Thế Giới Kỳ Bí Của Ngài Benedict (Tập 1) - Chương 10 - Phần 2
Jackson dựa người vào khung cửa ra vào. “Nếu cần bất cứ thứ gì thì cứ hỏi một Điều hành viên. Bọn mày có thể nhận ra Người điều hành nhờ bộ đồng phục - quần xanh nước biển, áo chẽn trắng, thắt lưng xanh nước biển. Các Điều hành viên quản lý nơi này. Nhiều người trong số chúng tao là cựu học sinh, từng làm việc giỏi khi còn là Liên lạc viên nên ngài Curtain đã thuê chúng tao. Đừng nhầm lẫn bọn tao với Liên lạc viên, mặc dù chúng cũng mặc áo chẽn và đeo thắt lưng, nhưng chúng mặc quần sọc. Chúng chỉ là sinh viên giống bọn mày, chỉ là họ đứng đầu lớp và có nhiều đặc quyền. Đặc quyền bí mật, tao cần nói thêm như vậy. Bọn mày sớm hay muộn cũng sẽ biết điều này thôi. Bây giờ thu xếp chỗ của mình đi đã, và xem tivi nếu muốn.” Anh ta bật tivi cho bọn trẻ. “Sẽ có chuyến tham quan định hướng trong một giờ nữa. Sau đó bọn mày sẽ gặp ngài Curtain.”
“Ngài Curtain là ai?” Reynie nói, cho rằng tốt nhất nên thể hiện là mình biết càng ít càng tốt. Bạn biết càng ít, bạn sẽ càng ít bị nghi ngờ - và có thể họ còn kể thêm thông tin cho bạn nữa.
Jackson cười chế nhạo, nhưng rồi phải cố nặn thành điệu cười mỉm. Trông hắn như một con cá sấu đầu đỏ vậy. “Tao quên mất là bọn trẻ ranh chúng mày ngu dốt như thế nào khi mới đến. Ngài Curtain là ông chủ. Ông ấy là người thành lập Học viện, đó là lý do vì sao chúng ta ở đây. Hiểu chưa?” Rõ ràng Jackson là loại người trẻ tuổi cứ nghĩ mình thông minh lắm, là loại người có bản chất tồi tệ nhưng lại tự cho mình là tử tế. Khi những cậu bé nhỏ hơn không kịp thời trả lời hắn, sẽ bị hắn đánh, “Bọn mày có hiểu tao nói gì không đấy? Bọn mày nói được tiếng Anh mà, đúng không?”
Các cậu bé gật đầu.
“Tốt. Gặp lại trong một giờ nữa.”
Khi Jackson rời khỏi, Sticky tắt tivi. “Cậu có nghe thấy không? Liên lạc viên. Chúng ta biết nó nghĩa là gì, đúng không?”
“Chúng ta nên tìm hai cô bạn trước đã,” Reynie nói.
“Bọn mình ở ngay đây,” một giọng nói bị nghẹt vang lên từ phía trên các cậu bé. Tấm trần trượt sang một bên, Kate Wetherall thò đầu qua khe hở. “Chả có cái rầm nào phía trên giường ngủ của cậu, một trong số các cậu cho ghế lên, được không? Mình sắp thả Constance xuống đây. Mà các cậu đang làm gì đấy?”
Trong khi đang rất căng thẳng, lại có một giọng nói bất thình lình vang lên ngay trên đầu, nên theo phản xạ tự nhiên, Reynie nhanh chóng giơ tay lên như thể muốn tránh một cú đánh, và Sticky cố gắng, một cách thất bại, trốn đằng sau cái vali của mình. Bẽn lẽn cười, Reynie đẩy nhẹ chiếc ghế đến dưới lỗ hổng. Một lúc sau, bàn chân nhỏ bé của Constance xuất hiện, sau đó là toàn bộ thân, và Kate, đang treo chân trên một cái xà, cẩn thận hạ cô bé xuống ghế. Các cậu bé giúp cô bạn xuống sàn nhà trong khi Kate đảm bảo dây thừng nối đến cái xà đủ chắc chắn và trèo xuống nhập hội.
