Hồi ký Lý Quang Diệu - Chương 21

21

THUA ĐẬM Ở HONG LIM

Tôi
được biết rằng một Ong Eng Guan bất mãn đang có âm mưu cùng với một số dân biểu
nhưng đã không bận tâm lắm, vì tôi tin ông ta chẳng bao giờ có thể kiếm đủ đa
số ủng hộ ông ta. Thế nhưng ông ta lại trở nên liều rồi. Nếu không thể nắm
quyền được, ông ta sẽ phá hoại chúng tôi, cho dù MCP sẽ là người hưởng lợi. Tại
hội nghị đảng vào tháng 6/1960, chi bộ Hong Lim của ông đã đề ra 16 nghị quyết,
bốn trong số đó nhằm giúp ông ta giành được sự ủng hộ của những người cộng sản.

Để
đánh tan nghi ngờ của tôi, Lim Chin Siong và các đồng chí của ông trước đó đã
kháng nghị rằng họ sẽ không dính dáng gì đến Ong. Tổng Liên đoàn lao động đã
đưa ra một tuyên bố nói rằng mặc dù PAP đã có những lầm lỗi, nhưng họ cũng sẽ
không ủng hộ ông ta. Nhưng tôi tin rằng hoàn toàn có thể là họ đã nắm được các
bạn bè thân của ông ta để đẩy ông ta vào hành động này. Các nghị quyết đó kêu
gọi một đường lối chống thực dân hơn nữa, thả ngay tức thì những người bị giam
giữ, và tu chính lại hiến pháp ngay. Nói khác đi, tự trị về đối nội vẫn chưa
đủ. Ong cũng vậy, cũng muốn được độc lập. Trong đảng, ông đã bị cô lập, và sau
hai ngày tranh cãi, hội nghị đã đình chỉ chức vụ của ông cùng với hai dân biểu
ủng hộ là S.V. Lingam và Ng Teng Kian, một người Hoa gốc Hokkien cũng như Ong.
Cả ba người thế rồi đã rời chỗ ngồi của mình và bước sang ngồi bên phe đối lập
trong Hội đồng lập pháp.

Ong
trở nên bồn chồn. Ông đã bị mất đi địa vị ngôi sao và không còn xuất hiện trên
những hàng tít sốt dẻo của báo chí nữa. Do đó ông bắt đầu thu hút chú ý bằng
cách làm những chuyện bất ngờ và chơi nổi. Vào tháng 9, ông đệ trình một kiến
nghị yêu cầu Thủ tướng phải đấu tranh trong Hội đồng an ninh nội chính để phóng
thích vô điều kiện tất cả tù chính trị. Điều này chẳng giúp ích được gì cho ông
ta. Một lần nữa, điều này sẽ chỉ có ích cho những người cộng sản, mặc dù họ
không tin và coi thường ông ta. Nhưng điều đó sẽ gây rắc rối cho chính quyền.
Tôi khi đó đang ở Sarawak, do đó Chin Chye đã đề nghị một tu chính nhằm vạch rõ
rằng chính phủ Liên bang, vốn có tiếng nói quyết định trong Hội đồng an ninh
nội chính, khó có thể đồng ý với chuyện phóng thích những người mà họ nghĩ rằng
đang cổ súy cho sự nghiệp của MCP. Và bởi vì công việc của chính quyền là nâng
cao mức an sinh cho người dân Singapore thông qua việc hợp nhất với Liên bang,
nên chính phủ không có ý đi ngược lại với quan điểm của chính phủ Liên bang.

Chiến
lược của Ong là vạch mặt chúng tôi là những đầy tớ của đế quốc, và ông ta giờ
đây còn tiến thêm một bước xa hơn nữa. Vào tháng 10, ông phát biểu rằng George
Thomson, giám đốc Sở Thông tin, giờ đây là người chỉ đạo và là triết gia của
tôi, tôi là “con rối của người diễn viên nói bằng bụng
và George Thomson là diễn viên đó”. Ông ta muốn làm tiêu tan vị thế của tôi
trong khối dân nói tiếng Hoa bằng cách mô tả tôi như thể cái loa phát ngôn của
một người viết diễn văn và cố vấn thực dân. Ong tuyên bố Val Meadows, người mà
ông ta đã cho triệt hạ văn phòng, và Alan Blades, thanh tra cảnh sát, cũng đang
giật dây tôi như vậy. Khi tôi thách ông ta lặp lại những phát biểu đó bên ngoài
Hội đồng lập pháp, ông ta đã im lặng.

