Thế Giới Kỳ Bí Của Ngài Benedict (Tập 1) - Chương 11
Chương 11: Những cái bẫy và câu
nói vô nghĩa
Kate và Constance chỉ
cách Sticky hai bước chân lúc cậu bé rơi vào đám hoa kép. Chỉ cần Sticky đứng
xa hơn một chút thôi, đã chẳng có cơ hội để cứu cậu. Mà lẽ ra Sticky cũng chẳng
có cơ may nào nếu lúc đó không có một đứa khác nhoài người ra để túm lấy nó. Với
một sự nỗ lực gần như là tuyệt vọng, Kate nhoài người lao theo Sticky, túm lấy
tay cậu bạn ngay trước khi nó kịp biến mất.
Nhưng rắc rối không
chỉ dừng ở đó. Việc Kate nhoài người với theo Sticky khiến Constance lỡ đà lao
qua vai cô bé. Trong nháy mắt, Kate kịp túm ngang bàn chân Constance trước khi
nó cũng biến mất - nhưng sức nặng của hai đứa bạn khiến Kate trượt dần xuống
hố.
“Reynie,” Kate cất
tiếng gọi với hàm răng đang nghiến chặt. “Giúp bọn tớ đi chứ?”
Reynie lao vội đến và
túm lấy chân Kate.
Kéo Sticky và
Constance lên an toàn là một việc khó khăn, khéo léo mà cũng chẳng dễ chịu chút
nào vì Constance không ngừng kêu ca về cái cùi tay của Sticky đang chọc vào
xương sườn của nó. Nhưng cuối cùng, Reynie và Kate cũng kéo được hai đứa bạn
lên nền đất cứng. Cả bốn nằm vật xuống, nhóng mắt lên trời và thở hổn hển.
“Rõ ràng cây hoa kép
chẳng phải là một loài ‘hoàn toàn vô hại’ nhỉ,” Constance nói.
Sticky quay sang nhìn
Constance. Cậu bé muốn cự nự, nhưng nhớ ra mình vừa được cứu sống, nên cậu
chẳng thể làm gì khác ngoài việc nhe răng cười.
“Thực ra nó có vẻ là
một loài cây ăn thịt nhỉ,” Kate nói.
Cả lũ đều đang cười
khoái trá. Nguy hiểm đã qua, và bằng cách nào đó sự hào hứng đã giúp giấu đi
chút căng thẳng trong lòng chúng. Dành cho nhau những nụ cười thỏa mãn (như
muốn nói, “Chúng ta làm được rồi, phải không? Chúng ta đã cùng nhau làm được
điều đó rồi!”). Đứng dậy, phủi hết bụi bặm đang bám trên quần ảo, cả lũ tụ tập
cạnh cái miệng hố giữa đám hoa kép - dĩ nhiên là không quá gần rồi - và cố nhìn
vào bên trong. Tất cả những gì chúng có thể nhìn thấy chỉ là bóng tối và những
dây tua rua, và ngay cả những thứ này cũng đang dần bị che kín. Những thân cây
và cành non mềm mại bị xô rạp xuống bởi cú ngã của Sticky đang ngóc dần lên lại
và trở về vị trí ban đầu. Giống như là dấu chân sẽ nhanh chóng mất hút giữa một
đám cỏ mềm mại.
Kate bò lại gần mép
miệng hố, gạt mấy dây tua rua sang bên cạnh rồi lôi chiếc đèn pin ra, soi vào
bóng tối. “Là một cái hố, sâu sáu mét.” Quay lại Sticky, Kate nói tiếp, “Đủ sâu
để làm gẫy chân cậu đấy.”
Sticky lau mồ hôi
trên trán, “Cảm ơn vì cú nhoài người, Kate nhé. Tớ thực sự yêu quý đôi chân của
mình.”
“Tớ cũng cảm ơn cậu,”
Constance nói, “nhưng nếu cậu không lao người theo Sticky thì tớ đã chẳng ngã
xuống cái hố đấy. Coi như lời cảm ơn của tớ và lời xin lỗi của cậu là huề nhé!”
