Độc Huyền Cầm (Phần I) - Chương 09 - Phần 1

Chương 9:
Khán Xuân[1]

“Xuân sang thắm sắc đào hồng

Tuế hàn tam hữu nhủ lòng trúc mai.”[2]

[1] “Khán” là nhìn. “Khán Xuân” là nhìn ngắm mùa xuân.

[2] Ca dao.

Ông trùm Tuân đang ngồi uống nước trên chiếc sập gỗ
chạm trổ tinh vi, từ mũi tỏa ra làn khói thuốc lào trắng xanh, đôi mắt nhắm hờ
khoan khoái, ung dung lắm. Cái điếu bát bằng sứ trắng họa hình hoa cúc màu lam
trước mặt ông là hàng thượng hạng, nhìn qua đủ biết tiền trong túi không hề ít,
công việc làm ăn hẳn vô cùng trôi chảy, xuôi chèo mát mái lắm nên ông mới có
thời gian ung dung, thư thả tận hưởng một buổi sớm yên lành thế này. Chuyện,
giáo phường[3] Khán Xuân nổi tiếng thứ hai đất kinh kỳ thì lấy giáo
phường nào đứng thứ nhất? Trong tay người đàn ông luôn có những cô đào giỏi
giang nhất, xinh đẹp nhất; cuộc hát xướng nào cũng đông vui rộn ràng khiến từ
vương công quý tộc đến quan lại trong triều, rồi hạng thương buôn lắm tiền
nhiều của hay nho sinh dài lưng tốn vải không thể không mở hầu bao, tiền vung
như mưa. Nghĩ cũng thật nực cười khi người ta vẫn coi con hát là đồ xướng ca vô
loại, chẳng xếp vào chỗ nào trong tứ dân[4] nhưng một tiếng hát, một tiếng đàn, một ánh mắt nhìn của
các đào nương lại có thể làm lắm nam nhi đại trượng phu điên đảo, si mê. Si mê?
Phải, mê hát ả đào, mê các ca nương như ông trùm Tuân yêu thuốc lào vậy, là cái
thói đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên[5] chứ đâu.

[3] Một cơ cấu quản lý và đào tạo các đào nương, kép đàn
trong một khu vực, phường, xóm nhất định. Nghĩa nôm có thể được hiểu như phường
xóm dạy những người đi hát.

[4] Phân chia xã hội làm bốn tầng lớp từ cao xuống thấp là
sĩ, nông, công (thợ thủ công), thương.

[5] Lấy từ câu ca dao: “Nhớ ai như nhớ thuốc lào/Đã chôn điếu
xuống lại đào điếu lên”.

Từ trong nhà vọng ra tiếng hát thánh thót, tiếng gảy
đàn, gõ phách của các cô gái làm người đàn ông đang lim dim mắt đắc ý vỗ đùi
đánh “đét”. Ông Tuân đang ngầm nhẩm tính xem sắp tới, khi làm lễ mở xiêm áo[6] cho con bé Huyên, tiền sẽ còn chảy vào túi nhiều đến thế
nào, danh tiếng giáo phường Khán Xuân sẽ còn bay xa đến đâu.

[6] Được coi như “lễ tốt nghiệp” của người học tại giáo
phường, từ đây người đó chính thức mặc áo đào nương, được đi hát kiếm tiền.

Chẳng có ông trùm nào lại không mơ tưởng một ngày được
dẫn người của mình vào trong Cung thành hầu Hoàng thượng. Ấy là cái vinh hạnh
lớn nhất, càng làm cho danh tiếng của chốn này to thêm ra, danh giá nào ai sánh
được. Hồi năm Thái Hòa thứ bảy (1449), Hoàng đế ban yến cho các quan, lại cho
múa nhạc Bình Ngô phá trận. Đận ấy là giáo phường phía Tây kinh thành nhờ lo
lót mà nẫng được tay trên vị trí múa chầu múa ngự chắc như đinh đóng cột của
giáo phường Khán Xuân, làm người đàn ông lẫn các cô đào tức lắm. Nhưng giờ thì
khác rồi. Từ nơi tôn quý đến chốn phố chợ, nào có ai chưa từng nghe danh cô đào
Kim Oanh của giáo phường này, người được coi là đệ nhất ca nương đất kinh
thành. Đấy là còn chưa nói đến những thiếu nữ khác đương phơi phới xuân xanh,
muôn hồng nghìn tía hay những nụ hoa hãy còn e ấp chỉ đợi nắng lên là sẽ nở
xòe.

