Câu Chuyện Phương Bắc - Chương 07
Trong đêm, gió đã rắc lên khắp mặt boong "Dũng Cảm" những cánh hoa diếp cốt mộc. Shchedrin bước ra, nhìn mặt boong và nhớ lại những trận mưa tuyết, những ngày mùa đông lênh đênh trên biển Baltic và cuộc hành quân vượt băng.
"Dũng Cảm" đang đứng bên bờ sông Kovzha dốc ngược. Bên bờ kéo dài một vườn cây đã khô héo với lớp hàng rào siêu vẹo. Những bụi cây tầm ma cao luôn luôn lay động và từ đó nhô ra những cái đầu tóc trắng của trẻ con,
- Suỵt! - Anh lính thủy Viner, người Estonia suỵt chúng như sụyt lũ chim sẻ.
Lũ trẻ cười ré lên, ngồi phục xuống trong đám tầm ma, rồi lặng yên. Sau đó nghe thấy tiếng khóc. Như thể có nghĩa là một đứa vào đó là bị gai đâm.
- Cho chúng nó lên tàu, Viner! - Shchedrin nói. - Cho chúng nó xem... Nào, các em ơi! - Anh gọi với – Lên đây!
Lũ trẻ chui ra khỏi bụi tầm ma, túm lại ở bên cầu thang, nhưng sợ không dám lên, chúng cứ đứng nguyên như vậy ở đầu cầu, lặng lẽ ngắm nghía chiếc tàu phóng lôi.
"Dũng Cảm" - đi từ Petrograd vào sông Volga về mặt trận đánh Kolchak. Đoạn đường khó khăn nhất. Kênh đào Mariinsky đã ở lại phia sau. Sự vất vả với những âu tầu đã qua. Trước mắt là hồ Trắng, sông Sheksna, Volga.
Lũ trẻ thở phì phò ở trên bờ, mắt không rời chiếc tàu phóng lôi. Lần đầu tiên trên mặt sông ở quê chúng, thay cho những chiếc tàu kéo bẩn thỉu xì hơi hổn hển, xuất hiện một con quái vật của biển dài ngoẵng và nom thật dữ dội. "Dũng Cảm" trên sông nom cao hơn trên biển – tạm thời nó được rỡ bỏ vũ khí và gánh nặng không cần thiết.
- Các em ơi, làng Megra đây ở chỗ nào ? - Shchedrin hỏi.
Lũ trẻ đưa mắt nhìn nhau rồi định bỏ chạy.
- Đứng lại! - Shchedrin nói. - Em nào can đảm nhất trả lời mau.
Đám trẻ đẩy lên phía trước một con bé mặc chiếc áo sơ-mi dài tới tận gót chân.
- Ở đằng sau gò kia kìa, - con bé nói, rồi cúi gằm mặt xuống tưởng chừng như nó sắp phát khóc đến nơi.
- Sau gò là đâu?
- Đằng kia !
- Nào, tất cả dẫn chú đi! - Shchedrin nói và đi xuống bờ.
Lũ trẻ gót chân trần loang loáng chạy lên phía trước. Sau cổng làng là một khu rừng hồ đào um tùm.
Lũ trẻ vừa chạy, vừa ngoái lại nhìn Shchedrin, chân vấp luôn. Có đứa bị sưng cả chân, mếu máo, nhưng vẫn chạy tiếp, chúng sợ nhất là bị tụt lại và bỏ lỡ mất một câu chuyện lý thú.
Làng Megra ở sau một đỉnh đồi cỏ rừng mốc, ven một chiếc hồ lớn. Lũ trẻ mở cổng làng đe Shchedrin đi qua, nhưng chúng không vào làng. Làng là làg lại những người đàn bà giận dữ đang nhìn ra từ sân bay cửa sổ.
- Thưa cụ, nhà Tikhonov ở chỗ nào? - Shchedrin hỏi một cụ già đang ngồi sưởi nắng với chiếc gậy để bên bờ giếng.