Thay
vào đó, trong kỳ họp kế tiếp của Hội đồng lập pháp, ông ta đã tố cáo tôi là có
tinh thần gia đình trị, khi nói rằng tôi đã bổ nhiệm Kwa Soon Chuan làm phó
thanh tra của Cục thuế nội địa bởi ông ta là anh rể của tôi. Một lần nữa, tôi
đã yêu cầu Ong hãy lặp lại những gì ông đã nói bên ngoài nghị trường, thì ông
ta cũng nín thinh như trước. Chin Chye, với tư cách là chủ tịch Hội đồng lập
pháp, đã đưa ra một kiến nghị kết án Ong có hành vi mất danh dự và ngưng chức
Ong cho đến khi Ong có lời xin lỗi với Hội đồng. Ong đã đệ trình một kiến nghị
tuyên bố Quốc hội không có quyền kết án một dân biểu. Ông đã thách tôi từ chức
cùng với Ong và ứng cử trong kỳ bầu cử bổ sung tại các khu vực bầu cử của mình,
khẳng định lại những lời cáo giác chống PAP của mình, và Ong còn phát biểu rằng
Ủy ban Công vụ gồm toàn những người ủng hộ PAP. Ong đồng ý có một cuộc điều tra
về những lời cáo giác đó, do một ủy ban của toàn Hội đồng tiến hành, nhưng
trước khi Hội đồng họp vào ngày ấn định cho việc này, Ong đã từ chức. Chúng tôi
tuyên bố sẽ thành lập một ủy ban điều tra do một thẩm phán của tòa án tối cao
làm chủ tịch nhằm điều tra các tuyên bố của Ong, và sau khi báo cáo đó được đệ
trình và thảo luận trong Hội đồng, một cuộc tuyển cử bổ sung sẽ được tổ chức ở
Hong Lim.

Vào
ngày 3/1/1961, thẩm phán F.A. Chua được chỉ định làm chủ tịch ủy ban, và từ
ngày 17/1 đến ngày 1/2, ủy ban đã tổ chức mười lần nghe điều trần. Mục tiêu
chính của tôi trong cuộc điều tra này là buộc ông ta phải chứng minh được tất
cả những lời buộc tội mà ông đã gán cho tôi. Báo cáo của Chua, đệ trình vào
tháng 2, cho thấy những tuyên bố đó hoàn toàn vô căn cứ và bừa bãi, và “Ong
chẳng phải là người đáng tin cậy”. Chúng tôi đã thảo luận về báo cáo này suốt hai
ngày ở Hội đồng và đã kết án Ong là có hành vi làm mất danh dự. Tôi đã vạch
trần rằng ông ta là một kẻ nói dối, một con người tầm thường, nhỏ nhen. Tôi hy
vọng rằng điều này sẽ làm lung lay chỗ đứng của Ong trong giới người
Hoa ở Hong Lim. Nhưng tôi đã không thể có sai lầm nào lớn hơn.

Chúng
tôi đã tổ chức một chiến dịch vận động bầu cử suốt 9 tuần liền, từ ngày 11/3
đến 29/4. Chúng tôi đưa ra ứng cử viên là Jek Yeun Thong, phóng viên đã viết
diễn văn đầu tiên bằng tiếng Quan thoại cho tôi.