Rít thêm một hơi thuốc lào, đôi môi thâm mỉm cười đắc
ý. Ông Tuân giờ càng tin hơn con bé được Đào Thịnh đưa về là một khoản đầu tư
chỉ có lãi chứ không thiệt, một đồng cũng không thiệt. Hồi ấy nhìn con bé cũng
gọi là xinh xắn, ưa nhìn ấy, ông trùm cho ý chê vì nó nhỏ người, gầy gò quá,
đào tạo một đứa bé vừa dễ cũng lại vừa nhọc công. Trẻ con trừ những đứa gia
đình phải tội khiến chúng bị buộc sung vào chốn đàn ca này, chỗ còn lại là chúa
nhõng nhẽo, nay khóc, mai lại đòi về với thầy u. Nhưng Huyên thì không thế. Ông
Tuân sẽ chẳng thể nào quên được nụ cười trên đôi môi hồng hồng ấy, quên ánh mắt
phẳng lặng hơi sáng lên lấp lánh khi con bé nhìn thấy những nhạc cụ để trong
ngôi nhà.

Lần ấy hỏi qua quýt vài câu chiếu lệ, dù Đào Thịnh đã
có lời, trùm Tuân vẫn không mặn mà gì với đứa bé gái cho đến khi con bé nhìn
ông, nói mình đã từng học hát và có thể chơi được độc huyền cầm. Đàn tranh
người chơi được từ thành thạo đến mức tài hoa trong giáo phường ít nhất đã có
hai, ba cô; sáo cũng vậy; đàn tì bà cũng thế nhưng độc huyền cầm lại là một câu
chuyện khác. Con gái chơi loại đàn chỉ có một dây, âm thanh như tiếng thở dài
sầu thảm, như tiếng khóc triền miên trong đêm bất tận tự nhiên làm người đàn
ông sành sỏi thấy hứng thú. Quả nhiên con bé chơi được, chơi rất hay, là chơi
thật chứ không phải chỉ là ghi nhớ và tái hiện lại âm thanh từng nghe thấy
trong đời. Giọng hát tuy còn non nhưng nghe ra cũng bài bản, có trầm có bổng,
có khoan có nhặt và nhất là hát bởi niềm yêu thích. Nhưng nếu chỉ đơn giản có
thế ông Tuân cũng chưa ưu ái Huyên đến vậy. Còn là vì đứa bé biết đọc, biết
viết, học vấn lại không hề tầm thường. Điều ấy khiến người đàn ông có chút băn
khoăn lẫn tò mò nhưng rồi cũng đã đồng ý nhận, để đến hôm nay trồng cây sắp đến
ngày được ăn quả ngọt.