Kate cười “Thế nào
cũng được, Constance. Miễn là tớ không phải xin lỗi cậu.”
Bọn trẻ đứng ở chỗ
đám hoa kép một lúc, đăm chiêu suy nghĩ về những gì chúng vừa phát hiện ra.
Chẳng ai nghĩ ra được lý do tại sao cái hố lại có mặt ở đây, tại sao có người
lại chấp nhận khó khăn để giấu đi cái hố nguy hiểm đó?
“Tớ chỉ có thể nghĩ
ra duy nhất một lý do thôi,” cuối cùng Reynie nói.
“Là một cái bẫy?”
Kate nói.
Reynie gật đầu.
“Ôi hay quá,”
Constance nói. “Thế là ở đây có cả bẫy nữa đấy.”
“Nhưng tại sao nó lại
ở đây?” Sticky tự hỏi. “Và nó để làm gì?”
Kate khịt khịt mũi.
“Thực sự, Sticky này, cậu làm tớ hết sức ngạc nhiên đấy nhé! Một cái bẫy để bắt
một thứ gì đó - trong đó có cả con người nữa.”
Sticky chẳng buồn trả
lời. Cậu bé đang bận rón rén từng bước chân quay trở lại lối mòn.
Bọn trẻ về đến phòng
vừa kịp lúc những Điều hành viên đến. Bắt những Điều hành viên này phải đợi có
thể là một ý tưởng tồi, Sticky đã nói thế. Nhưng cuối cùng bọn trẻ mới là người
phải đợi. Nửa giờ trôi qua mà vẫn chẳng thấy bóng dáng Jillson đâu, Constance
bỗng nhiên ngân nga:
“Bọn mình đã đợi ba
mươi phút
Liên tiếp chỉ để gặp
một chút
Mụ Điều hành viên già
cỗi bẩn thỉu
Ba mươi phút ỉu xìu
Mình có thể đánh một
giấc ngủ ngon.
Nhưng mụ ấy chẳng coi
là quan trọng.”
Kate giật bắn mình.
“Đấy là cái quái gì thế, một bài thơ đồng hồ cúc cu sao? Dừng lại đi, cô ta có
thể đang ở ngay ngoài cửa đấy!”
Quả đúng như thế,
Jillson đã ở ngay phía ngoài. Nhưng Kate cảm thấy nhẹ nhõm vì chỉ thấy duy nhất
vẻ hách dịch trên gương mặt cô ta - chứ chẳng hề có dấu hiệu của sự căm phẫn
nào cả. Kate nghĩ cửa và những bức tường ở đây chắc phải kín lắm, vì thế sẽ rất
khó để nghe lén. Điều này sẽ có lợi khi bọn trẻ có những thảo luận bí mật,
nhưng lại làm cho việc theo dõi những đứa khác khó khăn hơn - sự thật này làm
Kate có vẻ bực tức, nhưng dù thế vẫn không thể bực tức bằng lúc nghe Jillson
nói, “Nhanh lên, lũ oắt con. Tao không thể đợi chúng mày cả ngày được đâu.”
Kate nghiến răng,
“Chúng tôi sẵn sàng rồi.”
“Đúng là phải thế
chứ,” JiIlson nói. Rồi bỗng cô ta sa sầm mặt mày. “Này, tại sao cái tivi của
chúng mày không bật? Nó hỏng rồi à?”
“Chúng tôi... chúng
tôi vừa tắt đi, vừa mới thôi,” Kate nói dối.
“Tại sao chúng mày
làm thế?”
Kate nhấp nháy mắt.
“Vì chúng tôi định đi ra ngoài?”
“Ổ,” Jillson lại nói,
ra vẻ đăm chiêu suy nghĩ. Cuối cùng, cô ta làu bàu. “Tốt thôi. Bất cứ điều gì
làm chúng mày hài lòng.”