- Ơ, anh bạn quý mến ơi, ở đây có những bốn gia đình thuộc dòng họ Tikhonov cơ. Anh hỏi nhà nào.
Shchedrin đành phải giảng giải là anh cần nhà Tikhonov mà cách đây tám mươi năm có một bà cụ tên là Avdotya.
- À, anh cần nhà ấy cơ đấy! - Ông cụ mừng rỡ. - May là anh gặp lão đây. Chính lão đã gần tám mươi rồi. Ta là con quạ già, không có nói sai bao giờ. Bà Avdotya của anh mất từ khi lão chưa ra đời cơ. Bà ấy thọ lắm.
- Vậy còn ai là giòng dõi của bà cụ còn sống ở đây không ? - Shchedrin hỏi.
- À, thế thì ngoài Nastya, chả còn ai đâu. Có mình Nastya với đứa con gái nhỏ thôi. Kia kìa, chị ta đang giặt ở bên hồ kia kìa. Anh ra đấy đi, đi đi anh bạn.
Shchedrin ra chỗ Nastya. Chị ta đang lấy chầy đập ầm ầm vào đống quần áo xám và quát đứa con gái nhỏ lên năm tuổi.
- Đi về nhà ngay, chùi mũi đi!
- Chị là Nastasya Tikhonova?- Shchedrin hỏi.
Người phụ nữ nhanh nhẹn quay lại và chùi tay vào vạt váy, kinh hãi nhìn Shchedrin.
- Người của hải quân, - chị nói và bình tĩnh lại. - Ông cần việc gì?
- Tôi có chuyện cần nói, - Shchedrin đáp. - Nhưng ở đây không tiện.
- Mời ông vào nhà, - Nastya nói. - Đề tôi xếp dọn xong rồi về luôn... Katka! - Chị la con bé. - Dẫn chú về nhà. Ôi, cái con bé tai quái này!
Katka "tai quái" thở hổn hển, ưỡn cái bụng tròn ra, long trọng đưa Shchedrin về nhà. Giữa nhà một con chó lài già bù xù đang ngồi gãi. Nó ngơ ngác nhìn Shchedrin, hắt hơi làm bụi bắn tung cả lên và lại gãi xành xạch.
- Đây là con Kashtan! - Katka khàn giọng nói. - Nó không cắn người lớn đâu. Nằm im!
Nastya bước vào. Shchedrin vẫn đứng. Nastya lấy vạt váy lau ghế, mời anh ngồi.
- Nào, giờ ta nói chuyện. Tôi cứ đoán mãi xem ông là ai. Chắc ở mặt trận về.
- Không, - Shchedrin đáp, - không phải ở mặt trận về. Gia đình chị có cụ bà nào là Avdotya và con là Semyon Tikhonov đi lính không?
- Có đấy, - Nastya đáp - Ông tôi có kể chuyện ông Semyon đi lính bị đánh chết ở đâu đó nơi đất khách quê người.
- Tôi đã thăm mộ cụ, - Shchedrin nói - Ở xa lắm, mãi tít một hòn đảo bên Phần Lan ấy.
- Chà, thật đáng sợ làm sao - Nastya thở dài và ngúc ngắc cái đầu. - Bị đưa đến chết ở tận đó. Còn chồng tôi cũng bị giết rồi. Bị bom ném từ trên máy bay xuống, thế đó. - Nastya lấy góc khăn tay chùi mắt và hỏi. - Thế ông hỏi gì về người lính kia ?
- Người đó đã cứu ông tôi thoát chết - Shchedrin nói và hơi đỏ mặt lên.
- Thế đó - Nastya lại lắc lắc cái đầu. - Có nghĩa là một người tốt rồi.