Nhớ đến đó, đầu óc còn đưa đẩy đến một câu chuyện
khác. Ông trùm Tuân của giáo phường Khán Xuân là người mê tín. Làm cái nghề này
liệu có thể không như vậy được không, khi mà cái gọi là nhan sắc, tài năng đều
là được ban cho đến đâu là tùy ý thương xót của trời đất? Trong giáo phường, ca
nương, kép đàn lớn tuổi ngoài việc đi hát còn phải truyền dạy cho đám hậu sinh
đủ các ngón nghề. Trong số những người ấy phải kể đến cụ Nguyễn mà ai cũng phải
tôn kính gọi một tiếng “thầy”. Ông cụ vừa giỏi chơi đàn, tinh thông âm luật,
kinh sử, lại rất rành xem tướng số. Trùm Tuân từng dẫn Huyên đến gặp thầy để
xin ông cụ kiểm tra thêm và chỉ dạy đôi đường. Cụ Nguyễn nhìn đứa bé gái hồi
lầu, bảo nó dùng cây đàn tranh tấu một khúc chứ không hề nghe nó chơi đàn bầu
rồi nói nhỏ vào tai ông Tuân rằng: “Tướng mạo cô bé này rất tốt, thanh nhã lại
đường hoàng, có thể mang lại may mắn cho người khác, nên giữ lại bồi dường, sau
này ắt được nhờ. Chưa kể mắt đứa bé này chứa nước, nước mênh mông, lưu chuyển
nhưng yên ả, rất tốt, rất tốt”. Nghe đến thế, ông trùm mừng lắm bởi năm xưa, cụ
Nguyễn cũng đã nhìn mặt Kim Oanh nói nhiều điều tốt đẹp, về sau những lời ấy
đều thành sự thực cả.

Vì trùm Tuân đã có lời kính cẩn xin mình đặt cho con
bé một cái tên như năm xưa từng đặt cho đào Oanh, cụ Nguyễn nhìn cô bé hỏi:

“Tên con là gì?”

“Lạy cụ, tên con là Nguyễn Thị Huyên ạ!”

“Là Huyên à… chữ này cũng tốt đấy nhưng nghe
cả tên vẫn thường quá. Giờ ta đặt thêm cho con một chữ ‘Ngọc’ phía trước, là
‘Ngọc Huyên’ nhớ chưa?”

Cái tên đó giờ nghĩ lại thực sự rất đắt!

Năm đầu ngón tay nhịp nhịp lên đùi, người đàn ông lắc
lư ngâm ngợi lại bài thơ năm xưa từng đưa cho Huyên đọc thử, không ngờ con bé
sống ở một miền quê lại có thể nhận ra đó là thơ của Thượng hoàng Trần Nhân
Tông. Thơ viết:

Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,

Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi.

Khách lai bất vấn nhân gian sự,

Cộng ỷ lan can khán thuý vi[7].

[7] Bài thơ Xuân cảnh. Dịch thơ: (không rõ người dịch)

Chim kêu hoa liễu nở
đầy

Họa đường thềm rợp bóng
mây may

Khách vào chẳng bàn chuyện
thế sự

Đứng tựa lan can ngắm cảnh
trời.

Ông trùm thích tiếng đàn của con bé, rất thích và cũng
rất sợ bởi thanh âm có thể thoắt vui, thoắt buồn, ám ảnh người ta đến mãi về
sau. Một đứa bé có thể tạo ra những rung động như vậy hẳn nhiên khiến người ta
sợ hãi. Vì những lí do ấy nên người đàn ông dặn Huyên hiện giờ nên ít dùng đến
độc huyền cầm, bởi người ta đến giáo phường đa phần là để mua vui, bán buồn,
tìm bạn thơ chứ hiếm người đến mua nỗi sầu của kẻ khác. Độc huyền cầm dùng để
tự sự nỗi niềm thì hợp hơn. Nhưng đầu óc nhanh nhạy của người lèo lái giáo
phường Khán Xuân, quản lý đến cả chục ca nương bảo với Tuân rằng, cũng như
trong lời thơ kia, cô bé ấy là “khách” mà ông không nên hỏi, không thể hỏi,
không cần hỏi những chuyện thế sự chìm nổi xung quanh. Ông chỉ cần chờ, chờ đứa
bé lớn lên thành thiếu nữ giỏi giang tầm cỡ Kim Oanh, bằng tiếng đàn thẳm sâu,
trầm mặc và đặc biệt ấy mê hoặc lòng người là đủ. Nhưng cũng có khi người đàn
ông tự hỏi những thanh âm Huyên dệt nên trên sợi dây tơ đơn độc ấy sẽ làm ai
say mê thực sự, ai là kẻ sẽ cùng con bé “cộng ỷ lan can khán thúy vi”?

