Câu Chuyện Phương Bắc - Chương 06
Tháng Tư, Shchedrin ra viện. Bác sĩ cấm anh không được trở về tầu. Shchedrin phải nghỉ ngơi lấy lại sức chừng hai, ba tuần sau khi ra viện.
Theo bác sĩ khuyên, Shchedrin thuê phòng ở nhà người đánh cá Peter Jacobsson.
Một căn nhà nhỏ cũ nằm ngay sát mép nước. Căn nhà quét nhiều màu: tường màu xanh đã long lở, khung cửa sổ và cửa ra vào - màu da cam, còn bên trong mỗi phòng một mầu, chắc trước đây đậm sắc hơn nhiều.
Phòng Shchedrin quét màu vàng và treo đầy ảnh của các cụ dòng họ Jacobsson.
Sáng sáng, còn nằm trên chiếc giường gỗ, Shchedrin nhìn ngắm ảnh những cụ già môi mỏng như tạc bằng sắt treo ở trên đầu giường - những thuyền trưởng, hoa tiêu, đã từng một thời sống trong nhà này.
Cũng ngay tại đó, treo ảnh của con gái họ - những cô gái mắt màu sáng với nét mặt niềm nở - và vợ họ - những bà già gầy guộc. Những bà già trên ảnh ngồi thẳng như các vị tướng, đặt những bàn tay gân guốc lên đầu gối.
Giữa những bức ảnh ấy có một bức tranh bằng phấn mầu. Đó là chân dung một phụ nữ trẻ, hàng lông mày duớn cao như đang xao xuyến vì một điều gì đó, ánh mắt u buồn và vầng trán nhỏ thanh tú. Mỗi khi nhìn bức tranh, Shchedrin lại thầm nghĩ người phụ nữ này, đã làm gì ở đây trong thị trấn ngư dân nhỏ xíu này, nơi cách đây một trăm năm chỉ có vẻn vẹn ba trăm người.
Trong nhà Jacobsson sạch sẽ và yên tĩnh, chỉ thỉnh thoảng Jacobsson vừa dậm nhịp vừa hát ở trong bếp, lúi húi với mớ lưới của mình.
Vợ chồng Jacobsson có một con gái lên ba tuổi. Nhưng cháu không sống với bố mẹ mà ở nhà bác sĩ. Vợ chồng bác sĩ không con nuôi dạy con bé và định cho cháu ăn học đến nơi đến chốn. Con bé tên là Maria.
Marta, vợ Jacobsson, là một người đàn bà đãng trí. Ngày nào nhà cũng thấy hết sữa, hoặc con mèo tha mất khúc cá rán từ chiếc chạn bỏ ngỏ. Jacobsson chỉ cười là không giận vợ.
Cuộc sống này gây cho Shchedrin một ấn tượng là anh bị ném ngược trở lại hàng chục năm về trước, đến một đất nước cổ xưa, nơi mà vẫn có những chiếc xe ngựa chở thư và trong các văn phòng người ta vẫn nuôi những con dế mèn trong những chiếc lồng nhỏ để cầu may.
Ngồi trong những căn phòng cổ kính này, đọc những tờ báo bưng bừng khí thế của một thời cách mạng thật lạ lùng.
Những trang báo đầy những lời kêu gọi, sự phẫn nộ, những tin tức giật gân và thông báo Lenin đã trở về nước Nga.
Tên tuổi Lenin đã vang dậy khắp các cuộc mít tinh của hải quân, được nhắc đến ở khắp mọi nơi. Những chiếc tàu phóng lôi vùn vụt mang tên Người đi khắp vùng Baltic khắc khổ. Các đài phát thanh rung chuyển và tóe lửa, truyền những tiếng nói của Lenin tới các tàu chiến, các đơn vị bờ biển, các pháo đài cấm cố, các tàu ngầm. Các tín hiệu viên xếp tên Người bằng những lá cờ sặc sỡ.
Tên tuổi Lenin lan rộng ra, lớn lên, trở thành ngọn cờ và niềm hy vọng của người Baltic. Chung quanh tên Người kết tinh lại sự bất bình của hải quan, ý chí và nhiệt tình cách mạng không gì kiềm chế được của họ.
"Ánh dương của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới đã lóe lên" - Lenin nói trong cuộc đón Người ở ga Phần Lan.
Những lời đó đã lan đi khắp hạm đội. Tưởng như cả biển cũng ầm vang đắc thắng và đồ dồn vào bờ những khối nước khổng lồ sáng loáng, cùng lặp lại những lời nói đó.
Shchedrin thấy người nao nao. Một lần anh đi dự mít tinh trên tầu phóng lôi, thậm chí còn đọc cả một bài diễn văn nồng nhiệt và rắc rối.
Anh em lính thủy vỗ tay hoan hô anh hồi lâu, đúng hơn là gõ những nắm tay chắc nịch, rắn như gỗ xuống sàn rồi bồng Shchedrin từ tầu lên bờ - có lẽ vì thương hại: Shchedrin gần như không đứng vững nữa vì xúc động.