Shchedrin kể rằng vô tình anh đến đây từ trên chiếc tầu phóng lôi đang đi trên sông Vonga, rằng từ bức thư của người sĩ quan chết cùng thời với Tikhonov anh biết rõ nguồn gốc của Tikhonov và tiện thể rẽ vào thăm. Đằng nào ở trên ngư hạm cũng chẳng có việc gì làm, họ phải đợi một chiếc tầu kéo đến.
- Chị chỉ có một con gái thôi à? - Shchedrin hỏi, và nhìn Katka.
Con bé đứng bên bếp lò, chân khèo vào nhau và cứ chằm chằm nhìn Shchedrin.
- Không, tôi còn thằng con trai nữa, nhưng cháu hiện ở Petergof, học việc nghề mộc ở nhà một bác thợ mộc người Megrinsky. Cháu mười hai tuổi. Tính cháu hiền lành như bố cháu, đầu óc rất sáng... - Vậy anh có qua Petergof không? – Nastya hỏi, đã chuyển sang "anh", có nghĩa là Shchedrin đã được thừa nhận là người nhà.
- Nếu không bị giết, tôi sẽ tới đó.
- Có thể anh tìm đến thằng con tôi chăng? Anh hãy tìm đến cháu, thăm cháu hộ tôi với. Tôi cho anh địa chỉ.
Shchedrin ghi địa chỉ Aleksey Tikhonov, xóm hoàng cung, nhà bác thợ mộc Nikanor Nikitin.
Shchedrin đã toan ra đi, nhưng Nastya không để anh đi mà chưa mời uống trà.
– Chè làm bằng cà-rốt sấy khô thôi. Nhưng anh cứ uống cho tôi mừng. - Chị âu yếm nói.
Nastya phát vào lưng Katka đánh bộp và con bé chạy bắn ra phố - sang hàng xóm vay đường.
Shchedrin nhìn thấy qua cửa sổ thấp, Nastya đang đặt cái ấm samovar nhỏ đã hóa xanh ở ngoài sân và lấy vạt áo quạt lửa. Sau đó chị đi vào sau vách ngăn, từ đó vọng lại tiếng nước óc ách và tiếng thở dài.
Nastya bước ra, người đã được rửa ráy chải chuốt gọn gàng trong chiếc áo váy hoa mới. Chị xấu hổ, đỏ mặt lên, phủ khăn bàn, loanh quanh bên Shchedrin, xột loạt chiếc váy hồng hồ bột.
Họ uống chè hồi lâu, theo kiểu nhà quê, uống dần từ đĩa nước chè vàng. Nastya cắn đường ròn tan bằng hàm răng trắng khỏe mạnh và bất giác Shchedrin ngắm nhìn chị.
Anh không muốn ra về nữa. Nastya tiễn anh đến cổng làng, không sợ những cái nhìn tò mò ghen tị của các bà, các chị đang nhìn theo từ các cửa sổ.
Bên cổng làng họ chia tay nhau. Chị chìa cho anh bàn tay ram ráp, mắt nhìn xuống và bất ngờ nói se sē:
- Có thể ta lại còn gặp nhau. Anh viết thư nhé.
Shchedrin hứa sẽ viết thư và đi ra khỏi cổng làng. Gần rừng, anh nhìn lại. Nastya đứng đó, khăn tay che cằm và nhìn rõi theo anh. Anh giơ tay vẫy chị. Chị không đáp lại, cứ đứng đó không nhúc nhích gây ra như đá.
Bon trẻ đã đợi sẵn Shchedrin ở trong rừng. Vội vã lấy tay áo quẹt mũi, chúng lại chạy lên phía trước, gót chân đạp tung cả cát bụi. Chúng dẫn Shchedrin đến tận chân cầu tàu rồi dừng lại.
Một giờ sau chiếc tàu kéo đến và bắt đầu vừa huýt còi vừa thận trọng đưa chiếc ngư hạm ra vùng nước sâu.