Nói thế nào nếu tìm được người như vậy cũng là phúc
phận của một cô gái làm nghề hát xướng.

***

- Em có thể tự làm được! – Hải Triều hơi đỏ mặt khi
đưa tay lấy lại cái khăn gai dùng để kì lưng trong tay Kim Oanh, che trước ngực
mình rồi ngụp sâu xuống nước.

- Tiểu thư, giờ người là thiếu nữ rồi, là người lớn
rồi! – Cô gái xinh đẹp trước mắt gác tay lên thành chậu tắm bằng gỗ, nghiêng
nghiêng đầu nhìn con bé, mỉm cười.

- Em không thích bị gọi như thế! – Nó chun mũi, tiếng
nói thoát ra chen cùng tiếng lụp bụp của nước suýt tràn vào miệng.

Kim Oanh cười khẽ, ngân nga hát một khúc hát nào đó
khi xoay lưng bước ra ngoài, thả buông tấm rèm mỏng xuống để cô bé thấy thoải
mái hơn. Ngoài mặt, người trong giáo phường không hiểu tại sao khi Đào Thịnh
đưa con bé tên Huyên về, ông trùm Tuân lại nhanh chóng gật đầu đồng ý. Họ càng
không hiểu tại sao Kim Oanh lại đứng ra làm người đỡ đầu cho đứa trẻ mới chân
ướt chân ráo đến Đông Kinh, chưa rõ tiền đồ ấy. Ngoài giờ học, việc của Hải
Triều là theo hầu để được cô đào tài sắc này chỉ dạy thêm nhiều điều, thế xét
ra cũng là vinh hạnh. Con bé hoàn toàn không hiểu cung cách hành xử cũng như sự
ưu ái của cô gái này dành cho nó vào ngày gặp mặt. Đầu óc Hải Triều từ lúc rời
phủ Nghĩa Hưng lên kinh thành đến giờ không thể xóa nhòa dáng vẻ phong lưu đẹp
đẽ, nõn nà của Kim Oanh. Ngày ấy nó tuy thẹn nhưng vẫn he hé mắt nhìn tấm lưng
thon với dải yếm lụa đào thắt chặt nhưng vẫn hờ hững của cô gái ấy, ngơ ngẩn
ngắm đôi mắt sắc lóng lánh kiêu kì của chị nhìn đi đâu đó trong lơ đãng trước
khi buông một câu chẳng rõ thâm ý: “Đi theo ta, từ nay em là người của ta”.
Cũng cánh cửa căn buồng này hôm ấy khép lại, đứa bé gái còn sửng sốt hơn nữa
khi Đào Thịnh bảo nó ngồi lên chiếc sập gỗ trải chiếu trắng để nhận cái lạy của
cô gái kia, miệng người ấy không ngớt gọi nó hai tiếng “tiểu thư”.

“Cô không nhớ em là đúng thôi. Hồi ấy cô còn nhỏ, mỗi
lần bà hai bận việc nọ việc kia trong phủ là để em trông cô và cô Hạ Huệ. Giờ
Kim Oanh được đến thế này là do năm xưa được phu nhân Mai Loan dạy dỗ. Xét cả
tình cả lý, bằng giá nào em cũng sẽ chăm sóc cô cẩn thận để trả ơn, trả nghĩa
người!” – Ấy là điều chị nói khi nắm lấy bàn tay của Hải Triều. Cái tên của mẹ,
được nghe người không phải mình nhắc đến chợt làm lòng đứa bé gái có chút xao
động bâng khuâng.

- Chị Oanh… là người lớn… là thế nào? – Bám tay vào
thành gỗ của cái chậu, Hải Triều xoay người lại, gò má ửng hồng vì hơi nước
nóng.