“Không cần cảm ơn tớ đâu,” cô bé nói với Constance đang cau có phủi bụi khỏi quần áo.
“Tại sao tớ phải cám ơn cậu? Cậu kéo tớ xuống trần nhà, qua lỗ thông hơi sưởi ấm, bò qua mạng nhện trong bóng tối, lại còn tuôn ra toàn bộ những lời lẽ đáng sợ nữa chứ, ‘Đừng có đặt đầu gối của cậu ở đó! Cậu sẽ rơi xuống và gãy cổ đấy!’ và ‘Đừng có thở lớn tiếng thế! Ai đó sẽ nghe thấy đấy!’ cho đến khi tim tớ chui tọt lên cổ và đầu gối thì sắp giết chết tớ, và cậu lại còn muốn tớ phải cảm ơn nữa à?”
“Không hề,” Kate nói. “Tớ thấy hạnh phúc khi làm như vậy.”
Mắt của Constance dường như sắp nổ tung trên đầu cô bé.
“Các cậu đã bao giờ thử xem xét việc đi bộ xuống hành lang chưa?” Sticky hỏi.
“Tớ cho rằng tốt hơn hết chúng ta nên có một lối đi bí mật,” cô bé trả lời, “trong trường hợp chúng ta muốn bí mật gặp mặt. Tớ cá là đám Điều hành viên luôn tuần tra nơi này. Tớ chẳng thích chúng chút nào. Jillson lôi hộp đồ của tớ ra làm trò cười, và cô ta cứ gọi bọn tớ là ‘lũ oắt con’ và lại còn ra lệnh cho bọn tớ nữa chứ. Tớ nghĩ Constance có ý định cắn đứt chân cô ta rồi.”
“Tớ có ý định như vậy thật đấy,” Constance nói.
“Dù sao thì cô ta khó nhằn đây,” Kate ngẫm nghĩ. “Cao sáu thước, tay to như khủng long, và buộc tóc đuôi ngựa bằng dây. Có thể dùng cái dây ấy để treo cổ những đứa trẻ dám qua mặt cô ta đấy.”
“Vậy thì đảm bảo đừng có qua mặt cô ta,” Reynie nói, và kể lại những gì Jackson nói về nhóm Liên lạc viên.
“Jillson cũng nói với bọn tớ như vậy,” Kate nói. “Vậy giọng nói chúng ta nghe trên tivi chắc hẳn cũng là một đứa Liên lạc viên nào đấy đúng không?”
“Chắc chắn là như vậy. Có vẻ như các học sinh khác không biết nhiều về công việc của Liên lạc viên - họ không có các ‘đặc quyền bí mật’ này cho đến khi họ trở thành học sinh đứng đầu lớp. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải đứng đầu lớp thật nhanh, để chúng ta có thể trở thành Liên lạc viên và tìm hiểu mọi thứ càng sớm càng tốt.”
“Sao chúng ta không đi điều tra xung quanh và tìm hiểu vài điều luôn nhỉ?” Kate nói, cô bé luôn có niềm đam mê với việc khám phá những thứ mới lạ.
Những đứa khác đồng ý, sau đó Kate thu lại sợi dây, đặt tấm trần vào đó, và bọn trẻ đi xuống hành lang.
Reynie tăng tốc để bắt kịp với Kate, cô bạn lúc nào cũng di chuyển với vận tốc của xe gài số cao vậy. Đến tận sát lối ra của ký túc xá, cậu mới phát hiện ra là Constance không có mặt trong nhóm. Cả lũ cùng quay lại, và thấy Constance vẫn đang loanh quanh ở ngay bên ngoài phòng của lũ con trai, một tay chỉ một mảng rêu trên trần nhà, tay còn lại ngoáy ngoáy mũi. “Kinh quá! Ý tớ là ở đây dơ bẩn quá! Tớ ghét rêu mốc!”