Ackerman đi bằng nạng. Anh có thái độ thiết thực với cách mạng, ngồi lì ở ủy ban tầu và bướng bỉnh cãi cọ với cấp trên và chuyện cơm nước, nghỉ phép, quần áo phát thêm và những vấn đề thiết yếu khác của đời sống lính thủy. Anh ít đùa hơn trước và chỉ thỉnh thỏang rẽ vào Shchedrin anh mới lại đọc những câu thơ yêu thích trước đây:
- Con rắn độc quyền lực của nhà vua đã bị những bàn chân đất của nhân dân xéo nát thành tro bụi. Ngọn cờ đỏ của quân khởi nghĩa phấp phới bay trên đất nước vĩ đại.
Shchedrin thức dậy rất sớm. Chim trong vườn ríu rít gọi nhau. Một biển yên tĩnh chói lòa, bốc hơi, lấp lánh ánh phản quang chiếu xa hàng trăm dặm, vỗ sóng vào bờ biển granite, và, như một đứa trẻ, phả vào mặt một luồng gió nóng ấm.
Shchedrin đi ra nghĩa trang. Trong một buổi sáng rộn ràng như thế này khó bề ngồi yên trong phòng được. Ngoài ra, Shchedrin đã quyết định từ lâu ra thăm mộ Tikhonov và Bestuzhev.
Những bông hoa trắng yếu ớt chồi lên từ kẽ nứt của những phiến đá. Shchedrin bức lấy một vài cành có hoa.
Tại nghĩa trang, Shchedrin vấp phải nấm mồ của các thủy thủ Đức từ chiếc tàu ngầm mà "Dũng Cảm" bắt được, hồi lâu đọc những hàng tên.
Gần bên một trong những hòn đá phủ đầy rêu, anh nhìn thấy Marta. Chị ngồi, vẫn cái dáng điệu kinh hãi và nhợt nhạt như mọi lúc, mỉm cười nhìn Shchedrin. Tay chị cầm mớ cành tùng đen sẫm, chắc chị mang đến để đặt lên mộ người thân. Shchedrin được biết một năm trước đây chị đã bị mất đứa con trai lên bốn tuổi.
Anh lại gần và chào hỏi. Marta biết rất ít tiếng Nga. Tuy thế, hai người vẫn hiểu được nhau.
Shchedrin đọc hàng tên trên mộ chỉ và ngạc nhiên. Dù tên khắc bằng chữ Thụy Điển, Shchedrin cũng hiểu được ngay là dưới nấm mồ này yên nghỉ một người phụ nữ nào đó hai mươi tư tuổi tên là Anna Jacobsson, mất năm 1827.
- Người này là thân thích của chị ư. - Shchedrin hỏi.
Marta mỉm cười nhìn anh nhưng không hiểu.
- Người này là ai ? - Shchedrin hỏi và chạm tay vào tấm bia.
- Anna, - Marta nói, - bà nội của Peter. Có bức tranh ở phòng anh đấy. Đẹp thật. Bà mất vào ngày này đấy.
Shchedrin gật đầu. Anh đoán ra đây là người phụ nữ mà anh vẫn thường ngắm trong bức tranh treo trên mặt bàn trong phòng anh
- Còn tôi thì tôi đi tìm mộ của Pavel Bestuzhev. - Anh nói.
Marta đứng dậy và dẫn anh đến một tảng đá lớn. Nó lún vào trang đất và đã mòn nhẵn vì gót giày của các anh em lính thủy, chung quanh rêu mọc xanh rờn. Shchedrin đặt những bông hoa lên phiến đá. Đã có lúc anh cười giễu sự đa cảm của các bà cô anh, còn giờ đây chính anh đang cảm thấy một nỗi xúc động khó hiểu trước nấm mồ của những người đã cứu sống ông anh.
- Dưới mộ này an nghỉ những người rất tốt, - anh nói với Marta. - Họ đã cứu sống ông tôi.
Marta vui mừng gật gật đầu.
- Anh nói là "ông tôi"?
- Đúng thế.
Marta vội vã nói lẫn lộn tiếng Nga và tiếng Thụy Điển. Chị nắm lấy tay áo Shchedrin và nhìn vào mặt anh, chị cười và thậm chí má chị hồng lên.
- Tôi không hiểu, Shchedrin nói.
Marta nhăn trắn, cố tìm những từ Nga nhưng không đủ và Shchedrin lại chẳng hiểu gì cả.
Marta ấm ức cắn môi, nước mắt trào ra. Chị phẩy tay và nhanh nhẹn đi về thành phố. Shchedrin ngơ ngáo nhìn theo. Gió thổi phồng vạt váy rộng của chị, Marta đi không ngoái nhìn lại.
"Mình đã làm chị ta phật ý vì điều gì?" - Shchedrin bối rối nghĩ, ngồi xuống bên mộ hút thuốc. Những con bướm non nhợt nhạt mới nở bay lượn chung quanh sưởi mình trong ánh nắng.