Tuy
nhiên, sau hai cuộc mít–tinh tại Hong Lim, chúng tôi biết rằng mình vẫn chưa
giành được sự ủng hộ gì nhiều. Hình ảnh của Ong trong lòng người dân ở đó vẫn
không bị sứt mẻ gì cả. Ông ta đã ban cho dân chúng ở đó quá nhiều ân huệ bằng
cách phó mặc đường phố cho những người bán rong. Ông ta đã cho đặt các vòi nước
công cộng, lắp đèn đường và nói về chuyện cấp giấy phép tắc xi thoải mái. Dân
chúng sẵn sàng bỏ qua những lời nói dối và nhiều thất bại khác của ông ta. Họ
bất mãn chỉ vì chúng tôi không chịu cấp nhập cảnh cho bà con của họ từ Trung
Quốc qua, một điều giờ đây ông ta nêu lên thành vấn đề lớn, mặc dù Ong chưa
từng làm như vậy bao giờ lúc còn là một Bộ trưởng. Ong biết rằng nếu chúng tôi
làm như vậy, sẽ có rắc rối lớn với các sắc dân khác, cả với giới người Hoa có
Anh học, và chắc chắn sẽ làm các nhà lãnh đạo Malaysia tức giận. Cử tri không
màng tới bốn kiến nghị có tính chất thân cộng của Ong. Chúng tôi khám phá ra
những chuyện này khi chúng tôi cố làm cho ra lẽ. Tôi đã đi khắp Hong Lim, một
khu bầu cử đông dân nằm ở trung tâm Chinatown, lên lên xuống xuống những cầu
thang gỗ ọp ẹp của những nhà xưởng xiêu vẹo để vận động hầu như tất cả mọi
người, đôi khi còn phải tới lui cùng một chỗ đôi ba lần. Dân chúng tử
tế thì có, nhưng ủng hộ thì không. Chúng tôi đã ráng hết sức mình, nhưng chúng
tôi biết họ đã quá gắn bó với Ong. Và chúng tôi còn phải tính toán đến Lim Chin
Siong, vốn cũng đang bất mãn bởi chúng tôi đã sửa đổi luật pháp để cho phép
chính quyền kiểm soát tốt hơn các nghiệp đoàn thân cộng và các hiệp hội văn hóa.

Lim
Chin Siong muốn bãi bỏ Hội đồng an ninh nội chính bởi ông ta biết nếu ông ta
vượt quá những giới hạn nào đó, Hội đồng sẽ ra tay, và nếu hội đồng ra lệnh bắt
giam các lãnh tụ cộng sản, chính phủ Singapore sẽ không hề có trách nhiệm gì
trong chuyện này cả và không thể bị sỉ vả là tay sai của thực dân
được. Bởi lần này đại diện của chính phủ Malaysia, chứ chẳng phải một thống đốc
người Anh, với lá phiếu có tính quyết định, sẽ là người phát pháo khai hỏa. Khi
chúng tôi từ chối xét lại vấn đề này, Lim đã phát biểu về những chủ trương này
tại một cuộc mít–tinh gồm cả nghìn đoàn viên công đoàn tại Victoria Memorial
Hall và rỉ tai trong khu Hong Lim là không ủng hộ PAP. Khi cuộc đầu phiếu được
tiến hành, Ong đã đánh bại ứng cử viên của chúng tôi với tỷ lệ 7.747 trên
2.820.

Đây
là một thất bại đau đớn, nhưng tôi quyết phải tiếp tục chiến đấu. “Kết quả,”
tôi nói, “cho thấy rõ chúng ta phải xây dựng lòng tin của quần chúng đối với
chúng ta.”