“Này, Constance,” Reynie nói. “Cậu quên mất là bọn mình đang vội à?”
Cả lũ lại đi về phía lối ra, lần này thì cẩn thận để mắt tới Constance. Nhưng mà, ngoài việc rất dễ bị phân tâm, Constance còn đi cực chậm. Khi cả lũ giục cô bé đi nhanh hơn, cô bé còn ngang ngạnh cãi cố, nhưng khi bị tụt lại phía sau thì lại tỏ ra tức giận.
“Không phải lỗi của tớ, chân tớ ngắn hơn chân các cậu,” Constance giải thích. “Các cậu không thể bắt tớ đi nhanh hơn được.”
“Thế nếu một trong số bọn tớ cõng cậu thì sao?” Reynie đề xuất.
“Ngớ ngẩn,” Constance nói. Nói thế, nhưng cuối cùng cô bé cũng phải chịu để Kate nhấc bổng mình lên. Bằng cách đó, cuối cùng cả lũ cũng ra khỏi ký túc xá, hòa vào không gian ngập tràn ánh nắng.
Bọn trẻ quyết định men theo một lối đi rải đá dăm hẹp, được chăm sóc cẩn thận và chạy ngoằn ngoèo lên một ngọn đồi ngay cạnh ký túc xá. Cả lũ leo lên đến đỉnh đồi chỉ mất vài phút. Trước mắt chúng bây giờ là bức tranh hòn đảo tuyệt đẹp, bức tranh của những ngọn đồi nhấp nhô nối tiếp nhau.
Bọn trẻ ngây người đứng nhìn ngôi trường mới của mình từ trên cao. Những tòa nhà bằng đá xám giống hệt nhau, gần nhau tới mức mà thật khó để biết chính xác chỗ nào là đầu, chỗ nào là cuối của chúng nữa. Chúng được xếp theo hình chữ U bao quanh một quảng trường rộng bằng đá và được nối với nhau bằng những lối đi hoặc những bậc thang cũng bằng đá. Đứng nhìn từ trên cao, thêm cả tòa tháp bằng đá sừng sững ngay phía sau ký túc xá, những tòa nhà trông giống một pháo đài hơn là một trường học.
Tuy thế, dưới ánh mặt trời rạng rỡ buổi sớm mai, Học viện không có vẻ gì là bí ẩn, cũng chẳng có nét gì hăm dọa, đáng sợ như cả lũ đã hình dung. Ngược lại, hòn đảo trông đáng yêu kinh khủng. Sườn đồi là những tác phẩm của cát, của những luống rau xanh tươi, và những mảng đá tảng xen lẫn những lối đi rải sỏi. Dọc lối đi, những chậu xương rồng lớn bằng đá đang nở hoa rực rỡ. Một dòng suối tràn trề sinh lực chảy xuống từ một ngọn đồi gần đó, uốn lượn xung quanh những tảng đá, có đôi chỗ chảy thành một dòng thác nhỏ trước khi đi ra đến bờ biển ngay dưới chân đồi, cách Học viện không xa. Ngoài tiếng nước đôi lúc bắn tung tóe, lúc lại thì thầm róc rách, và tiếng gọi vọng đến từ phía xa của lũ chim én, hòn đảo gần như im ắng. Không thấy bóng dáng một đứa trẻ nào, chỉ thỉnh thoảng thấp thoáng một người thợ mặc đồ trắng đang lau dọn các lối đi, hoặc vội vàng với nhiệm vụ nào đó.
“Tớ đoán các bạn khác đang trong lớp học,” Sticky nói. Rồi cậu bé quay sang, nhìn Kate vẻ trêu chọc. “Cậu lôi cái kính vạn hoa ra làm gì?”
“Nó là một cái ống nhòm được ngụy trang đấy,” Reynie nói lúc Kate đang tháo rời mấy cái mắt kính màu mè sặc sỡ.