Shchedrin trở về nhà, Cả Marta, cả Peter đều không thấy đâu, chỉ có con mèo nhõng nhẽo oằn mình bên cạnh cửa ra vào.
- Thế nào, lại ăn vụng cá rồi phải không? - Shchedrin hỏi.
Chú mèo khàn khàn kêu meo meo.
Shchedrin tháo bức tranh của Anna Jacobsson treo trên tường, ngắm nhìn hồi lâu. Shchedrin còn chưa yêu ai bao giờ. Quả thực có một thời ở Petrograd, anh vẫn đi ra bãi trượt băng để được nhìn thấy một cô nữ sinh trung học, người cao, ngày nào cũng đi trượt băng. Mỗi lần cô ta ngã và lại đứng dậy ngay, phủi tuyết khỏi đôi găng tay và chớp chớp đôi mắt để rũ những bông tuyết dính vào mi, tim Shchedrin lại đập dồn dập. Nhưng chẳng bao lâu, cô nữ sinh biến khỏi bãi băng và Shchedrin đã quên cô.
Shchedrin nhìn bức tranh, nhìn đôi môi khắc khổ dịu dàng và nghĩ rằng người phụ nữ này anh có thể yêu đến hết mình và chung thủy. Một điều bí mật buồn bã nào đó ẩn sau gương mặt này.
Shchedrin giật mình và treo bức tranh lên chỗ cũ. Có người vào nhà. Nghe tiếng gõ cửa, Shchedrin kêu lên:
- Mời vào!
Cửa mở. Ông bác sĩ xuất hiện ở cửa. Mớ tóc trắng của ông còn rối hơn cả mọi lúc, mắt sáng lên, khuôn mặt nở một nụ cười long trọng. Sau lưng ông là Peter và Marta đang đứng vẻ e thẹn.
- Chào anh bạn của tôi, – ông bác sĩ nói vang cả nhà và xiết chặt tay Shchedrin. - Tôi đến với tư cách là người phiên dịch... Vào đây! – ông gọi to vợ chồng Jacobsson. - Ngồi xuống ghế này và ta nói chuyện.
- Có chuyện gì xảy ra vậy? - Shchedrin hoang mang hỏi.
– Anh sẽ biết ngay bây giờ! - Ông bác sĩ nói oang oang và cười to. - Anh sẽ biết tất cả ngay bây giờ. Nhưng trước hết hãy hôn người phụ nữ này và anh chàng thộn Peter Jacobsson này đi đã. Nào!
Ông bác sĩ hét "nào" một cái, kính cửa sổ rung cả lên và con mèo cong đuôi chạy khỏi phòng.
- Được lắm!, - Shchedrin mỉm cười nói. - Tôi bao giờ cũng vui sướng hôn những con người này. Nhưng, vì chúa, bác sĩ hãy nói cho tôi biết như thế nghĩa là thế nào đã chứ?
- Hôn nhau đi! - Ông bác sĩ nói và dậm chân một cái.
Marta rụt rè lại gần Shchedrin, lấy vạt tạp dề chùi môi, rồi hai người hôn nhau. Peter hôn theo kiểu con nhà chài lưới - ba lần, bộ râu lởm chởm làm đau cả mặt Shchedrin.
- Anh sẽ được biết là cả ở thế kỷ hai mươi cũng xảy ra những chuyện thần thoại - ông bác sĩ nói vẻ đắc ý. - Tôi đã chán đọc mãi chúng trong các sách. Tôi vẫn hay nói với vợ tôi: "Mình cứ kêu buồn chán ở Aland vô ích. Ở đây mỗi ngày đều có những câu chuyện lý thú của nó. Những ngày trôi qua trước mặt ta như những người thân quen hiền hậu và mình sẽ rất luyến tiếc về đảo quê hương của chúng ta khi rời khỏi đây." Anh hãy tự suy ngẫm xem. Có ở đâu anh được thở không khí như ở chỗ chúng tôi? Ở đâu biển trong như ở đây? Không đâu cả! Đã bao giờ anh sống giữa những người đôn hậu và trung thực như thế này chưa? Chưa bao giờ!
- Tất cả đúng như vậy. - Shchedrin đồng ý. - Nhưng tôi chẳng hiểu gì cả. Có điều gì thần kỳ xảy ra bây giờ?
- Ta vào chuyện ngay - Bác sĩ nói. Ông ngồi xuống và bới tóc rối tung lên. - Nếu ở đây không có chuyện nhầm lẫn nào thì anh chính là cháu của người chiến sĩ tháng Chạp đã được cứu sống ở đây, trên đảo Aland này bởi hai người Nga - lính và sĩ quan.
-Vâng. Shchedrin nói. Hình như đúng như thế. Nhưng làm sao bác biết được điều đó?