Trước lúc trời tối, "Dũng Cảm" đã đến hồ Trắng. Nó quả là trắng thực. Nhợt nhạt và bóng loáng. Trên bờ hồ thâm thấp mọc lên những tháp chuông nhà thờ làng quê như những ngọn hải đăng. Sau những tháp chuông, mặt trời to trắng bạch hạ xuống cánh rừng.
Bỗng nhiên từ bờ hồ thoảng lại mùi hoa đồng nội đã héo. Ở đó đã cắt cỏ. Tiếng những người đàn bà hát lanh lảnh và buồn buồn.
Tầu phóng lôi đi theo sông Sheksna xuống miền Nam, trong khi đó trong căn hộ chật hẹp của bác thợ mộc Nikanor Nikitin ở Petergof đang rối tinh rối mù cả lên.
Bạn của bác Nikitin là cụ Prokhor, một người thợ mộc già và khôn ngoan lăn ra ốm, cho người xuống nhờ bác Nikitin thay cho cụ về đóng mấy cái giá sách ở Petrograd, tại đại lộ Kronversky.
Câu chuyện cũng bình thường thôi. Bác Nikitin vẫn thường hay làm việc ở nhà người ta theo đơn đặt, nhưng lần này người đặt hàng là một người hoàn toàn khác thường. Ngay đến Matrena - bà vợ ù ù cạc cạc của Nikitin cũng còn biết đến. Tên ông vang dậy khắp nước Nga, cả châu Âu và có lẽ cả thế giới - tên của một trong những nhà văn vĩ đại nhất của nhân loại tiến bộ.
Nikitin dậy sớm, đánh thức cả nhà dậy, cạo mặt hồi lâu, cái cọ với Matrena và cuối cùng cáu kỉnh bảo:
- Để thằng Alyosha đi với tôi. Làm thợ phụ. Chắc người ta sẽ cho nó vào nhà thôi, cho nó được thấy một con người vĩ đại.
Alyosha tái mặt, kéo lại chiếc áo sơ-mi vải hoa đã bạc màu.
Matrena tru chéo lên:
- Gớm cái con quỷ già này chỉ khéo vẽ lắm chuyện. Mình ông được vào đã là may rồi. Dễ thường người ta chưa được thấy thợ phụ của ông phó mộc bao giờ đấy hẳn!
- Im đi! - Nikitin nói. - Ý tôi dứt khoát là như vậy.
Matrena nhổ nước bọt và nói vào khoảng không:
- Nó chả có quần áo nào thích hợp cả.
- Có gì mặc nấy đi là được rồi.
Nhưng dù sao Matrena cũng đã rút ngay từ chiếc tủ ngăn cũ kỹ, đã nứt nẻ, chiếc áo sơ mi vải hoa mới cho Alyosha và là ngay trên bệ cửa sổ. Alyosha vội chùm lên đầu. Chiếc áo còn nóng bỏng làm rát cả lưng.
- Đi đâu mà vội! – Matrena lại la lên. - Hẵng lau mặt, lau cổ đi đã, để thế này ai mà chịu được. Tôi đến chết với hai bác cháu nhà ông mất thôi.
Trong lúc uống trà, Matrena không nhìn chồng bảo Alyosha:
- Cháu phải nhắc ông ấy! Có biết ông ấy thế nào không? Ông ấy mà đã cao hứng thì lưỡi cứ múa lên thao thao bất tuyệt, không còn biết giữ mồm giữ miệng gì nữa. Ông ấy chỉ sống bằng những câu chuyện thôi.
- Im mồm! - Nikitin nói - Ý bà như thế nào thì cứ giữ bên mình, đừng có chõ vào việc của tôi.
Khi Nikitin và Alyosha đi rồi, Matrena chạy sang mấy bà hàng xóm, kiêu hãnh, đỏ cả mặt lên, kể cho họ nghe là ông già độc ác của bà và thằng Alyosha được gọi đến làm việc ở nhà một người danh tiếng. Mấy bà kia thở dài ghen tị.