Điều
an ủi trong kinh nghiệm cay đắng này là tôi thấy tin tưởng mình có thể trở
thành một diễn giả Hokkien. Với việc ngưng chức Ong vào tháng 6/1960, chúng tôi
mất đi diễn giả Hokkien giỏi nhất của mình, đủ sức đối chọi được với Lim Chin
Siong. Keng Swee đề nghị chính tôi sẽ là người phải cố gắng trám vào chỗ đó,
chứ chẳng phải tìm một ai khác để rồi người đó có thể lại gây rắc rối cho chúng
tôi lần nữa. Do vậy, tôi bắt đầu học phương ngữ này, tranh thủ một giờ trong
bữa ăn trưa hoặc vào lúc chiều tối, được ba, và thường là năm lần một tuần. Tôi
có hai vị thầy giáo giỏi, nhân viên của đài truyền thanh của chúng tôi. Người
thứ nhất dạy tôi toàn bộ hệ chữ La tinh hóa hiện đại để nắm được cách phát âm
các chữ Hoa theo giọng Hokkien. Tiếng Hokkien chẳng giống tiếng Quan thoại chút
nào, nó có tới bảy âm vận, thay vì bốn, và dùng những kết hợp từ khác nhau để
làm thành động từ, danh từ và tính từ. Nhưng cả hai cũng đều là tiếng Hoa, và
may thay tiếng Quan thoại của tôi cũng đủ giỏi để có thể đi thẳng vào tiếng
Hokkien mà không phải bắt đầu từ đầu, cũng như xuất phát từ tầng hai hay ba của
một tòa nhà 25 tầng. Vậy mà lần đầu tiên tôi phát biểu bằng tiếng Hokkien tại
Hong Lim, trẻ em trong đám công chúng đã cười rộ vì những cái sai của tôi – âm
sai, giọng sai, câu cú sai, hầu như cái gì cũng đều sai. Nhưng tôi không thể cứ
đứng đó mà sượng sùng. Đó là một vấn đề có tính chất sống còn. Đó không chỉ là
việc đấu tranh với Ong. Tôi đang chuẩn bị cho một cuộc tranh tài không thể nào
tránh khỏi với Lim Chin Siong và những người cộng sản. Tất nhiên tôi sẽ thua
nếu tôi không thể nói được phương ngữ đó đủ thành thục để truyền đạt quan điểm
của mình cho khối đa số người Hoa thất học hoặc ít học này, vốn không hiểu được
tiếng Quan thoại. Vào cuối chiến dịch, và sau vô số bài phát biểu, tôi đã nói
được tiếng Hokkien đủ cho người ta hiểu.

Để
học một ngôn ngữ mới ở vào tuổi ngoài ba mươi như tôi, trong khi còn phải ngập
đầu trước hàng khối giấy tờ được đóng dấu nào là Ngay, Khẩn, Bí mật, Tối mật,
rồi biết bao là hồ sơ có những dấu thập đỏ to tướng nằm trên bìa hồ sơ cộng với
hàng dấu Cicero (trình đích danh), đòi hỏi một sức tập trung và nỗ lực gần như
là siêu phàm, tôi chẳng thể làm nổi được chuyện đó nếu như không có một động
lực mang tính bắt buộc. Khi tôi bắt đầu, đúng như một ngạn ngữ Trung Quốc đã
nói, nó khó còn hơn cử đỉnh trước đền. Ngay cả trong lúc ngồi xe đến chỗ
mít-tinh tôi cũng phải nhẩm bài, ôn lại những câu mới. Đôi khi thầy giáo của
tôi phải ở bên cạnh để sửa sai ngay cho tôi sau bài phát biểu đầu tiên và trước
bài diễn thuyết kế tiếp. Mỗi khi rỗi tôi phải tập phát âm lại cho đúng, học thuộc
những từ mới để chúng khắc sâu vào đầu sao cho có thể thốt ngay ra cửa miệng mà
không phải nhìn xuống bản viết sẵn. Tôi phải học cấp tốc.

Bằng
sự thực hành tại chỗ và lặp đi lặp lại qua suốt mấy tháng liền, nói mà không
cần có ghi chép, lầm lỗi và sửa đi sửa lại hoài, cuối cùng tôi cũng đã nói sõi
phương ngữ này, và có thể phát biểu cả nửa giờ đồng hồ mà không phải mò mẫm chữ
nghĩa và câu cú hay loay hoay tìm chúng trong bản viết sẵn có gạch dưới của
mình. Công chúng đã thấy hết những điều này và tôi đã giành được lòng thán phục
của họ. Lúc mới đầu, tôi lúng túng, vụng về và gần như đáng buồn cười. Nhưng
nay tôi đã đứng trước mặt họ, bỗng dưng có thể diễn đạt tư tưởng của mình bằng
ngôn ngữ của họ một cách trôi chảy. Tôi có thể chẳng biết dùng thành ngữ, thậm
chí chẳng có văn phạm gì cả, nhưng lời tôi nói chẳng hề sai trệch ý nghĩa, và
được nói ra với cả sự hùng hồn, đầy cảm xúc và đầy tin tưởng khi tôi biện luận,
ca tụng, cảnh cáo, và cuối cùng cũng đã lôi kéo được một số người đi theo mình.