- Là… đến tuổi biết đến chữ “ái tình”, “tương tư”, là
có thể sinh em bé – Đôi môi nhạt màu son đỏ cười cười ra vẻ bí ẩn khi cô đưa
tay xoa đầu đứa bé gái.

Biểu cảm ấy trên mặt Kim Oanh cả Hải Triều lẫn mấy đứa
nhóc trong giáo phường chẳng lạ gì. Mấy chị lớn lúc nào chả rúc rích tụm năm
tụm ba thì thào, cười cười nói như thế, cứ nhác trông thấy bóng chúng nó đến là
im bặt, cứ nghe đám trẻ thắc mắc là lại bảo: “Lớn rồi khắc biết!”. Làm người
lớn thật là phiền, con bé thở phì ra một cái khi múc nước bằng hai tay, soi
bóng mình trong đó. “Ái tình” có giống như tình cảm mẹ giữ trong lòng cả đời
hay không? Cũng buồn như thế, cũng da diết, tuyệt vọng như thế?

Lắc lắc đầu xua ý nghĩ ấy đi, cái khăn gai kì cọ mạnh
hơn một chút khắp người. Lần đầu tiên hành kinh là một kí ức mờ nhạt trong đầu
óc con bé trừ một việc, Kim Oanh và Đào Thịnh dặn nó những ngày ấy phải kiêng
chạy nhảy, kiêng nước. Thật nhớp nháp khó chịu, giờ được tắm giặt không khác gì
lên tiên! Cái khăn đưa qua đưa lại trên nước da trắng ngần chợt ngừng, hàng mi
hơi rũ xuống khi Hải Triều nhớ tới cái đêm nó ngồi cạnh thi hài mẹ trong ánh
đèn leo lét xanh xanh. Run run đưa tay hất chiếc khăn trắng phủ trên mặt Phùng,
vẫn mái tóc đã lốm đốm bạc vấn gọn, chẳng đồ trang sức nhưng cái nó nhìn thấy
là sự thanh thản nhẹ nhàng như thể bà mới chỉ chợp mắt một lúc, sự thanh thản
mà khi còn đương sống chưa lúc nào mẹ được trải qua. Lúc ấy con bé đã nghĩ:
“Hải Triều là gánh nặng của u, giờ u có thể bỏ gánh nặng đấy xuống được rồi. U
đã luôn muốn chết, đúng không? Con chưa lúc nào hiểu u, cũng chưa làm được gì,
những điều u dặn, nhất định con sẽ làm… Người đàn ông con gọi bằng thầy, u yêu
người đến thế sao? Hóa ra u luôn luôn yêu người ấy hơn cả yêu con”.

Khom lưng chuẩn bị những cánh hoa bưởi giúp con bé
xông người, cái nghề này là vậy, ngoài lời hát, tiếng đàn, tư dung luôn phải
xinh đẹp, ưa nhìn, chưa kể da thịt lúc nào cũng phải thơm tho để người đến
thưởng ngoạn được ve vuốt tất cả những giác quan, chìm đắm trong cái đẹp tuyệt
mỹ, Kim Oanh vừa nghĩa thế vừa ngoảnh lại nhìn Hải Triều đang tự mặc đồ cho
mình. Cô tiểu thư của nàng chưa lúc nào làm người khác phiền lòng vì những thói
đỏng đảnh con trẻ, càng chẳng ỷ lại dựa dẫm. Ai cũng bảo đó là một đứa bé ngoan
nhưng lắm lúc nhìn Hải Triều, Kim Oanh chỉ thấy sự cô đơn. Nói trả nghĩa, trả
tình cho phu nhân Mai Loan thì cũng đúng, nhưng dần dần sống lâu với nhau, lẽ
chủ – tớ đổi ra tình chị em, vì là chị em nên nàng bối rối khi đứa bé gái nửa
bình tĩnh, nửa sợ hãi túm váy mình bảo: “Chị Oanh, em bị… chảy máu. Em chẳng
biết tại sao lại như thế nữa”. Kinh nguyệt lần đầu tiên, dấu mốc để một đứa trẻ
thành người lớn – nàng vẫn luôn nghĩ thế – cùng những chuyện liên quan đáng nhẽ
nên là điều mẹ với con gái tâm sự với nhau. Thế mà… “Chị nói với em cũng được,
có sao đâu!” – Đứa bé ngước mắt lên, cười cười khi nói vậy.