- Gớm, lại thế nữa kia, hả bà chị - Họ đua nhau nói. - Thế thì sợ quá! Chẳng lẽ ông ấy đi với thằng trẻ ranh ấy à? Ông ta chả biết trời đất là gì sất. Rõ là một tay liều mạng.
Trong khi đó, ông già "độc ác" rảo bước trên mặt đường lát gỗ mọc lút cỏ, trên những đại lộ Petrograd vắng vẻ, đã khản đặc cả cổ vì xúc động đến nỗi khó cả việc chuyện trò với Alyosha.
- Sao bác mất cả tiếng đi thế này cháu có nghe thấy không? - Ông lo lắng hỏi Alyosha.
- Giọng bác khản đặc. - Alyosha trả lời.
Để sửa giọng, Nikitin vào quán bia uống một vại bia chua, mùi vị giống như nước kvas.
Alyosha Tikhonov mới được đưa về Petrograd một năm rưỡi nay. Chú rất thích ở Petergof. Chú là một cậu bé nhút nhát, nay nhìn mọi vật một cách chăm chú và lâu: biển xanh, những cung điện, những thủy thủ đi đều bước trên đường phố Petergof vắng ngắt. Đôi khi không biết từ đâu vọng tới tiếng súng nồ. Có lần thậm chí có tiếng trọng pháo nổ, Alyosha rụt rè hỏi bác Nikitin như thế là như thế nào. Bác bóp mũi chú và trả lời:
- Đó là để cho các cháu, cho bọn chưa biết suy nghĩ, các bác, các chú đang gắng sức đấy.
Câu trả lời này thật mơ hồ, nhưng Alyosha hiểu được cái chính và sau này bằng cách hỏi han chú đã vỡ ra được những chuyện khác: bolshevik là gì, Yudenich[10] muốn gì, ai là vô sản, ai là tư sản.
Bác Nikitin dạy chú bé nghề mộc và vì chẳng có ai đề chuyện trò, hàng giờ liền bác kể cho chú nghe về nghề mộc cổ xưa, về các đặc tính khác nhau của gỗ, về sơn bóng, về các bậc thầy danh tiếng đã mất từ lâu (Cầu cho linh hồn họ yên nghỉ!). Bác Nikitin nhớ lại những người thếp vàng, những chuyên gia về đồ đồng phù điêu, làm sàn gỗ. Bác biết bí mật của nhiều nghề nghiệp và cố nhồi nhét cho Alyosha.
Alyosha chăm chú lắng nghe. Bác Nikitin đưa cho cháu những quyển sách, khi thì là của Pushkin, khi của Gogol, khi lại là Krestovsky không nổi tiếng mấy, bắt chú phải đọc, sau đó khắt khe đòi chú phải kể lại những cái đã đọc qua. Nhưng Alyosha lại thích vẽ hơn. Chú chẳng có gì hơn ngoài mấy cái bút chì màu, nhưng với những cây chì màu ấy chú bé vẽ nên những bức tranh làm bác Nikitin phải hoan hỉ.
- Cháu sẽ trở thành Repin[11]! - Bác Nikitin vẫn thường nói. - Chẳng cần phải gắng sức cân não gì, bàn tay cháu cứ thế vẽ ra. Phải dạy cháu, thằng ngốc ạ!
Ở đại lộ Kronversky, bác Nikitin và Alyosha cứ đứng mãi trước tòa nhà cao màu xám. Nikanor Ilyich nhìn những khung cửa sổ to rộng và đằng hắng. Sau đó đánh bạo bước vào cổng phụ và hỏi một người nào đó đang quét sàn là nhà văn trứ danh ở đâu.
- Bên trái, cửa thứ nhất. - Người này nói thậm chí không quay lại.
- Thằng cha xấc láo, cái đồ vô giáo dục, - Nikitin nói khi họ đã bước lên cầu thang.