Tôi
đã trở thành người phát biểu phương ngữ đó cho chính mình. PAP không có một Lim
Chin Siong hay một Ong Eng Guan, vốn là những diễn giả người gốc Hokkien. Dân
chúng biết tôi bước đi từ con số không vào năm 1961 và do vậy đã không nghi ngờ
gì về quyết tâm và nghị lực của tôi. Tôi là người Hakka, và người Hakka là nhóm
dân thiểu số sống giữa những người nói các phương ngữ khác, và được coi là
những người có khiếu ngoại ngữ. Điều này đã tăng thêm huyền thoại. Họ nghĩ tôi
học ngôn ngữ mới một cách dễ dàng cũng là điều tự nhiên. Nhưng chỉ có Choo mới
biết tôi đã phải chật vật như thế nào để nắm được tiếng Hokkien.

Ngay
sau trở lực đó ở Hong Lim, chúng tôi đã phải đối đầu với một trở lực khác nữa.
Khoảng chín ngày trước khi có cuộc đầu phiếu ở Hong Lim, dân biểu đại diện cho
khu Anson là Baharuddin bin Mohamed Ariff chết vì một cơn đau tim. Anh là một
người Malay trẻ mới bước vào độ tuổi ba mươi, một phóng viên của tờ Utusan
Melayu,
từng là nghị viên của PAP trong hội đồng thành phố, một con
người có năng lực, thông minh và đầy hứa hẹn. Đúng là một cú sốc, và điều đó có
nghĩa là phải có một cuộc bầu cử bổ sung khác nữa. Tôi biết những người cộng
sản giờ đây sẽ cố đuổi theo chúng tôi cho đến kỳ cùng. Họ sẽ xem vụ Hong Lim
như một dấu hiệu cho thấy khối người nói tiếng Hoa mà chúng tôi đã chinh phục
trong cuộc tổng tuyển cử thật ra là ủng hộ Ong chứ không phải chúng tôi, và
chúng tôi, những người theo Anh học, không có lực lượng ủng hộ thực sự trong
khối người nói tiếng Hokkien.

Vào
ngày Quốc tế lao động năm đó, khi đến dự cuộc mít–tinh của Tổng Liên đoàn lao
động tại vận động trường Jalan Besar, tôi quyết định sẽ không nhượng bộ. Tôi
trích câu Lim Chin Siong vẫn nói: “Tìm sự tương hợp, duy trì sự khác biệt”, một
khẩu hiệu ngắn gọn mà Mao Trạch Đông thường dùng mỗi khi ông ta kêu gọi một mặt
trận thống nhất trong những vấn đề đặc thù nào đó. Để vạch rõ PAP sẽ không yêu
cầu dẹp bỏ Hội đồng an ninh nội chính khi hiến pháp được tu chính vào năm 1963,
tôi đã phát biểu rằng: “Hãy tìm kiếm sự hòa hợp nếu như các bạn muốn, nhưng là
trên quan điểm của PAP, bằng không hãy giữ lấy sự khác biệt của các bạn và đừng
tìm kiếm sự hòa hợp gì cả nếu như các bạn thấy rằng PAP đi ngược với lợi ích
của các bạn." Chúng tôi tin rằng có thể bỏ ngỏ những vấn đề then chốt về
sửa đổi hiến pháp cho đến năm 1963 được, nhưng vì những biến chuyển trước và
trong thời gian bầu cử bổ sung ở Hong Lim, tôi quyết định phải giải quyết chúng
sớm.

