộ ông và gây sức ép với Tunku.
Bất
ngờ, vào ngày 27/5/1961, Tunku khi nói chuyện tại Hiệp hội Phóng viên nước
ngoài của Đông Nam Á đặt tại Singapore đã phát biểu rằng:
“Chẳng
chóng thì chầy Malaysia cũng sẽ có được sự nhất trí với người Anh cùng nhân dân
Singapore, Bắc Borneo, Brunei và Sarawak. Bây giờ còn quá sớm để tôi có thể cho
biết sự nhất trí này đã đạt tới đâu nhưng hiển nhiên rằng chúng tôi phải hướng
đến mục tiêu này và nghĩ tới một kế hoạch qua đó có thể đưa các vùng lãnh thổ
ấy lại gần nhau hơn trong một khối hợp tác chính trị và kinh tế.”
Ông
đã nói rằng khuynh hướng tự nhiên của người Hoa tại Singapore là biến hòn đảo
này thành một “tiểu Trung Quốc”. Nếu như dân chúng Singapore và của Liên bang
có thể biến Malaysia thành một thứ đúng như mong muốn – ngôi nhà duy nhất của
chúng ta – thì thật là hay biết mấy. Điều này đúng là một tiếng bom. Chẳng hề
có dấu hiệu nào trước đó cho thấy có sự thay đổi trong lập trường khăng khăng
của ông là chẳng thể dung nạp Singapore được. Lúc đọc được lời phát biểu đó của
Tunku, tôi biết ông Đặc mệnh sẽ nghĩ rằng tôi đã lừa ông ta hồi lúc chúng tôi
gặp nhau vào tháng 5, rằng tôi đã nói dối, bởi khi trả lời câu hỏi của ông, tôi
có nói rằng việc hợp nhất khó có thể xảy ra trong một vài năm bởi Tunku không
tin tưởng người Hoa ở Singapore.
Lúc
đó Tunku đã không giải thích tại sao ông đổi ý. Về sau, vào tháng 10, ông đã
phát biểu tại Quốc hội ở Kuala Lumpur rằng lúc đầu ông không tán thành việc hợp
nhất bởi chuyện này sẽ gây nguy hại cho nền an ninh của Malaysia, nhưng thời
thế đã thay đổi. Ông không giải thích. Nhưng tôi chỉ có thể đoán chừng người
Anh đã thuyết phục rằng ông phải kiểm soát nền an ninh của Singapore để bảo vệ
cho chính Malaysia, bởi khối người Hoa đa số tại hòn đảo này có vẻ rất dễ thuận
theo chủ nghĩa cộng sản. Tôi tin rằng Ismail hiểu rõ nguy cơ lật đổ tại hai
lãnh thổ đã có quan hệ mật thiết với nhau ra sao. Ông từng được thấy, ví dụ,
tuy chỉ có phân nửa sinh viên ở Đại học Nanyang là từ Malaysia thôi, nhưng họ
cũng đã trở thành lực lượng nòng cốt trong giới lãnh đạo cánh tả và là những kẻ
gây rắc rối, và còn sẽ gây khó khăn hơn sau khi tốt nghiệp và quay trở về Malaysia.
Cả
Selkirk lẫn Moore đều không ngờ trước sự thay đổi ý kiến hoàn toàn của Tunku.
Điều đó đến với họ quả là một “ngạc nhiên đầy thích thú”. Người Anh từ lâu đã
từng bàn về quan điểm một “Malaysia” rộng lớn hơn như một giải pháp cho mục
tiêu lâu dài của họ là gộp các thuộc địa của họ trong khu vực lại với nhau
thành một liên bang trước khi trao trả độc lập cho những thuộc địa đó. Nhưng
vấn đề quan trọng nhất là chính quyền PAP có phải là do cộng sản chi phối
không? Họ tin rằng tôi đã trả lời cho câu hỏi đó khi tôi nhấn mạnh công khai về
chuyện hợp nhất như là một phương cách để đạt được sự độc lập cho Singapore, vì
rằng điều này sẽ khiến cho MCP chẳng thể giành quyền bính được. Đến lúc đó họ
mới khởi sự xem xét nghiêm chỉnh kế hoạch này.
Vào
tháng 5/1961, Tunku dường như ít ra cũng đã sẵn sàng xem xét đến chuyện hợp
nhất Singapore vào một Liên bang Malaysia. Thế nhưng có những lúc trong suốt
sáu tháng sau đó chuyện này đã có vẻ như chẳng đi tới đâu hết, bởi lẽ ông ta
cũng vẫn hãy còn thấy ngại. Cũng may là trong suốt thời gian này tôi đã có thể
bàn bạc với phần lớn các thành viên trong ủy ban Anh, nhất là với Philip Moore.