- Qua Marta - ông bác sĩ nói. Tự anh đã kể cho chị ấy. Giữa những người đi biển ở đây có nhiều loại quan hệ thân thích khác nhau. Đối với chúng ta nhiều khi cho là lạ lùng. Chúng ta chỉ thừa nhận họ hàng theo quan hệ máu mủ, còn những con người chất phác này còn có thêm họ hàng giữa những người đi cứu và những người được cứu thoát. Nếu một người trong gia đình này cứu người của gia đình kia, thì hai nhà là họ hàng của nhau. Đi biển là một công việc nguy hiểm, phải cứu nhau luôn. Điều này dẫn đến chỗ là gần như tất cả dân trên đảo đều là họ hàng thân thích của nhau. Và theo luật của đảo này, thì Peter Jacobsson, Marta và con gái họ là Maria đang ở với chúng tôi, trong một chừng mực nào đó là họ hàng của anh.
- Nhưng hình như ông tôi đã được người Nga cứu cơ mà!
- Rõ là anh không được biết chuyện gì cả. Ông anh được chuẩn úy Bestuzhev và vợ ông cứu sống. Hình ảnh nàng anh đang nhìn thấy ngay trước mặt. Nàng đây này.
Bác sĩ chỉ bức tranh vẽ Anna. Thì ra người phụ nữ có vẻ mặt hấp dẫn và khác thường này là người như thế đấy!
- Trong gia đình Jacobsson còn sống mãi hồi ức về tất cả mọi sự kiện liên quan đến việc giải thoát cho ông của anh. - Bác sĩ nói tiếp. - Điều ấy cũng dễ hiểu. Hãy tưởng tượng một gia đình hàng trăm năm không có chuyện gì xảy ra. Đàn ông thì đi biền, về già thì làm nghề chài lưới. Phụ nữ ngoài nhà cửa và con cái, chẳng còn nhìn thấy gì khác. Nghe nói nhà Jacobsson trước đây giàu có, thậm chí có cả tàu chạy buồm, nhưng điều đó đã lâu lắm rồi. Người thuyền trưởng cuối cùng, cha của Anna, bị phá sản, khi về già chỉ là một người gác đèn biển ở Erasgrund. Nhưng ông đã cho con gái học hành ở Stockholm. Đó là một cô gái khác thường. Anh hãy thử tưởng tượng xen cái gia đình buồn tẻ và tử tế ấy bất ngờ bị cuốn vào cơn bão của những sự kiện buồn thảm và không thể tưởng tượng được. Trong nhà họ xuất hiện người sĩ quan Nga trẻ tuổi Bestuzhev. Cực chẳng đã, người ta phải cho anh vào nhà. Ông già sợ và không ưa người Nga. Viên sĩ quan yêu Anna. Anna cũng yêu lại anh; nàng là một cô gái của những tình cảm lớn và khó tính. Ông già chẳng muốn nghe đến chuyện con gái lấy chồng người Nga. - Bác sĩ nín lặng để hút thuốc. - Thế rồi trên đảo người ta bắt giữ một người tham gia khởi nghĩa tháng Chạp. Ông ta định đi theo lớp băng đóng trên mặt vịnh giá rét căm căm sang Thụy Điền, vấp phải lính gác và bị bắt giữ. Những người dân chài và thuyền trưởng ở đó xôn xao cả lên, nảy ra ý đồ cứu người bị bắt, đánh tháo ông ta và đưa sang Thụy Điển. Pavel Bestuzhev đã đứng đầu âm mưu này. Khi đó cha của Anna đã dịu đi, ông tin ở sự cao thượng của người Nga kia và cho con gái được lấy anh ta. Nhưng số phận đã quyết định khác hẳn. Bestuzhev mấy ngày sau đã chết trong cuộc đấu súng. Người bị bắt chạy thoát nhờ sự giúp đỡ của Anna và các thủy thủ.
-Vì sao lại có cuộc đấu súng? - Shchedrin hỏi.
Bác sĩ nói bằng tiếng Thụy Điển với Peter và Marta, rồi trả lời:
- Bestuzhev đã tát vào mặt viên sĩ quan thủ trưởng của mình vì hắn đã cư xử thô bạo với người chiến sĩ tháng Chạp và đã lăng mạ Anna. Viên sĩ quan đã giết anh. Tám tháng sau ngày Bestuzhev chết, Anna đã sinh ra một cháu trai, con anh. Đó là cha của Peter. Chẳng bao lâu sau, Anna mất. Nàng bị đau yếu mãi, thậm chí ở đây người ta còn coi nàng là dở người nữa.
- Bác hãy hỏi hộ, - Shchedrin nói. - Người lính được chôn cùng với Bestuzhev là ai.
Bác sĩ lại nói tiếng Thụy Điển với vợ chồng Jacobsson và nhún vai:
- Họ không biết. Họ nói người lính đã chết sau khi bị phạt đòn, vì tội gì thì không thấy ai kể lại. Họ nghĩ là vì sự giúp đỡ cho người tháng Chạp.
Shchedrin nhìn Peter. Peter vỗ vào vai anh và cười. Anh quay lại Marta và nói gì với Marta, có lẽ là điều quan trọng. Marta vội vã đi ra rồi trở lại với quyển sách nhỏ bọc bìa da và đưa cho Shchedrin.
- Đây là cuốn sách của Bestuzhev - bác sĩ nói. Đây là kỷ vật duy nhất. Người ta đã tìm thấy ở Anna.