Mấy
ngày sau, một nữ liên lạc viên người Hoa đã đến gặp Choo ở văn phòng, có mang
theo thư gửi cho tôi. Cũng cô liên lạc đó vào đầu năm đã chuyển cho tôi một bức
thư do ông Đặc mệnh gửi, yêu cầu tôi đặt cho ông một cái tên giả để liên lạc
với ông ấy. Tôi đã quyết định chọn cho ông cái tên là "Ping An”, với họ là
“Fang”, nghĩa là “bình an và yên tĩnh”. Lần này ông hỏi tôi có thể gặp ông được
hay không, và nếu được thì quay số điện thoại của cửa hiệu xe đạp trên đường
Rochor.

Tôi
lưỡng lự. Lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau, tôi chỉ là một dân biểu. Bây giờ
tôi đã là Thủ tướng. Nếu tôi bị phát hiện là có liên lạc với kẻ thù, thật rắc
rối vô cùng. Và tôi sẽ phải tới gặp ở địa điểm bí mật nào đó một mình. Một khi
tôi đã là mối đe dọa trong những kế hoạch của họ, những người cộng sản có thể
âm thầm thanh toán tôi. Tôi đã quyết định chơi liều một phen, nhưng có tính
toán trước, để biết ông ta đang nghĩ gì. Điều đó cũng nguy hiểm cho chính ông.
Tôi có thể đến chỗ họp và đã báo trước cho cảnh sát. Họ có thể mai phục ông ta.
Nhưng bằng cách chọn một cái tên giả có bao hàm tên họ của ông ta, tôi có ý cho
biết rằng tôi đã biết ông ta là ai: anh trai
của nghị viên Fung Yin Ching. Nếu muốn bắt giữ ông ta, tôi sẽ không bỏ qua dịp
này, và điều đó cũng để cho ông thấy tôi là người đáng tin cậy. Tôi cũng đánh
liều mà coi ông là một người đáng tin cậy và không lợi dụng tình thế dễ bị
thiệt hại của tôi.

Khi
gọi điện tới, tôi nhận ra giọng trả lời là của người đã tiếp xúc lần đầu tiên
với tôi vào năm 1958. Chúng tôi đồng ý với nhau về địa điểm gặp gỡ, rằng tôi sẽ
tìm một cô gái tóc thắt bím đi bộ dọc theo đường Keng Lee cách chỗ quảng trường
Newton vào lúc 8 tối ngày 11/5/1961. Một lần nữa tôi đã dùng chiếc Morris Minor
màu xanh lục nhạt của cha tôi và đón cô ta lên xe. Ông Đặc mệnh hẳn đã sắp xếp
bám đuôi chiếc xe của tôi để chắc rằng không ai theo dõi chúng tôi cả, nhưng
tôi đã không nhìn vào kính chiếu hậu bởi biết đâu cô ta báo cáo lại chuyện này
và do vậy làm dấy lên sự nghi ngờ và mất tin tưởng. Sau khi đi gần trọn con
đường, chúng tôi dừng lại ở St Michael’s Estate, một khu chung cư đang xây dựng
của Ủy ban gia cư và phát triển nằm trên đường Serangoon. Khả năng và sự thông
minh của tổ chức cộng sản khiến tôi thán phục. Chẳng ai khác có nhúng tay vào
vụ gặp gỡ này ngoại trừ HDB. Tôi bước trong tối, leo lên hai dãy bậc thang của
một khối nhà đang xây dở dang. Vật liệu xây dựng còn vung vãi đó đây, và chưa
có điện có nước gì cả. Khi tôi bước vào căn phòng thắp nến do cô gái chỉ, ông
Đặc mệnh đang đứng đó chờ tôi. Trong phòng chỉ đặt có hai ghế bành và một cái
bàn ở giữa. Ông biết tôi là một người có uống bia nên đã mời tôi loại bia
Anchor. Ông khui một chai, rót đầy một vại cho tôi, rồi cho ông. Ông ta uống
trước. Tôi mong là mình đừng để lộ vẻ ngập ngừng trước khi uống. Chúng tôi phải
tin cậy nhau thì mới cởi mở tấc lòng với nhau được.