Bọn trẻ gặp Jackson
và hai cậu bạn ở hành lang. Những Điều hành viên cầm theo một tờ giấy ghi tên
của lũ trẻ, và sau khi chắc chắn rằng đứa nào cũng đã có mặt ở đó (đến giờ vẫn
chẳng có cái bắt tay xã giao nào), họ bắt đầu chuyến tham quan Học viện. Sau
khi lướt nhanh qua khu ký túc xá - cũng chẳng có gì ngoài khu nhà ở và phòng
tắm - cả nhóm đi ra bên ngoài, nơi Jillson nói lũ trẻ được tự do khám phá bất
cứ chỗ nào chúng thích, miễn là chúng không đi ra khỏi những lối đi ở đó. “Quá
nguy hiểm để làm thế,” cô ta nói. “Trên đảo đầy những giếng mỏ bị bỏ hoang.”
Lũ trẻ liếc mắt nhìn
nhau.
“Chúng xuất hiện trên
đảo từ những ngày đầu tiên, khi ngài Curtain xây dựng Học viện,” Jillson giải
thích. “Trước khi ngài Curtain mua hòn đảo này, người ta nói trên đảo chẳng có
gì ngoài đá cả. Nhưng họ lại chẳng biết đó là loại đá gì. Hóa ra, cả hòn đảo là
một vùng mỏ giàu có với những khoáng sản quý hiếm. Ngài Curtain biết điều này
nên ông ấy xây cầu, mua và mang đến đây những trang thiết bị phục vụ cho việc
khai thác và công nhân - phải nói là cả một tập đoàn công nhân ấy. Khu nhà ở
của họ là tòa nhà đầu tiên được xây dựng ở đây. Chính là ký túc xá bây giờ
đấy.” Rồi để cho giống một hướng dẫn viên đích thực, Jillson giơ tay chỉ về
phía khu ký túc xá ở ngay trước mặt, mặc dù tất cả mọi người đều biết điều đó
từ trước.
Với vẻ đầy ý thức
trách nhiệm, bọn trẻ cũng nhìn theo và gật gù.
“Rồi ngài Curtain trở
thành một trong những người giàu có nhất thế giới,” Jillson tiếp tục với một nụ
cười đầy tự hào. “Thử đoán xem ngài ấy dùng số tài sản kếch xù của mình thế
nào?”
“Nghi lắm,” Jackson
lẩm bẩm.
“Ngài ấy thành lập
Học viện?” Reynie đoán.
Jackson ngạc nhiên.
“Chính xác,” Jillson
nói. “Một trường học miễn phí, bọn mày cũng biết rồi đấy. Chẳng tốn một hào nào
để được đến đây cả. Tất cả là nhờ vào sự hào phóng của ngài Curtain đấy. Ngài
ấy không đòi hỏi bất cứ điều gì, nhớ kỹ nhé - dù đó chỉ là sự quan tâm. Mà ngài
Curtain cũng ẩn dật nhiều như sự hào phóng của ngài ấy vậy. Chẳng bao giờ rời
khỏi Học viện, chẳng có lấy một kỳ nghỉ, ngài ấy có quá nhiều việc phải làm, mở
mang đầu óc cho thế hệ sau.”
Những Điều hành viên
dẫn bọn trẻ vượt qua khu vườn đá để đến quảng trường trung tâm rộng lớn được
bao quanh bởi những tòa nhà đá đồ sộ của Học viện. Vừa đi, Jackson vừa lần lượt
giới thiệu về các tòa nhà: “Bắt đầu ở phía bên phải là khu phòng ngủ của bọn
mày đấy, rõ ràng rồi - mà bọn mày vẫn nhớ phòng ngủ của mình đấy chứ? - và ngay
bên trái nó, tòa nhà mà có ngọn tháp áy, đó là Tòa nhà Chỉ huy của Học viện.