Vào
năm 1961, chúng tôi đã có thể hiểu nhau được. Người Anh nhìn thấy những khó
khăn đang đặt ra cho chính quyền PAP, và đã khởi sự tạo xung lực cho một Liên
bang Malaysia, và gây nên một cảm giác rằng chuyện này là tất yếu. Hai tuần sau
họ đã hưởng ứng đề nghị của Tunku thông qua một loạt những phát biểu tán đồng.
Đầu tiên là Selkirk, trong phát biểu ngày 13/6, đã mô tả điều này như thể “một
kế hoạch lâu dài, hữu lý”. Một tuần sau, Macmillan, khi trả lời câu hỏi của
Fenner Brockway ở Hạ viện, đã nói rằng:
“Tôi
vui mừng trước đề nghị đầy ấn tượng mới đây của Thủ tướng Malaysia rằng chẳng
chóng thì chầy Liên bang cũng đạt tới một sự nhất trí với chính phủ Anh và với
Singapore, Bắc Borneo, Sarawak, Brunei về một kế hoạch sẽ đưa những lãnh thổ ấy
vào một liên hiệp kinh tế và chính trị. Phát biểu của Tunku Abdul Rahman đã gây
ra sự bàn tán tại những nước đó và chính phủ tất cũng sẽ tính đến những phản
ứng của họ khi xem xét về đề nghị đó… Tôi nghĩ rằng điều quả đáng mừng là
chuyện này đã được nêu lên và kích thích thảo luận.”
Kế
đó, Selkirk đã triệu tập một cuộc họp vào ngày 27/6 bao gồm các thống đốc Anh ở
Sarawak và Bắc Borneo, cao ủy Anh tại Malaysia và ủy viên Anh ở Brunei. Goode,
giờ đây là thống đốc của Bắc Borneo, đã nói về “sự cần thiết phải nắm lấy đúng
lúc này để thông qua kế hoạch “Malaysia hùng cường” của Tunku nhằm bảo đảm
thành công cho nó”. Vào ngày 30/6, ngay sau cuộc họp đó, Selkirk đã bay đi London
để bàn bạc với nội các về kế hoạch này.
Việc
người Anh biểu lộ công khai ủng hộ một Liên bang Malaysia và sự hợp nhất hẳn đã
đánh động những người cộng sản. Sáng kiến của Tunku tiến triển thật nhanh
chóng, và ông Đặc mệnh sẽ phải tính toán đến điều này. Sự khích động của họ
nhanh chóng trở nên rõ rệt khi Lim Chin Siong tái xuất hiện với một loạt những
tuyên bố chống hợp nhất. Vào ngày 2/6, “Lục Đại gia” lãnh đạo nghiệp đoàn – Lim
Chin Siong và Fong Swee Suan, cộng với Sidney Woodhull, Jamit Singh, S.T. Bani
và Dominic Puthucheary, em trai của James (bốn trong số họ chẳng phải người Hoa
đã cho họ có cái vẻ đa chủng tộc) – đã đưa ra phát biểu kêu gọi đòi “tự trị đối
nội hoàn toàn không phải trên danh nghĩa mà là thực tế”, đòi kiểm soát an ninh
nội đảo và bãi bỏ Hội đồng an ninh nội chính. Họ kêu gọi cử tri Anson bỏ phiếu
cho PAP nếu để làm cơ sở cho sự chiến thắng trong các cuộc đàm phán hiến pháp
năm 1963 và để những yêu cầu của họ sớm được công nhận. Thế rồi Lim đã đặt mặt
trận thống nhất của lực lượng cộng sản lên bàn cân, với 42 nghiệp đoàn cam kết
ủng hộ Đảng PAP chống thực dân và khuynh tả trong kỳ tuyển cử bổ sung sắp tới.
Nói khác đi, nếu PAP không chống thực dân và khuynh tả đúng mức như họ muốn,
PAP sẽ chẳng thu được hậu thuẫn của các nghiệp đoàn, vốn đại diện cho “ước muốn
của công chúng”.