Họ bấm chuông. Bác Nikitin và Alyosha không nhớ được ai đã mở cửa cho họ, dẫn họ vào một căn phòng lớn, trong đó không có người và chỉ có những giá sách kê dọc theo các bức tường. Hàng trăm, hàng nghìn, có thể đến hàng vạn cuốn sách nằm trên giá, trên bàn, trên ghế, trên bậu cửa sổ, ngay trên sàn nhà nữa. Alyosha muốn ngồi xổm ngay xuống, xem chúng từ sáng đến chiều, ít ra là cả năm.
Nikitin sờ vào giá sách bác Prokhor làm dở. Nó được đóng bằng gỗ đỏ, chỉ còn phải đánh bóng nữa thôi.
Bác Nikitin bắt đầu làm việc. Đầu tiên tay bác còn run lên và trái tim như ngừng lại mỗi lần có tiếng loạt xoạt ở phòng bên, nhưng hồi công việc quen thuộc và yêu thích đã làm bác bình tâm. Alyosha chốc chốc lại hỏi: "Thế ông cụ có ra đây nữa không". Bác trả lời:
- Tao làm sao mà biết được. Tao có phải là ông trời đâu chứ!
Bỗng nhiên cửa mở ra, một người cao lớn tóc đã đốm bạc, người hơi gù nặng nề bước vào. Mặt người đó hiền, mũi giản dị, hơi hếch. Trông thật hệt như chú Vasily bốc vác trên tàu chở hàng ở sông Sheksna, mà cả bác Nikitin và cả Alyosha đều quen thuộc. Người hơi gù đó mắc bộ com-lê mỏng màu xám nom rất thoải mái, mềm mại.
Bàn tay lớn của ông nắm lấy bàn tay rây đầy véc-ni của bác Nikitin và vuốt tóc Alyosha từ gáy ngược lên trán, làm tóc dựng đứng cả lên, nhìn nước sơn véc-ni vừa hắng giọng vừa nói:
- Báo làm việc tuyệt lắm. Tuyệt vời đấy!
Alyosha kinh hãi nhìn người cao lớn. Nhà văn trứ danh chính là ông.
Nhà văn móc từ trong túi ra hộp thuốc lá dài, mở ra chìa cho Nikitin. Alyosha tròn mắt ra nhìn. Nikanor Ilyich lịch sự dùng ba ngón tay nhón ra một điếu và châm hút, mặt dầu cả đời chả hút thuốc bao giờ, khước từ đối với một người như vậy thật là bất tiện.
- Chú nhóc tên là gì? - Nhà văn hỏi Alyosha.
- Aleksey, - Alyosha làu bàu cáu kỉnh đáp.
- Aleksey là một vị thánh, bị khâu vào túi vải gai. - Nhà văn nghiêm chỉnh nói, nhưng đôi mắt xanh của ông mỉm cười hiền hậu theo kiểu cách của những cụ già. - Bị đóng đinh để khỏi cáu kỉnh? Thôi, bác làm việc đi. Tôi không quấy rầy nữa.
Ông bỏ đi. Trong phòng bên giọng trầm ồm ồm của ông còn vang lên mặị. Ông đang giải thích điều gì cho ai đó và nói:
- Tôi không phải bảo ban anh, không phải tôi. Nhà văn phải biết tất cả các loại táo, nếu anh ta viết về nó. Chẳng hạn giống táo grushovka hay anisovka. Trên sông Oka tôi có một người bạn làm nghề trồng vườn, một con người có tâm hồn lớn...
Nhưng ngay lúc đó có mấy giọng nói cùng cất lên và lời của nhà văn không nghe rõ nữa.
Alyosha nhìn bác Nikitin làm việc như bị thôi miên. Bác thợ cả làm nên điều kỳ diệu. Chưa bao giờ Alyosha thấy gỗ được phủ một lớp véc-ni mỏng như vậy. Mặt trời hoàng hôn chiếu xiên nghiêng vào căn phòng và dưới chiều sâu của gỗ, những thớ vàng nổi lên. Miếng gỗ tưởng như được ngâm trong một thứ nước màu sẫm nhưng trong suốt và qua làn nước ấy thấy rõ cả cấu trúc phức tạp, uốn lượn, bay bổng của nó.