Trong tòa nhà đó có văn phòng của ngài Curtain, khu vực dành cho bảo vệ và các
Tuyển dụng viên, và cả khu nhà ở của các Điều hành viên nữa. Bọn mày không bao
giờ có lý do gì để được bước chân vào đó đâu, trừ khi được ngài Curtain gọi đến
văn phòng của ngài ấy. Hoặc trừ khi vào một ngày nào đó chính bọn mày lại trở
thành những Điều hành viên.” Rồi Jackson nhìn bọn trẻ từ đầu đến chân, lắc đầu
tỏ vẻ nghi ngại về khả năng đó.
“Dù thế,” Jackson
tiếp tục, “ngay bên cạnh Tòa nhà Chỉ huy của Học viện là nhà ăn - ngay ở trước
mặt đây - rồi đến tòa nhà lớp học. Rồi đến Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Tốt
nhất, cái mà bọn tao vẫn thường gọi là bệnh xá ấy, và tòa nhà ở chỗ lối đi kia
là phòng tập thể dục. Nó luôn luôn mở cửa, trừ những lúc đóng cửa. Đấy, tất cả
những tòa nhà của Học viện, nắm được hết rồi nhé.”
“Còn cái kia thì
sao?” Reynie chỉ một mái nhà thấp thoáng phía sau tòa nhà lớp học.
Jackson quắc mắt.
“Tao sắp giới thiệu đến nó rồi đây, Reynard. Đó là doanh trại của những Người
giúp việc. Mày biết doanh trại là gì chứ, đúng không? Tòa nhà đấy là nơi những
Người giúp việc ở.”
“Những Người giúp
việc?”
“Mày không có mắt à?”
Jackson mỉa mai. “Mày không thấy những người lớn mặc đồng phục trắng hối hả,
vội vã hết chỗ này đến chỗ khác, lau dọn mấy lối đi, nhặt nhạnh rác rưởi và
những thứ đồ linh tinh à?”
Reynie gật đầu. Cậu
chẳng thể biết được những người đó được gọi là Người giúp việc, tất nhiên rồi.
Nhưng Reynie nghĩ cũng chẳng cần đôi co làm gì.
“Những Người giúp
việc có nhiệm vụ bảo quản đồ đạc,” Jillson giải thích, “lau dọn, giặt giũ, nấu
nướng - nói chung là tất cả những công việc chẳng có tí quan trọng nào. Giờ thì
đi thôi, lũ vô dụng, và đừng có lề mề nữa. Vẫn còn nhiều thứ để xem ở bên trong
kia nữa.”
Rồi những Điều hành
viên giục giã bọn trẻ đi vào bên trong tòa nhà lớp học. Nhìn từ bên ngoài, tòa nhà
không to lắm, nhưng ở bên trong lại vô cùng rộng lớn. Những dãy hành lang sáng
choang đèn chạy dọc từ cổng vào. Constance phải cố gắng lắm mới theo kịp (và cô
bé có vẻ không hài lòng về điều này), bọn trẻ được dẫn đi qua hết hành lang này
rồi hành lang khác, cuối cùng dừng lại ở một nơi có các ô cửa lớp học xếp thành
hai hàng dài hai bên.
“Tiếp tục nhé, có một
số lượng khủng khiếp các hành lang ở trong tòa nhà này…” Jillson nói.
“Không chỉ trong nội
bộ tòa nhà này đâu,” Jackson thêm vào. “Một số hành lang thông sang doanh trại
của những Người giúp việc và số khác chạy thẳng sang khu nhà ăn, và hai tòa nhà
đó cũng có những dãy hành lang riêng, chắc chắn là thế rồi.”
“Rõ ràng,” Jillson
nói. “Điều tiếp theo lũ rác rưởi chúng mày cần phải biết là làm thế nào để tìm
được đường đi ở đây. Nào, đừng tỏ vẻ khó chịu như thế. Có vẻ phức tạp, nhưng
thực tế thì không đâu. Cái đó tình cờ cũng lại là một nguyên tắc quan trọng mà
bọn mày phải nắm được khi ở Học viện này.”
“Không phức tạp?”