Đó
là lời cảnh cáo với tôi rằng hãy chơi theo luật của họ. Tôi trả lời rằng: “Giờ
đây nền độc lập thông qua việc hợp nhất trong một thực thể to lớn hơn đã rõ
ràng trước mắt chúng ta và sẽ trở thành sự thật sớm hơn mức người ta đã nghĩ
cách đây hai năm.” Tôi cũng vạch rõ rằng chúng tôi sẽ không tính đến chuyện
giải tán Hội đồng an ninh nội chính cho đến khi nền an ninh của chúng ta được
đảm bảo bên trong Liên bang nhờ vào sức mạnh trong bầu cử của cộng đồng Malay. Chính
ông Đặc mệnh sẽ quyết định ông ta phải làm gì sau đó.
Vào
ngày 10/6, ngày công bố danh sách ứng cử viên cho cuộc bầu cử bổ sung tại
Anson, PAP đã đề cử một người Malay là Mahmud bin Awang. Ông là chủ tịch của
Tổng liên đoàn lao động, nhưng lựa chọn này không có lợi cho những người cộng
sản. Ông từng bị bắt nhưng rồi được thả ra ngay sau đó. Ông ta ăn ý với Devan
Nair và do đó là một người của phía chúng tôi. Ông sẽ đối đầu với David
Marshall, ứng cử viên của Đảng Công nhân, người mà tôi cảm thấy chắc là đã ra
tranh cử dưới sự xúi giục của Lim Chin Siong và Fong. Thật vậy, vào ngày 14/6,
báo chí đã tường thuật phát biểu của Marshall rằng ông đã sang thăm Liên bang
sau phát biểu của Tunku tại Hiệp hội Phóng viên nước ngoài, và ông tin chắc sẽ
không thể có hợp nhất trong vòng 10 năm. Ông tán thành một Singapore độc lập
(nhưng nhất thiết phải giải tán Hội đồng an ninh nội chính), và chủ trương rằng
một khi Singapore được độc lập thì việc hợp nhất sẽ dễ dàng hơn.
Ngay
sau khi cuộc vận động bầu cử bắt đầu, John Linsell, giám đốc Sở đặc vụ, báo cáo
rằng có một nhóm nào đó muốn ám sát tôi. Nguy hiểm sẽ rất lớn tại một trong các
cuộc mít–tinh vận động tranh cử ngoài trời, bởi ở đó có thể ám sát diễn giả
đứng trên diễn đàn và rồi lủi trốn dễ dàng. Họ để cho tôi quyết định cần có
biện pháp an ninh đến mức nào và có nên xuất hiện trước công chúng hay là
không. Tôi không có lựa chọn nào khác. Không có mặt trong một chiến dịch vận
động quan trọng chỉ bởi vì bị đe dọa ám sát thì quả là tai hại về mặt chính
trị. Mặt khác, cứ thẳng bước đi tới mà không có biện pháp an ninh thì cũng là
ngu xuẩn, trong khi tăng cường các biện pháp an ninh thì
trông có vẻ phòng thủ quá. Tôi bảo với Sở đặc vụ là làm càng kín đáo càng tốt
nhưng cũng thận trọng tối đa.
Tối
hôm đó tôi đã phát biểu tại khu vực bầu cử của mình. Cũng quang cảnh đó, con
người đó, thân thiết với tôi, và tôi cảm thấy an toàn một cách hợp lý. Nhưng
rồi tôi còn phải nói chuyện tại những khu khác ít thân thiện hơn. Tôi cảm thấy
đôi chút lo lắng, nhưng đành chấp nhận rằng đó như một phần của cuộc sống chính
trị trong điều kiện đầy khủng bố của Singapore và Malaysia ngày ấy.
Tôi
có ý tin rằng những người cộng sản muốn tiêm vào tôi sự sợ hãi và nhìn xem tôi
phản ứng ra sao. Tôi tính rằng thật ra ám sát tôi không có lợi cho họ khi mà
chỗ đứng của tôi trong công chúng khá cao. Tôi chưa bị xem là kẻ thù của công
chúng như Lim Yew Hock hồi năm 1956. Và họ cũng không muốn phải gặp một đợt
thanh lọc đại quy mô đối với mặt trận thống nhất – đảng, các nghiệp đoàn và các
hiệp hội văn hóa – vốn chắc chắn sẽ xảy ra nếu tôi bị hại. Nếu tôi thua trong
trận chiến tuyên truyền để lôi cuốn quần chúng và bị xem là “bù nhìn của đế
quốc”, chừng đó sẽ khác. Giết tôi lúc đó sẽ chẳng có thiệt hại gì về chính trị,
trong trường hợp đó thì chắc tôi chẳng dám liều.