Ông
trông khỏe hơn, tuy gầy hơn so với lúc chúng tôi gặp nhau lần cuối cách đây hai
năm. Tôi hỏi ông dạo này ra sao. Ông nói rằng cũng lắm gay go, khá vất vả. Tôi
bảo ông không có vẻ gì là như vậy cả, trông ông khỏe khoắn lắm. Không phải, ông
cảm thấy vậy thôi. Ông cám ơn tôi đã giúp đỡ cho em gái của ông. (Cô đã bị bỏng
lúc còn nhỏ và đôi chân đã bị sẹo nhiều đến nỗi lúc nào cũng phải mặc quần dài.
Vào năm 1960, Choo đã sắp xếp để Yeoh Ghim Seng, giáo sư phẫu thuật và một
người bạn của tôi thời còn ở London, tiến hành ghép da cho cô.) Khi chúng tôi
trở lại đề tài chính trị, giọng nói của ông có vẻ lo âu. Ông nói rằng tôi nên
mau chóng thay đổi cách nghĩ của mình, điều đó có nghĩa rằng nếu tôi không chấp
nhận quan điểm của ông, chúng tôi sẽ tự mình rước lấy cái khổ. Cũng như những
lần gặp nhau trước đây, tôi vẫn giữ thái độ im lặng. Tôi không vội tranh luận
với ông, tôi sẵn sàng hòa giải nhưng sẽ không cam kết gì cả.
Nhưng tôi muốn biết ông muốn nói gì với tôi.

Chúng
tôi đã trò chuyện với nhau suốt bốn tiếng đồng hồ, từ 8 giờ 15 đến quá nửa đêm,
điểm qua nhiều vấn đề. Nhưng ông sẽ quay trở về lần nữa để “trao cho dân chúng
quyền dân chủ, tự do văn hóa, tự do nhập sách vở từ Trung Quốc hơn và được phép
nhập cư thoải mái hơn” – tóm lại, tạo nhiều cơ hội hơn cho các hoạt động của
cộng sản, cho sự bành trướng của cộng sản. Ông muốn chúng tôi cộng tác, không
phải vì nền độc lập, cũng không phải để đòi lại các căn cứ của người Anh –
những chuyện này có thể làm được trong một vài năm – mà là để giải tán Hội đồng
an ninh nội chính.

Ông
băn khoăn trước việc tôi nói rằng chính phủ PAP từ chối chuyện này, và muốn
biết chủ định của tôi như thế nào. Tôi nói rằng nếu tôi kết luận tình huống
hiện tại sẽ chỉ tệ hại hơn thêm trong những năm tới, thì việc chờ đợi cho nhiệm
kỳ năm năm kết thúc sẽ chẳng có ý nghĩa gì. PAP sẽ thất bại. Và tôi sẽ chỉ tiếp
tục nếu có triển vọng rằng các chính sách của mình thành công. Tôi giải thích
rằng phải phụ thuộc rất nhiều vào sự đồng ý của Liên bang về thị trường chung,
để có được cơ hội tốt hơn cho việc công nghiệp hóa và tạo được nhiều công ăn
việc làm hơn. Ông hỏi tôi có nghĩ rằng Tunku sẽ sớm tính chuyện hợp nhất không.
Tôi trả lời rằng không có triển vọng gì lắm, Tunku nhất quyết chống Singapore.
Chúng ta quá Trung Hoa và người Hoa thì lại quá thân cộng.

Ông
cứ nhấn mạnh với tôi hoài rằng mục tiêu trước mắt cho cuộc bàn thảo hiến pháp
trong năm 1963 nên là chuyện giải tán Hội đồng an ninh nội chính. Sau khi quan
sát cử chỉ, giọng nói và sự mong mỏi có PAP cộng tác nhưng theo những điều kiện
của ông, tôi thấy mình ngu lắm mới đồng ý với ông. Rõ ràng ông ta muốn chúng
tôi góp phần vào việc tạo thêm cơ hội cho những người cộng sản bành trướng mặt
trận thống nhất của họ từ 1961 đến 1963, và rồi giải tán Hội đồng an ninh nội
chính cho dù người Anh không thể nhượng bộ cái gì khác được.