Nhà văn lại bước vào. Ông hỏi Nikitin hồi lâu về những điều tinh tế khác nhau của nghề mộc. Alyosha kinh hãi nhận thấy Nikanor Ilyich nói chuyện với nhà văn càng ngày càng mạnh bạo hơn và như Matrena nói - chị chực múa lưỡi lên thao thao bất tuyệt, không bao giờ hết.
- Đồng chí là bậc uyên thâm, - Nikanor Ilyich nói. - Xin đồng chí nói cho kẻ ngu đần này: thứ gỗ này kém đá quý ở chỗ nào? Vẻ uốn lượn có, độ bóng - muốn bao nhiêu cũng được, màu đẹp hơn cả thạch ngọc lựu. Tuy nhiên thứ gỗ này chỉ bộc lộ rõ mình dưới ánh đèn nến. Điện không có tác dụng với nó.
Nhà văn nghe, nhíu mắt, rồi mỉm cười.
- Nếu đồng chí có nến và trong phòng tối hơn một chút, tôi có thể cho đồng chí xem vẻ đẹp thực sự của loại gỗ này, - Nikanor Ilyich nói huênh hoang.
- Hay tuyệt, có thể xem được lắm! - Nhà văn trả lời, lại gần cửa sổ kéo rèm cửa xuống.
Trong phòng gần như tối hẳn. Nhà văn bỏ đi rồi trở lại với một cây nến.
- Nào, ta thử thắp lên xem! - Ông nói và Alyosha thấy trong mắt ông ánh lên một vẻ tò mò vui nghịch cũng như các bạn trai lau nhau của chú. - Xem lần này nó ra sao ?
- Lần này sẽ thay đổi hoàn toàn. Nikanor Ilyich nói.
Bác châm nến và đặt lên giá sách. Những thanh gỗ lập tức biến đổi. Nhìn chúng tưởng chừng như vô đáy và đen sẫm. Ngọn lửa nến trôi trong chiều sâu của gỗ như một mặt trời nhỏ trong sương mù. Quanh nó bao bọc một vùng hào quang làm ngời lên chung quanh những vân gỗ. Màu gỗ sáng lên ánh lửa đỏ sẫm của rượu vang.
- Mozart và Salieri[12] - đột nhiên Nikanor Ilyich nói và Alyosha giật bắn người vì điều bà Matrena dặn trước đã trở thành sự thực, - Tôi đọc vở kịch tới hai mươi lần mà mãi vẫn không chán. Mỗi lần đánh bóng gỗ là tôi lại nhớ lại những lời lẽ luôn vương vấn trong lòng tôi: "Tiếng đại cầm vang lên trong nhà thờ cổ kính, tôi nghe, nghe mãi - những giọt lệ ngọt ngào tự nhiên trào ra mi mắt tôi."
Nhà văn nhoẻn miệng cười sau ria mép và gọi những người nào đó từ phòng bên sang. Ông chỉ cho họ xem thân gỗ dưới ánh nến, ngắm nghía và nói bằng cái giọng trầm êm êm những lời nồng nhiệt về vẻ đẹp của nghệ thuật thực sự – dù cho là văn học hay đánh véc-ni.
Alyosha nghe như trong sương mờ. Vì sau đó, câu chuyện chuyển sang môn kiến trúc và Nikanor Ilyich nói oang oang một cách lỗ mãng rằng Voronikhin[13] so với Rastrelli chỉ là nhãi con và một con cún thôi. Tất cả ồn lên, còn nhà văn thì nắm lấy khuỷu tay Nikanor Ilyich và giận dữ nói:
- Cái đó thì bác nói không trúng rồi. Thế Viện địa chất thì sao? Còn nhà thờ Kazan nữa?