Constance nói, cô bé đang xoay vòng nhìn xung quanh và rõ ràng là rất bối rối.
“Nhìn xuống chân đi,”
Jackson nói. “Thấy cái hàng gạch màu vàng đó chứ? Cứ đi theo những hành lang có
những viên gạch màu vàng này là bọn mày không thể lạc được đâu.”
Bọn trẻ ngoan ngoãn
nhìn xuống sàn nhà. Reynie đã nhận thấy sự có mặt của những viên gạch màu vàng
đó từ nãy nhưng chẳng để tâm - cậu nghĩ những viên gạch đó đơn thuần là để
trang trí thôi. Phải nhớ rằng không được đinh ninh về bất cứ điều gì ở trong
cái Học viện này.
Jillson đặt một ngón
tay lên môi rồi kéo bọn trẻ lại, nhòm qua một trong những ô cửa. Trong đó có
một toán Điều hành viên đang đứng trước tầm ba mươi học sinh có vẻ rất chăm
chú, và hướng dẫn một bài tập luyện kỹ năng ghi nhớ.
“THỊ TRƯỜNG TỰ DO
PHẢI LUÔN LUÔN ĐƯỢC HOÀN TOÀN TỰ DO.
THỊ TRƯỜNG TỰ DO PHẢI
ĐƯỢC KIỀM SOÁT TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP NHẤT ĐỊNH.
THỊ TRƯỜNG TỰ DO PHẢI
CÓ ĐỦ TỰ DO ĐỂ KIỂM SOÁT SỰ TỰ DO CỦA NÓ TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP NHẤT ĐỊNH.
THỊ TRƯỜNG TỰ DO PHẢI
CÓ ĐỦ TỰ DO ĐỂ LÀM CHÍNH MÌNH TỰ DO TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP NHẤT ĐỊNH.
THỊ TRƯỜNG TỰ DO
PHẢI…”
“Bọn họ đang nói về
cái quái gì thế?” Sticky hỏi.
“À, đó chỉ là bài
luyện tập Thị trường Tự do thôi,” Jackson nói. “Một hoạt động cực kỳ cơ bản.
Bọn mày sẽ sớm được nếm mùi thôi.”
“Mấy câu đấy, đối với
tôi thật vô nghĩa,” Constance nói.
“Ở một mức độ nhất
định thì mọi thứ đều có vẻ giống như những lời nói vô nghĩa mà, phải không?”
Jillson nói khi cả bọn tiếp tục chuyến tham quan. “Đó chính xác là bài học của
bọn mày tại Học viện đấy. Lấy từ “thức ăn” làm ví dụ nhé. Hãy tự hỏi chính mình
đi, là ‘Sao lại gọi nó là thức ăn?’ Phát âm ra thì có vẻ như nó vô nghĩa đúng
không? ‘Thức ăn.’ Nó rất dễ bị coi là một từ vô nghĩa. Nhưng thực tế lại vô
cùng quan trọng là một phần tất yếu của cuộc sống.”
“Vẫn chỉ là những câu
vô nghĩa,” Constance càu nhàu, “và giờ tôi đói lắm rồi đấy.”
Không chỉ vì nói về
thức ăn nên Constance và những đứa khác nhỏ nước miếng - mà còn bởi vi mùi thức
ăn nữa. Giờ cả lũ đang được dẫn đến khu vực nhà ăn, là một phòng rộng và sáng
sủa với rất nhiều chiếc bàn được kê sát nhau. Mọi thứ đều giống với những nhà
ăn bình thường khác, ngoại trừ một thứ, đó chính là mùi. Phảng phất trong không
khí là mùi vị của hàng ngàn thứ đồ ăn ngon lành: nào xúc xích nướng, hambuger
nướng, rau củ nướng; rồi pho mát nóng chảy; nước sốt cà chua; rồi tỏi; cá rán;
bánh nướng; cả mùi quế trộn lẫn đường; rồi bánh nhân táo; và rất nhiều những
thứ khác nữa. Phía xa xa, sau quầy hàng, những Người giúp việc đang hối hả vội
vã trong bếp, bóng dáng họ thấp thoáng sau những đám hơi nước bốc lên từ những
nồi hấp, những chảo nướng.