Tôi
quyết định rằng cứ quanh co thì chẳng đạt được gì. Tôi đang trong chính quyền.
Nếu bây giờ tôi đồng ý với ông ta, thì sau này, xem những hành động của tôi,
ông ta sẽ thấy là tôi nói dối. Tôi không trực tiếp trả lời với ông là “không”,
mà nói rằng tốt nhất ông ta nên nghĩ rằng PAP sẽ làm những gì mà đảng đã phát
biểu trước công chúng rằng mình sẽ làm. Nói khác đi những tuyên bố công khai
của tôi vẫn nói lên đường lối của tôi trong tương lai. Chúng tôi đã bắt tay
nhau để từ giã. Ông chẳng tỏ vẻ hiềm thù hay oán giận gì cả. Ông có lẽ đã ngạc
nhiên là tôi đã thoái thác, khi mà tôi có thể nói xuôi theo và rồi sau đó làm
theo ý mình.

Lúc
đó tôi cảm thấy rằng ông chưa hiểu hết tình huống rằng chừng nào người Anh chưa
trao độc lập cho Singapore, chừng đó họ vẫn còn có quyền thu hồi hiến pháp.
Chừng nào chủ quyền và các căn cứ vẫn còn trong tay người Anh, chừng đó ông ta
quả là ngu xuẩn mới tin rằng mình có thể khiến cho Hội đồng an ninh nội chính
bị giải tán và xây dựng được sức mạnh của cộng sản tại Singapore nhằm làm suy
yếu được Liên bang. Ông đã tính sai nước cờ. Người cộng sản chẳng bao giờ có
thể kiểm soát được Singapore mà không kiểm soát được Malaysia trước, vậy mà ông
lại hy vọng dùng Singapore để lật đổ chính quyền ở Kuala Lumpur. Sao ông lại
nghĩ người Anh sẽ chịu để cho chuyện đó xảy ra được kia chứ? Thực ra tôi đã nói
với Selkirk ở một cuộc họp của Hội đồng an ninh nội chính rằng người cộng sản
muốn rằng bằng bất cứ giá nào cũng phải biến hòn đảo này thành một căn cứ để
giải phóng toàn Malaysia, và họ đã tích cực cổ vũ cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi
của người Hoa bằng cách đánh mạnh vào nỗi sợ bị người Malay thống trị của người
Hoa nếu như chuyện hợp nhất xảy ra.

Tôi
đã nói với Selkirk và Moore rằng người cộng sản tin rằng hiện tại không cần
phải chống đốì những căn cứ của người Anh, bởi chúng có thể dễ dàng trở nên vô
dụng khi có chiến tranh. Họ cũng chẳng coi trọng luận điểm kinh tế tán đồng
việc hợp nhất và tin rằng, cũng y như Cuba và người Nga vậy, họ có thể trông
cậy vào sự giúp đỡ đại quy mô của Trung Quốc. Như vậy, nếu Singapore không sớm
liên kết với Liên bang, tình thế có thể sẽ trở nên không kiểm soát nổi, nhưng
nếu có thể đưa ra được trước công chúng một đề xuất hợp nhất trong vòng chín
tháng hay một năm, thì chuyện có thể được. Sau đó, có lẽ sẽ là quá trễ. Tôi đã
nhấn mạnh với Moore rằng chúng ta đang ở một thời điểm có tính quyết định, và
nếu người Anh để cho những người cộng sản tin rằng có thể có một Singapore thân
cộng được, họ sẽ gây rắc rối cho cả Singapore lẫn Malaysia. Tôi tuyệt đối tin
chắc rằng cho dù người Anh có chấp nhận chuyện xây dựng bước đầu đi chăng nữa
thì họ cũng sẽ đình chỉ hiến pháp ngay khi mọi điều đã vượt ngoài tầm kiểm
soát. Sẽ có bạo loạn và đổ máu, và những người cộng sản sẽ bị đè bẹp bởi quân
đội Anh vốn vẫn nắm chủ quyền trên đảo này.

Nhưng
chuyện đó ông Đặc mệnh phải hiểu chứ việc của tôi đâu phải là giải thích cho
ông ta.

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3