Shchedrin nương nhẹ cầm quyển sách, lật tờ bìa ra và đọc: ''Eda, tiểu thuyết Phần Lan của Yevgeny Baratynsky".
Marta thẹn thò nói gì với bác sĩ. Ông dịch lại:
- Trong cuốn sách này có bức thư. Nó cũng lưu lại sau Anna. Nàng không bao giờ rời nó.
Shchedrin lật những trang sách và rút ra mấy trang giấy cứng đã ngả vàng viết bằng bút lông ngỗng. Rõ ràng người viết đã vội. Trang giấy còn dây nhiều vết mực.
"Anna, - Shchedrin đọc, - anh đã phạm một tội lớn, không nói gì với em về cuộc đấu súng sắp tới ..."
Từ bức thư toát lên mùi hoa oải hương.
Shchedrin đọc bức thư và nhíu mắt lại, tay anh bắt đầu run lật bật, đến nỗi anh phải đặt bức thư xuống bàn để khỏi lộ rõ nỗi xúc động.
Bác sĩ và vợ chồng Jacobsson cố không nhìn Shchedrin. Bác sĩ gõ gõ ngón tay lên mặt bàn và se sẽ hát. Ông chỉ làm như vậy mỗi khi lòng ông xôn xao mạnh.
Gần như suốt đêm Shchedrin không ngủ. Anh đọc đi đọc lại bức thư của Pavel Bestuzhev, đọc lại "Eda" của Baratynsky và suy nghĩ mãi về những chỗ có gạch bút chì. Shchedrin đặc biệt nhớ hai câu thơ:
Đến bao giờ, bao giờ, tuyết hỡi,
Xóa sạch dấu chân ta dưới cõi trần.
Ngoài cửa sổ đêm thanh thanh mờ sáng. Mặt nước lấp lánh như giấy bạc. Hoàng hôn tàn dần trong bóng tối miền Bắc. Mùi cỏ cây, mùi đá ẩm ướt hòa cùng tiếng chim lọt vào phòng.
Trong những đêm như vậy tất cả đều cảm thấy tuyệt đẹp, thậm chí cả những gương mặt người bình thường. Gương mặt của Anna lại càng đẹp bội phần.
"Những đau khổ và cái chết của chúng ta", - Shchedrin đọc dòng chữ trong thư - "sẽ dội vào muôn trái tim niềm xúc động mãnh liệt."
"Làm thế nào để thực hiện điều tiên tri ấy" - Shchedrin suy nghĩ. Nếu anh là nhà thơ, hay một lãnh đạo quần chúng, tất anh đã tìm được những lời để kể cho hàng ngàn vạn con người về số phận của Pavel Bestuzhev với Anna và được đáp lại bởi sức mạnh đồng cảm vĩ đại. Nhưng thậm chí trong bức thư gửi cho mẹ, anh cũng không tìm được lời viết điều đó.
"Ừ, mà có cần phải thế không?" - Shchedrin nghĩ. Cả ông nội và Bestuzhev đều tin ở ngày trả hậu. Nỗi hận đã đã được trả xong. Chẳng lẽ những thủy thủ, binh lính, công nhân, nông dân đã lao vào cuộc cách mạng như một cái gì thân thiết nhất của mình đã không trả thù cho ông nội anh, cho Bestuzhev, cho Tikhonov, không chiến đấu cho một đất nước tự do mà họ hằng mơ ước suốt một thế kỷ trước đây?
Shchedrin đón thận bức thư của Bestuzhev như một lời di chúc, một lời hiệu triệu, tiếng kêu xa xăm vọng ra từ vực sâu của một thế kỷ nặng nề và đẫm máu: "Đừng quên chúng tôi, hỡi những người hạnh phúc!"
Mấy ngày sau "Dũng Cảm" được lệnh đi Helsingfors. Shchedrin trở về tàu phóng lôi.
Trong những ngày cuối cùng, vợ chồng Jacobsson cư xử với anh như một người thân thích gần gũi. Marta suốt ngày loay hoay dưới bếp, đãi anh bằng những món ăn bình dị và ngon lành. Chị đã đặt tất cả sự khéo léo của mình vào việc nấu nướng. Peter luôn luôn nói chuyện với Shchedrin về cách mạng, về những thời gian đã qua, về chiến tranh, và dắt anh ra bờ biển chỉ cho anh chiếc thuyền cũ và đồ chài lưới của mình.
Một lần, Shchedrin cùng Marta và Peter đến chơi nhà bác sĩ. Vợ chồng Jacobsson muốn cho anh xem mặt con gái của mình và đã gọi nó là cháu của Shchedrin, tự hào về mối quan hệ thân thích mới.
Trong nhà bác sĩ sạch sẽ bóng bẩy lạ lùng, vẻ sạch sẽ chỉ thường thấy ở nhà những người dân miền Bắc. Sàn nhà, tường, cửa sổ, bát đĩa, thậm chí cả trần nhà đều bóng lộn.