- Chị… thực sự thân phụ em và tam phu nhân không hề
giết Thái Tông đúng không? – Hải Triều ngồi xổm xuống sát cạnh cô gái, thì thầm
hỏi sau khi kiểm tra kĩ các cửa ngõ.

Vụ án Lệ Chi Viên, cái đêm quan binh đến nhà bắt người
ngày ấy, những gì Kim Oanh biết, nghe ngóng được suốt ngần ấy năm đều đã kể hết
cho cô bé nghe vào ngày gặp mặt nhưng đến tận bây giờ, nó mới khơi lại. Cánh
hoa trắng rơi xuống cái nong, nàng chăm chú nhìn Hải Triều rồi gật đầu:

- Đương nhiên rồi. Sao có chuyện vô lý như thế được
kia chứ? Cô… à… em định làm gì?

- Em chỉ hỏi vậy thôi! – Con bé
nhoẻn miệng cười, trên đôi má hồng lúm đồng tiền hiện lên mờ mờ.

Giết người đã là một điều ghê sợ,
Phùng trước sau nửa câu cũng không hề nhắc đến những chuyện trong nhà Hành
khiển Nguyễn Trãi nên khi Đào Thịnh cùng Kim Oanh bảo với con bé rằng, gia đình
nó bị tru di tam tộc là bởi cha nó và bà ba vướng vào cái án giết vua, Hải
Triều cảm tưởng như thấy sét đánh ngang tai. Là Phùng sợ đứa con gái của mình
vì không hiểu chuyện nên dễ sinh ra ngờ vực phụ thân hay người lo nó sẽ bị cuốn
vào vòng xoáy hết tranh đoạt lại trả thù? Hải Triều được sinh ra làm người, còn
sống đến bây giờ qua bao nhiêu thăng trầm, người ta bảo rằng ấy là do ông trời
còn có đức hiếu sinh, không nỡ tuyệt diệt gia đình họ Nguyễn. Đào Thịnh đôi lần
cũng thở ngắn than dài bảo, con bé đã được định trở thành tiểu thư khuê các rồi
bỗng dưng sau một đêm, càn khôn chuyển dời thành ra kiếp nô tì cho người ta sai
khiến. Chuyện đó dù là thật đi chăng nữa đứa bé cũng chẳng để trong lòng. Ai
khiến nó sớm mồ côi cha, không họ không hàng, thành cô nhi không người thân
thích? Là địch họa hay nhân họa? Địch họa, thiên tai đổ tại trời, đành cắn răng
mà chịu. Nhân họa thì bằng giá nào nó cũng phải tính. Cái chết của mấy trăm
mạng người, máu chảy thành sông, tiếng báo oán không động trời xanh, thử hỏi ai
có thể chấp nhận một chuyện nực cười đến thế?

- Ngọc Huyên, đằng ấy vào đội tớ
đi, thi với bên kia xem ai thắng. Lần này chỉ thi độc tấu thôi được không chị
Phượng? – Một đứa bé níu níu tay Hải Triều, kéo xềnh xệch về phía mấy cô đào
rỗi việc đang đứng gần đó.

- Thi thì thi chứ chị sợ gì mấy
đứa! – Cô đào Phượng vén tà áo lụa ngồi xuống sau cây đàn tranh, những ngón tay
thon vuốt nhẹ lên những sợi dây đàn tạo thành những âm thanh rung rung trong
trẻo – Chị trước hay em trước đây Huyên?

- Kính lão đắc thọ ạ! – Con bé
cười toe toét.