Hóa
ra Sở đặc vụ và Phòng điều tra hình sự đã tiến hành một loạt những cuộc bố ráp
vào ngày 18/6, dẫn đến việc bắt giam một tay bảo kê đầu sỏ cùng 10 người khác
nữa, trong đó họ tìm được một cái giỏ chứa ba quả lựu đạn giấu trong nhà của
tay bảo kê. Nhưng cuộc thẩm vấn cho thấy rằng một tay chỉ điểm đã bịa ra vụ âm
mưu ám sát và nhét mấy quả lựu đạn vào đó với sự đồng lõa của một hạ sỹ quan
thám tử của Phòng điều tra hình sự. Đoạn cuối của vở kịch, quả là chán. Tuy
nhiên cho đến khi biết ra vụ âm mưu ám sát chỉ là bịa đặt, thì tôi đã đứng
trước một vấn đề có thực là phải ứng phó với chuyện đó ra sao.
Ba
ngày trước khi bầu cử, tôi đã phát biểu rằng cho dù là các bang Bắc Borneo có
gia nhập hay là không, “chúng ta cũng phải nỗ lực cho cuộc hợp nhất giữa
Singapore và Liên bang với hai điều kiện cần thiết là tự do trong giáo dục và
các chính sách lao động.” Tôi biết rằng chúng tôi phải đưa những chuyện này ra
ngoài tầm kiểm soát của chính phủ Liên bang, bằng không chúng tôi sẽ chẳng thể
giành được một đa số ở Singapore ủng hộ chúng tôi. Chính sách giáo dục của Malaysia
đang đi ngược lại những phản đối của các trường Hoa và các ủy ban phòng thương
mại Hoa kiều tại Malaysia, vì rằng để được chính quyền trợ giúp, họ sẽ phải
chuyển từ việc dạy bằng tiếng Hoa và tiếng Anh sang dạy bằng tiếng Malay. Điều
này, các dân tộc không phải là Malay hoàn toàn khó thể chấp nhận được. Ngay cả
những người Anh học cũng sẽ phản đối việc hợp nhất dựa trên cớ đó, và người Hán
học thì chắc sẽ dùng tới bạo lực.
Về
chuyện lao động, Malaysia có một chính sách khá cứng rắn đối với các nghiệp
đoàn, chủ yếu bởi vì họ quyết tâm dập tắt âm mưu lật đổ của cộng sản, nhưng
cũng vì họ không tin tưởng vào chủ nghĩa nghiệp đoàn đấu tranh, và họ đã tiến
hành các biện pháp mạnh để kiềm chế những thái quá trong chuyện cắt đặt người
bảo vệ bãi công và chuyện thương lượng khi tranh chấp chủ thợ. Nếu Bộ trưởng
lao động và Bộ trưởng nội vụ tại Kuala Lumpur kiểm soát chuyện đăng ký thành
lập và giải tán các nghiệp đoàn, công nhân và các lãnh tụ nghiệp đoàn tại
Singapore chắc chắn sẽ chống đối một Liên bang Malaysia tương lai.
Thình
lình, hai ngày trước khi có cuộc đầu phiếu, tám dân biểu PAP đã cùng ký trong
một bức thư ngỏ yêu cầu Chin Chye, với tư cách chủ tịch đảng, phải tuyên bố ủng
hộ phát biểu của “Lục Đại gia” và triệu tập một hội nghị gồm 51 chi bộ của đảng
để xem xét vai trò của đảng trong tình hình chính trị hiện nay. Công khai làm
xói mòn lòng tin của công chúng đối với lãnh đạo và tác động đến cuộc đầu
phiếu, họ đã lặp lại những yêu cầu của Lim Chin Siong: phóng thích các chính
trị phạm, bãi bỏ Hội đồng an ninh nội chính, tự trị đối nội hoàn toàn. Vì tôi
đã không nhượng bộ nên ông Đặc mệnh đã quyết định khiến PAP thất bại tại Anson.