Shchedrin không hiểu gì về trẻ con. Nếu có ai bảo với anh đứa trẻ này xinh quá thì anh đồng ý luôn mặc dầu chàng bao giờ nhận ra những đứa bé xinh hay xấu xí. Anh có cảm tưởng trừ những trường hợp ngoại lệ hãn hữu, mọi đứa trẻ đều giống nhau. Và bây giờ anh sẵn sàng đồng ý rằng con bé rất đáng yêu.
Shchedrin được mời ngồi vào đi-văng. Con bé ngồi bên cạnh anh. Nó ngắm nghía mãi vòng tay áo nạm vàng của Shchedrin và khẽ lấy móng tay cậy ra.
Shchedrin tranh luận với bác sĩ liệu cách mạng có xảy ra ở Scandinavia hay không. Cuộc tranh luận bị ngắt quãng vì tiếng kêu thất kinh của bà vợ béo của ông bác sĩ.
Trong khi họ tranh luận, con bé đã kịp cậy ra một vòng tay áo. Nó cậy rất nhẹ tay bằng một chiếc kéo nhỏ.
- Trẻ con nó cũng thích vàng y như những con chim ác là, - ông bác sĩ cười vang.
Con bé xấu hổ, chúi đầu vào đầu gối Marta.
Bà vợ ông bác sĩ đeo cặp kính gọng đồi mồi, lấy tráp đựng đồ khâu ra, đính lại vòng tay áo nạm vàng. Những cuộn chỉ mầu nằm trong hộp tráp như những con dím – những chiếc kim cắm trên mình chúng đâm lên tua tủa.
Trước khi Shchedrin ra đi, Peter nói với anh rằng hai vợ chồng họ muốn tặng anh làm kỷ niệm không chỉ cuốn sách với bức thư mà cả bức tranh Anna nữa.
Shchedrin thực cảm động. Họ đã tặng anh cái đã được truyền từ đời nọ sang đời kia như một bảo vật vĩ đại nhất.
Từ Helsingfors, Rosen được triệu về Petrograd. Vitya "nửa người" rời khỏi tầu vì bệnh tật và Shchedrin được cử làm chỉ huy của "Dũng Cảm".
Những ngày, tuần lễ và những tháng trôi qua trong sự căng thẳng triền miên, trong các cuộc mít-tinh, các cuộc tranh cãi đến mất cả giọng, trong sự chờ đợi cơn bùng nổ chống lại chính phủ lâm thời không tránh khỏi.
Những sự kiện sầm sầm đổ tới. Cuộc biểu tình tháng Hai ở Petrograd, Lenin rút vào bí mật, chính phủ lâm thời giải tán Ủy ban Thường vụ hải quân hạm đội Baltic, cuộc tổng đình công ở Helsingfors. Vào đầu tháng Tám, quân Đức phá vỡ trận tuyến, đánh chiếm Riga và những trung đoàn của Kornilov[5] tiến về Petrograd.
Một phần thủy thủ rời "Dũng Cảm" dưới sự chỉ huy của Marchenko đi đánh nhau với Kornilov. Ngư hạm vắng hẳn người.
Mùa hè lặng gió đến. Shchedrin cảm thấy nó nóng ẩm và yên ổn khác thường, có thể vì ở khắp nơi trong hạm đội, trong thành phố giông tố đang diễn ra.
Thư mẹ không đến.
Shchedrin thường hay xuống phòng máy và cùng với các thợ máy lau chùi, bôi mỡ cho các phần lạnh của động cơ. Máy móc, cũng như những con người dường như đang chờ đợi những sự kiện không thể đảo ngược được.
Mùa thu đến ẩm ướt và ấm áp. Sương mù thấm qua các tấm lá vàng. Dưới sức nặng của hơi nước lạnh lẽo và trở nên không còn cần biết nữa, những chiếc lá lìa cành rơi xuống cỏ, xuống hè đường lát đá hoa cương.
Đôi khi Shchedrin vào thành phố thăm Ackerman. Ackerman, vì chân đau mà không phục vụ được ở trên tàu phóng lôi nữa và vốn là chuyên gia về ngành thông tin, anh được cử làm chính ủy trạm điện báo. Sau mặt bàn chất đầy những băng điện tín, Ackerman đọc cho Shchedrin nghe theo những bằng giấy dài những tin cuối cùng bao giờ cũng làm bàng hoàng chấn động.
Hai người cùng đi ra phố và Ackerman dẫn Shchedrin vào một tiệm cà-phê bao giờ cũng vắng như một hòn đảo giữa đại dương bão tố.
Ackerman xé vụn những bông hoa kim chung bằng giấy để ở trên bàn và tư lự nói:
- Sasha, cậu thử giải thích hộ xem sao. Tại sao trong những ngày này, mình bắt đầu đặc biệt trân trọng cả những chuyện vặt vãnh. Một cô gái nào nhìn mình là cả ngày mình mỉm cười như một anh ngớ ngở. Không khí cũng cảm thấy khác. Rồi tất cả mọi thứ khác nữa, cả biển, cả cỏ cây, thậm chí cả ngư hạm nữa.