- Cô cứ nhớ cái mặt tôi đấy nhé!
– Đôi mắt lá dăm của cô gái lườm yêu con bé một cái trước khi quay lại vẻ
nghiêm trang thường ngày khi những đầu ngón tay đã đeo móng gảy, đặt lên sợi
dây đàn.

Những cung bậc đầu tiên vang lên
làm Hải Triều sững người. Nó cũng không rõ là mình nghe chị Phượng đàn hay đang
tự dệt lại những thanh âm trong kí ức. Những ngón tay xinh đẹp kia đang tấu lên
trọn vẹn khúc nhạc ám ảnh con bé suốt những năm tháng tuổi thơ, tươi đẹp, rực
rỡ mà ý nhị. Trong khúc nhạc ấy có cha và một người đàn bà khác lâu nay Hải
Triều chỉ nhớ láng máng chứ chưa thật chú tâm hồi tưởng hay tìm hiểu bao giờ.
Nó còn mải say sưa với cái đẹp đẽ trong những thanh âm ấy.

- Chị Phượng… khúc nhạc này là
của ai sáng tác? – Giọng nói cố làm ra vẻ bình thường nhưng hình như nghe vẫn
hơi lạc đi một chút.

- Em không biết hả? Nói cũng
đúng, dù sao em cũng không phải người ở đây. – Cô gái gật gù thông cảm rồi mới
đáp – Ở kinh thành rất thịnh điệu này. Người ta dù ngoài miệng không dám công
khai nói to nhưng đều đồn đại đây là khúc nhạc năm xưa đại nhân Nguyễn Trãi và
Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ cùng ứng tác. Để gọi là hoàn mỹ thì phải có đàn
tranh cùng sáo trúc song tấu kia.

- Mình cũng nghe thấy người ta
đồn thế! – Một cô đào khác hùa vào, mắt sáng lên khi kể – Hôm bữa đi mua đôi
chiếu, ra đến chợ thấy một nhà xẩm tự nhiên chơi khúc này, thế là làm đám người
xung quanh xôn xao bàn tán, nhắc lại cả chuyện năm xưa đại nhân Nguyễn Trãi có
trêu đùa Lễ nghi học sĩ rằng:

Ả ở nơi nào, bán chiếu gon?

Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?

Xuân xanh nay độ bao nhiêu tuổi?

Đã có chồng chưa, được mấy con?

- Xong nữ học sĩ đáp lại cũng rất
hay nên sau đó hai người mới nên vợ nên chồng còn gì! – Một chị khác e hèm lấy
giọng, miệng cười cười tiếp lời cho trọn ý:

- Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon,

Cớ chi ông hỏi hết hay còn?

Xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ

Chồng còn chưa có, hỏi chi con!

Giọng thơ đùa vui mà thông minh,
rộng rãi khiến đám con gái trong giáo phường khúc khích cười với nhau. Những
vần điệu ấy… quả nhiên là một thiên truyền kì về những bậc tài tử, giai nhân.

- Chị Phượng… em có thể đáp lại
khúc vừa nãy của chị bằng độc huyền cầm được không?

- Ừ… được thôi! – Cô gái gật đầu
đáp, trong lòng cũng có chút thắc mắc vì xưa nay chưa từng thấy con bé trước
mặt dùng đến loại đàn ấy bao giờ.

Có cô huých nhẹ vào eo Phượng,
hỏi:

- Này, ngày xưa bà Thị Lộ từng đi
bán chiếu thật hả?

- Thật chứ sao không. Quê người ở
làng Hới, chiếu Hới chẳng nổi tiếng quá còn gì. Mà cái làng ấy có tên chữ nghe
cũng hay lắm cơ nhưng giờ mình chẳng nhớ ra.

- Là Hải Triều – Một
người đáp.