- Nặng nề quá. Tòa nhà phải thanh thoát và đóng vững trên mặt đất.
Nhà văn bật cười, nắm lấy vai Nikanor Ilyich lắc mạnh.
Câu chuyện bỗng chuyển sang Alyosha và chủ bé không biết chui vào đâu. Nikanor Ilyich bắt đầu "múa lưỡi" về các hình vẽ của chú và nhắc lại câu nói ưa thích của mình:
- Tự bàn tay cháu nó cứ vẽ mà không cần đến sự gắng sức của cân não nào.
- Học trò của anh đây chứ đâu. - Nhà văn quay về một người có bộ râu thưa và đôi mắt giận dữ nói:
- Tất cả các anh cấm cung trong các xưởng vẽ của mình, không chịu đào tạo học trò gì cả. Đất nước đang có cách mạng mà các anh sống như một đám chuột chũi. Thử hỏi các họa sĩ ngày xưa sống ra sao? Chung quanh họ là một gia đình học trò tuyệt vời như thế nào. Một truyền thống đẹp đẽ. Đầy hiệu quả và vĩ đại. Cần phải trả nó lại cho thời đại chúng ta. Các anh keo kiệt quá, giống như bà cụ tam đại nhà tôi. Cụ chôn tiền giấy xuống đất để khỏi lọt vào tay kẻ khác. Tiền mục hết cả, bạc hết màu. Sau đó cụ đem hong trên bếp lò, nào có ăn thua gì: chả ai lấy cả.
Người gầy nghiêm nghị nhìn Alyosha:
- Để tôi thử xem. Ông ta nói. Tôi mang nó về học viện mỹ thuật.
- Phải làm từ lâu rồi mới phải, - Nhà văn nói cáu kỉnh, hệt như ông đã nói về Alyosha với nhà họa sĩ hàng năm liền. - Anh sẽ tìm được những khả năng tuyệt vời đấy.
Alyosha chẳng còn nhớ được đã cùng Nikanor Ilyich ra khỏi chỗ nhà văn như thế nào nữa. Đêm trăng trùm lên thành phố Petrograd vắng vẻ, mặt nước nhiều mầu lấp lánh mờ ảo, còn ở phía bắc, ngoài những hòn đảo đen ngòm đã ngời lên ánh bình minh.
- Cháu sẽ nên người, Aleksey ạ, - Nikanor Ilyich nói. - Sẽ như thế đó! Ý kiến của bác là dứt khoát đấy!
Ghi chú
[1] Sasha: Tên âu yếm của Alexander Shchedrin.
[2] Đây là một câu thơ - Ackerman hay nói bằng những câu thơ.
[3] Ám chỉ họ là tầng lớp trên, không phải thành phần cách mạng.
[4] Petersburg: Cũng chính là Petrograd và sau này là Leningrad, mỗi thời một tên gọi khác nhau.
[5] Lavr Kornilov (1870 - 1918): Tướng bạch vệ Nga.
[6] Lord Byron (1788 - 1824): Nhà thơ lớn người Anh.
[7] Peter: Tên thân mật của thành phố Petrograd theo cách gọi của dân địa phương.
[8] Francesco Bartolomeo Rastrelli (1700 - 1771): Kiến trúc sư trứ danh người Ý đã góp công xây dựng Petrograd.
[9] Smolny: Trụ sở bộ tham mưu Cách mạng, nơi Lenin làm việc hồi đầu Cách Mạng Tháng Mười.
[10] Nikolai Yudenich (1862-1933): Tướng bạch vệ
[11] Ilya Repin (1844-1930): Họa sĩ vĩ đại người Nga
[12] Mozart và Salieri: Nhạc sĩ vĩ đại người Áo và người Ý. Cũng là tên một bài kịch thơ nổi tiếng của Pushkin.
[13] Andrey Voronikhin (1759 - 1814): Kiến trúc sư người Nga có công xây dựng thành phố Petrograd.