- Ngư hạm có gì khác?
- "Dũng Cảm" giống như một biệt thự bị bỏ hoang, cửa đóng then cài, mọi người bỏ đi. Chỉ còn là một người gác cổng. Ông ta sống trong cô đơn, đốt lò, nghe đồng hồ chạy tích tắc và ngóng chờ xem bao giờ chủ mới đến.
- Nhưng mà cậu là thi sĩ đấy, Ackerman ạ, - Shchedrin nói - Sẽ có những người chủ mới. Cậu khỏi lo.
- Mình đâu có lo, anh ngốc ạ. Mình không quan tâm đến điều đó. Liệu mình và cậu có sống được đến thời gian đáng giá không – đấy mới là điều đáng quan tâm. Cần phải đập tan cái cũ rắn chắc thế nào trong thân mình và chung quanh đây.
Shchedrin lặng lẽ uống cà phê đặc, hơi ngọt làm dịu cả lông mi.
- Cậu sẽ sống tới đó mình biết, - Ackerman nói, - nhưng mình thì không.
- Chân và nói chung người cậu ổn cả chứ?
- Chân là cái quái gì! Mặc xác, cái chân. Thậm chí lại hay là đằng khác nữa; đi khập khiễng như Byron[6]! Vấn đề là thần kinh bị thiêu cháy nhanh quá. Mỗi ngày như một năm. Không sao ngốn kịp.
- Cậu mệt rồi, Về Peter[7] xem.
- Mình sẽ hiến tất cả cái sức khỏe như ngựa trước đây của mình cho sự mệt mỏi này, - Ackerman đáp. - Một thời tuyệt diệu! Mà mình đâu có phàn nàn. Chẳng qua đây là câu chuyện tâm tình bên cạnh bình hoa kim chung thôi.
Họ bước ra phố. Sương mù và hoàng hôn trên thành phố hòa vào nhau thành bóng tối màu lam. Mùi khói tầu hỏa, cà phê và hoa cẩm chướng ở các hàng hoa bốc lên đậm đặc: trong những ngày này người ta chỉ mua hoa cẩm chướng - biểu tượng của cách mạng.
Một tuần lễ sau, buổi tối Shchedrin nghe thấy tiếng chân bước vội trên đầu mình, trên boong tầu. Xét theo tiếng chân bước, người đang đi thọt một chân. Shchedrin đoán là Ackerman và ra đón anh.
- Sasha! - Ackerman lúng túng xuống thang reo lên.
- Đúng là ngày hội rồi! Chính phủ lâm thời đã bị lật đổ. Chính quyền chuyển vào tay những người bolshevik rồi.
Anh rút ra khỏi túi băng điện đã vò nhau, bắt đầu đọc lời kêu gọi của chính phủ mới gửi toàn thể nhân dân lao động.
Mãi mùa đông, Shchedrin mới trở về Petrograd, sau cuộc hành quân lừng lẫy của hạm đội Baltic vượt băng từ Helsingfors về Kronstadt. Hạm đội đã phải vượt qua lớp băng dày nặng để khỏi lọt vào tay bọn Đức đang chiếm dần đất nước Phần Lan.
"Dũng Cảm" chạy từ từ thẳng tắp với tầu tiêu binh. Ngày và đêm băng lạo xạo, nứt vỡ gần hai bên mạn tàu, nước xanh lè ùng ục sôi lên như những con sông lớn ở đuôi tàu.
Ngày tối đen như khói. Mọi góc trời đều u ám. Đôi mắt cố tìm ra dù chỉ là ánh lửa của bờ biển thân yêu xa xa, nhưng không sao thấy được. Tuốc-bin nổ ròn, gió hú trong những ống máy to rộng, đêm ca hát bằng tiếng vỡ vụn lạo xạo của băng húc vào tầu.
Đội thủy thủ rét cóng. Lò sưởi làm việc tồi. Sương mai dần dần bám đầy trần và tường. Đặc biệt nặng nề là về ban đêm. Bóng đêm dày đặc đến nỗi ánh sáng ban ngày tới không sao lấn át được nó, lại đành thoái lui, Ngày vừa hé sáng đã tàn lụi ngay.
Thỉnh thoảng một đàn quạ bay trên tàu. Lượn vòng trên boong, chúng bay vội đi xa, dường như muốn vung đôi cánh để tránh khỏi cảnh tượng dữ dội những con tầu bị băng phủ kín.
Từ Kronstadt, Shchedrin đi bộ qua băng về Petergof. Tàu "Dũng Cảm" chỉ còn lại mười người lính thủy, những người khác đã đăng ký vào những đội bộ binh - đi đánh nhau với quân bạch vệ.
Shchedrin đi cùng với các chiến sĩ hải quân về tận Petergof. Đứng trên bờ biển Petergof, các chiến sĩ ngoái lại nhìn Kronstadt, một người trong bọn họ nói với vẻ tuyệt vọng vui vẻ:
- Vĩnh biệt nhé, Baltic ơi!