Bàn tay đang so chỉnh lại sợi dây
đàn đột nhiên ngừng lại. Những ngón tay cầm que gảy bằng tre thoáng run lên.
Ngẩn ra một hồi cho đến khi ai đó siết nhẹ bờ vai gầy, nhìn sang mới biết đó là
Kim Oanh. Chuyện cũ đã qua, bị vùi lấp dưới tầng tầng máu tanh, bụi cuốn, những
người có thể trả lời những khúc mắc trong lòng Hải Triều giờ đều đã chết, người
từ ngày xưa tháng cũ còn sống đến giờ lại không hay. Khóe môi hơi nhếch lên khi
đứa bé gái cúi đầu. Trong đôi mắt đen chỉ có một sợi dây đàn. Là nó ngốc nghếch
nên đến tận bây giờ mới vỡ lẽ một điều: khúc nhạc trên cây độc huyền cầm Phùng
chơi suốt năm năm tháng tháng chính là khúc họa lại từ bản song tấu kia, là
khúc nhạc chỉ dùng để chơi một mình.

“U, chắc người đang rất giận con
đúng không? Con mong là u sẽ như vậy khi biết con vẫn đang giữ cây đàn này.”

Que tre gảy xuống, cổ tay mềm mại
uốn nhẹ cần đàn.

Cùng một khúc nhạc, người cười kẻ
khóc…

Cùng một khúc nhạc, người hạnh
phúc kẻ bi ai…

“Con đã đốt hết, chẳng giữ lại
thứ gì của u trừ cây đàn bầu. Hải Triều chỉ không nghe lời một lần duy nhất này
thôi. Cây đàn này, sợi dây này là nhân duyên của u, sao con nỡ đập vỡ? Con vẫn
nghĩ… chỉ cần con còn gảy lên những nốt nhạc… thì con sẽ còn tìm được người!”

Âm thanh không hề chậm rãi nhưng
sao nghe vẫn dài, vẫn xa hệt như tấm lụa dệt không thấy điểm kết, tung bay
trong gió quấn lấy người. Nếu chỉ là buồn… thì đi một nhẽ. Đào Thịnh không dám
lên tiếng, chỉ đứng tựa cửa trông vào. Cô tiểu thư của người đàn bà gần hai năm
đã qua, dù ngoài mặt có thể cười đến thế nào thì bên trong vẫn là đứa bé con
ngày đầu lạ cảnh lạ nhà đến Đông Kinh; vẫn là đứa bé ngồi thu lu trong góc ôm
chặt tay nải, dõi ánh mắt trong, đăm đăm nhìn ra bầu trời ngoài song cửa.

Hương hoa nhài trên những bộ quần
áo dù cố níu giữ đến mấy cũng dần nhạt nhòa đi theo năm tháng rồi tan biến hết.
Trên nấm mộ sơ sài, cỏ cũng đã lên xanh. Nhiều năm nữa về sau nghĩ lại ngày mẹ
nằm xuống, nghĩ lại lúc nắm đất trong tay mình rơi xuống huyệt mộ sơ sài, Hải
Triều vẫn không biết đến lúc chết rồi, Phùng sẽ đi đâu. Bà liệu có sung sướng
hơn lúc đang sống hay không? Liệu bà có thể tìm được cha? Nếu mẹ không si mê
đến thế, phải chăng đó mới là hạnh phúc?

“U, cuối cùng u muốn điều gì?”

Giữa những nốt nhạc được gảy lên,
hình như đã có lần con bé từng nghe thấy mẹ bảo với cụ tóc bạc, mắt lòa ở quê
rằng:

“Là tình… là nghĩa… là nợ… là
vay. Một ngày cũng nên nghĩa vợ chồng huống hồ… Cái tình của người năm xưa giờ
có thể chẳng còn như cháu từng mong đợi, nhưng cái nghĩa ấy cả đời cháu không
dứt được”.

Trong một thoáng, Hải Triều đã
tưởng mắt mình nhòa lệ. Rồi cũng chính nó tự cười bản thân khi nhớ ra, đôi
tròng mắt của mình vốn làm gì còn nước.

***

Báo cáo nội dung xấu