Kate chu mũi hít hà
như một chú cún. “Giống như là lò bánh mì, một cửa hàng pizza, và một bữa tiệc
ngoài trời ba trong một vậy.”
“Lại một điều tuyệt
vời nữa ở Học viện,” Jackson nói. “Những Người giúp việc nấu những bữa ăn tuyệt
vời. Bọn mày có thể ăn bất cứ thứ gì mình muốn, và ăn bao nhiêu cũng được. Chỉ
cần đến đây và nói với họ mày muốn ăn gì. Đừng có phật lòng nếu thấy họ chẳng
nói gì. Người giúp việc không được nói chuyện trừ khi được hỏi. Cũng nhanh
thôi, rồi thậm chí bọn mày cũng sẽ chẳng còn nhìn thấy họ nữa kia. Tao nhớ lúc
còn là học sinh ở đây, tao thường bày trò trêu họ - nhưng họ không làm gì được
vì chẳng có luật lệ nào nói tao không được làm như thế cả. Nhưng giờ thì chả
mấy khi tao để ý đến họ nữa.”
“Có vẻ như ở đây
chẳng hề có luật lệ nào cả,” Sticky nói.
“Đúng rồi đấy,
George,” Jillson nói. “Gần như là không. Mày có thể mặc bất cứ thứ gì mày
thích, miễn là có đủ quần, giày và áo. Mày có thể tắm bao nhiêu lần cũng được,
hoặc là không tắm cũng không sao, miễn là mày phải sạch sẽ mỗi khi đến lớp. Mày
có thể ăn bất cứ cái gì và bất cứ khi nào, nhưng phải trong giờ ăn. Trước mười
giờ tối thì mày được phép để đèn trong phòng mày sáng đến lúc nào mày muốn.
Tương tự như thế, mày có thể đến bất cứ nơi nào mày muốn ở Học viện này, miễn
là không được bước chân ra khỏi các con đường và phải đi theo những hành lang
có những viên gạch màu vàng.
“Thực ra thì,” Reynie
nhận xét, “những cái đó đều có vẻ giống luật lệ.”
Jackson quay quay cặp
mắt xanh lạnh lùng của anh ta. “Đây là ngày đầu tiên của bọn mày ở đây, cho nên
tao cũng không mong chúng mày sẽ hiểu được nhiều đâu, Reynard ạ. Và thêm một
trong những luật lệ của cuộc sống mà mày sẽ học được ở Học viện này, đó là: Có
rất nhiều thứ khá giống với luật lệ nhưng chúng không phải là luật lệ, và
thường thường người ta hay nghĩ theo hướng có nhiều luật lệ hơn so với thực
tế.”
“Nghe như là có hai
luật lệ đấy nhỉ,” Reynie nói.
“Chính xác đó là ý
của ta. Bây giờ thì đi nào. Nhanh chân lên - bọn mày sẽ cùng những đứa mới đến
khác nghe bài diễn văn chào mừng của ngài Curtain. Constance, đừng có mà nhẩn
nha nữa. Cả mày nữa, George, nhanh lên nào.”
“Anh có thể gọi tôi là
Sticky được không?” cậu bé hỏi.
“Sticky là tên thật
của mày à?” Jackson hỏi.
“Mọi người đều gọi
tôi như thế,” Sticky đáp.
“Nhưng nó có chính
thức không? Có cái tài liệu chính thức nào nói tên mày là Sticky không?”
“À, không, nhưng...”
“Được rồi, nếu nó không
phải là chính thức, thì nó không thể là thật được, phải không?”
Sticky chỉ còn biết
nhìn trừng trừng.
“Tốt rồi, George,”
Jackson nói, và dẫn bọn trẻ quay trở lại khu vực lớp học.