Vào
sát ngày bầu cử, tôi đã công khai yêu cầu ba bí thư chính trị – Lim Chin Siong,
Fong và Woodhull – từ chức. Tôi nói rằng ba người này cùng với tám dân biểu kia
muốn ép buộc PAP phải chấp nhận đường lối của họ, bằng không họ sẽ “lật đổ lãnh
đạo và thu tóm đảng để sử dụng cho mục đích của họ… Điều quá rõ là để ngăn chặn
công cuộc hợp nhất, sáu cán bộ nghiệp đoàn đang sẵn sàng để làm bất cứ chuyện
gì – kể cả phá hoại cái chính đảng mà họ đã làm ra vẻ gắn bó.” Trong nỗ lực
cuối cùng để chuyển hướng cử tri từ PAP sang Marshall, họ đã dốc hết mọi lực
lượng vào cuộc. Ngay cả viên bí thư của chi bộ tôi cũng chống lại tôi, và vì
rằng ông ta có chân trong Ủy ban hải cảng Singapore và có ảnh hưởng ở Anson,
vốn ở gần cảng, nên ông ta đã khiến chúng tôi bị mất đi nhiều phiếu của giới
công nhân cảng người Hoa. Vào đêm kiểm phiếu, ngày 15/7, Marshall thắng xấp xỉ
(3.598, bằng 43,3 %), Mahmud (3.052, tức 36,7 %), SPA giành được có 17,8 %
phiếu bầu. Với tâm trạng tự đắc, Marshall đã mắng nhiếc tôi trong bài diễn văn
chào mừng chiến thắng: "Hãy từ chức đi, và biết đâu khi nghỉ hưu rồi thì
ông mới học được sự khiêm tốn và lòng nhân đạo để trong những năm sau đó cái
tài năng không ai chối cãi của ông mới có thể phục vụ nhân dân chân thành và vô
vị lợi được.”
Tôi
thì quá quan tâm tới cuộc chiến sắp tới nên không thể trả lời ông ta. Những
người cộng sản một lần nữa đã cho thấy họ đang xâm nhập được vào hàng ngũ cấp
cao của các nghiệp đoàn và vào đảng của chúng tôi, đến nỗi trong thời gian ngắn
đã có thể phân tán được phiếu bầu của PAP, và lái công chúng chuyển sang ủng hộ
một kẻ nổi tiếng là hay dao động và không đáng tin cậy. Trong một bức thư ngày
17/7 gửi cho Chin Chye với tư cách chủ tịch PAP, tôi đề nghị xin được từ chức
Thủ tướng. Tôi đã thấy “khúc mở màn của một thử thách thực lực giữa cánh tả phi
cộng sản và cánh tả cộng sản” đi liền với nguy cơ là “sự xung đột chủ thợ vì
các mục tiêu chính trị”. Lim Chin Siong và các đồng chí của ông sẽ cố cưỡng chế
đảng và chính phủ đi vào con đường lìa bỏ Malaysia, và đảng nhất thiết phải
đoàn kết sau lưng lãnh tụ của mình.
Trong
cùng ngày hôm đó, Chin Chye đã trả lời rằng ủy ban chấp hành trung ương đã nhất
trí chọn tôi làm Thủ tướng sau cuộc tổng tuyển cử.
“Việc
phe đối lập của chúng ta kêu gọi ông từ chức chỉ là để đánh lạc hướng công
chúng trước vấn đề sống còn là công cuộc hợp nhất giữa Singapore với Malaysia,
một mục tiêu tâm nguyện của đảng và chúng ta không thể đi trệch khỏi nó được.
Người ta đã từng đề nghị rằng tôi nên làm Thủ tướng thay thế ông. Chúng ta đừng
để bị lừa phỉnh trước nỗ lực muốn phá vỡ sự đoàn kết thống nhất của đảng
và hàng ngũ lãnh đạo của nó.”
Chúng
tôi biết chúng tôi đang đi tới một cuộc so tài cuối cùng. Sau khi chúng tôi
thua ở Anson, tôi dám chắc mọi dân biểu và đảng viên của PAP cũng đều biết rõ
chuyện này và sẽ ủng hộ chúng tôi. Cuộc chiến giờ đây đã mở màn. Chúng tôi phải
đi tới một cuộc chia tay với phái tả của chính chúng tôi. Chúng tôi cần phải
loại trừ ra khỏi đảng bất kỳ những kẻ lập lờ nào trong Quốc hội, và buộc những
người cộng sản bước ra đấu tranh công khai với chúng tôi. Chúng tôi quyết định
triệu tập một cuộc biểu quyết tín nhiệm[25] và
phải công khai tách ly với họ trước khi họ có thì giờ tính lại nước đi của
mình.
[25] Biểu quyết tín nhiệm (vote of confidence): Trong các chế độ đại nghị,
như Anh chẳng hạn, Thủ tướng có thể yêu cầuQuốc hội bỏ phiếu tiếp tục tín nhiệm
chính phủ nữa hay không, thường là khi có những rối loạn chính trị.