Họ đi qua công viên vắng vẻ phủ đầy tuyết. Trời chiều hoàng hôn. Gần hàng rào ngoài hoàng cung có một chiến sĩ cận vệ đỏ - một công nhân đứng tuổi mang súng trường đang đi đi lại lại. Các chiến sĩ dừng chân châm thuốc hút.
- Cận vệ đỏ - họ nói một cách kính cẩn rồi vòng từ đằng sau ra đằng trước nhìn người công nhân.
- Ai tự do cũng đi đánh nhau, huống chi chúng ta lại được quỷ sai bảo. Chuyến này còn sống chúng ta lại trở về với những con tầu.
- Làm gì mà cứ nhìn với ngắm mãi thế, các anh bạn trẻ, - bác công nhân lầu bầu. - Chỗ này cấm không được dừng lại.
Các anh lính thủy cười phá lên, ồn ào, rồi tiếp tục đi. Shchedrin đứng lại. Anh bắt chuyện với người công nhân.
- Tôi là người Petergof đây, - người công nhân nói. – Tôi là thợ mộc, chuyên về các loại gỗ quý. Giờ tôi ở trong đội bảo vệ. Chúng tôi trực ba người một phiên gác. Nhưng tạm thời chẳng một kẻ nào động đến, chỉ có các chú thỏ nhảy lung tung chung quanh lúc ban đêm. Kia anh xem, chúng bới lộn cả tuyết lên kia... Ta đi vào trạm gác cái đã. Anh sưởi cho nó ấm người một lát. Đi qua băng chắc hẳn phải rét. Trong trạm gác ấm lắm.
Họ đi vào trạm gác. Trong đó nóng rực, nước chảy trên mặt tường.
Họ hút thuốc. Shchedrin bảo:
- Bác đi bảo vệ cung điện là điều tốt đấy.
- Chứ sao! – Bác công nhân ngồi xổm bên lò sưởi nói. - Có khi chính Rastrelli[8] đích thân xây cũng nên. Nhân dân đã giành lại cho mình một vẻ đẹp lớn lao.
Shchedrin hút thuốc rồi chia tay đi ra ga. Nghe nói từ Petergof thỉnh thoảng có tầu hỏa và Petrograd.
Anh đi vào công viên và ngoái lại nhìn cung điện tưởng như được đắp bằng tuyết nhẹ bỗng.
Trong con tàu chật ních các lính thủy và chiến sĩ cận vệ đỏ, Shchedrin về đến Petrograd vào khoảng ba giờ đêm.
Petrograd đen ngòm, vắng tanh. Shchedrin đi qua khắp thành phố về đảo Aptekarsky, nơi mẹ anh đang sống. Gió rú buồn nản trên các tòa nhà đồ sộ. Những ống nước vỡ kêu u u. Những người lính gác hút thuốc dưới cồng tòa nhà bộ tổng tham mưu. Họ đòi giấy tờ và xem mãi dưới ánh sáng của một cây đèn hỏa xa.
Shchedrin đi qua sông Neva. Băng đen mờ mờ lấp lánh. Gần Sở Giao Dịch vắng tanh, một chiếc xe điện đổ kềnh, nghiêng sang một bên, tuyết phủ kín. Ở phía đông, vầng sáng điện nhợt nhạt tỏa lên trời - ở đó là điện Smolny[9].
Shchedrin đi hồi lâu dọc đại lộ Kronversky. Thành phố vĩ đại nằm trong tuyết phủ và bóng đêm chung quanh. Nó khắc khổ và im lìm. "Số phận của thành phố - Shchedrin nghĩ, - sẽ tuyệt đẹp, phi thường. Ta còn sống tới ngày đó".
Trong cửa số phòng mẹ anh, ngọn đèn nến đang cháy. Tuyết phủ đầy sân. Những con quạ con ngủ trên cây bạch dương. Chúng thức giấc và vỗ cánh lạch bạch khi Shchedrin dừng lại bên cửa, rủ tuyết đông dính vào giầy.
Tim Shchedrin se lại. Anh gõ cửa.
Tiếng bước chân già nua chậm chạp vọng ra. Mẹ anh mở cửa qua lỗ buộc dây xích, kêu lên: "Sasha" và đánh rơi cây nến. Cô Julia chạy lại, cởi dây xích và một phút sau, Shchedrin đã ghì mái đầu bạc run lẩy bẩy của mẹ òa khóc vào vai áo khoác đen ướt át!
- Thôi mẹ ơi, mẹ bình tĩnh lại – Shchedrin nói. - Con vẫn sống đây mà! Xin mẹ!
Các bà cô đều ở chung với mẹ, vội vã mặc quần áo sau rèm cửa, líu tíu hỏi thăm Shchedrin, và cũng khóc vì vui mừng.
Chiếc samovar đã reo lên ở trong bếp. Mẹ không ngừng tay dụi mắt, lúi húi quanh chiếc bàn, quên hết cả, cứ nhìn Shchedrin vừa vui sướng, vừa nghi ngờ: liệu nó có giấu gì không hay ngày mai lại phải đi ra một mặt trận mới rồi?
*