Kate chĩa chiếc ống nhòm của mình về phía tòa tháp đá.
“Nhìn kìa, có một ô cửa sổ ngay phía dưới lá cờ Học viện. Tớ cá là có một thứ gì đó quan trọng ở đó. Đó là cái cửa sổ cao nhất ở trên đảo, mà thường thì hay có một thứ quan trọng ở phía sau ô cửa sổ cao nhất.” Rồi Kate đưa cho Constance cái ống nhòm.
“Cũng có thể nhờ cái cửa sổ đó người ta mới với tới lá cờ được,” Sticky nói “Vì phải có một cách gì đó để treo nó lên, và để giặt nó nữa chứ.”
“Có thể,” Kate nói. “Cũng đơn giản thôi, đột nhập vào đó và tìm ra sự thật. Cái cửa sổ đó có thể sẽ không cao như bọn mình đang nhìn thấy đâu - rõ ràng là không nếu ta đứng trên đỉnh đồi kia. Đầu tiên là phải vượt qua cái bức tường bằng đá kia đã” - cô bé chỉ lên phía trên gần đỉnh đồi - “rồi nhảy qua dòng suối trước khi leo lên quãng đường còn lại. Cái tháp được xây sát vào sườn đồi, các cậu thấy không? Với một đoạn dây đủ dài, ta có thể bắt thòng lọng lên cái cột cờ kia, rồi đu lên, đứng ở chỗ lá cờ mở cánh cửa ra.”
“Cậu gọi cái đó là đơn giản á?” Reynie nói.
Kate nhún vai. “Hơi hơi.”
“Dù sao,” Reynie nói, “quãng đường khá trống trải và chắc chắn là cậu sẽ bị phát hiện. Tớ không nghĩ đó là những gì ngài Benedict dặn dò, bọn mình không được quá liều lĩnh.”
Kate thở dài. “Tớ cũng cho là như vậy.”
Constance lúc đó có vẻ ngán ngẩm. “Cái ống nhòm này của cậu tệ quá Kate ạ. Nó làm cho mọi thứ trông có vẻ xa hơn.”
Kate xoay xoay cái ống nhòm rồi đưa lại cho cô bạn của mình.
Lũ trẻ cứ nấn ná mãi ở trên đỉnh đồi. Ở trên đó thật sảng khoái, phong cảnh hùng vĩ, hây hây gió nhẹ, và mặc dù chẳng ai nói ra nhưng tất cả đều không muốn trở về để phải gặp lại những Điều hành viên đó nữa. Kate là người không muốn quay về nhiều nhất, chẳng phải vì cô bé lo sợ bị lộ mình là một gián điệp (mặc dù, giống như những người bạn của mình, Kate có cảm thấy căng thẳng khi nghĩ về điều đó), mà bởi vì cô bé ghét việc phải ngừng khám phá. Khám phá là việc cô bé có thể làm tốt nhất, và Kate thì lại luôn luôn muốn được làm những gì là sở trường của mình. Không phải vì Kate là người ích kỷ, mà ngược lại cô bé rất thoải mái, hiếm khi phàn nàn về một điều gì đó. Nhưng Kate đã dành cả cuộc đời của mình - kể từ khi bị bố bỏ rơi, điều đã ảnh hưởng đến cô bé nhiều hơn những gì cô bé dám thừa nhận - để chứng minh rằng mình không cần đến sự giúp đỡ của bất kỳ ai, và cách dễ nhất để chứng minh điều đó là làm những gì cô bé giỏi nhất.
Vì thế, khi Sticky lấy hết can đảm đề nghị quay trở về, Kate không thể không buông một tiếng thở dài. Những người khác cũng muốn được thở dài lắm, nhưng chẳng ai hỏi Kate vì sao.
Reynie giúp Constance trèo lên lưng Kate, và cả lũ bắt đầu quay trở lại ký túc xá. Kate đưa mắt nhìn xung quanh, hy vọng có thể nhìn thấy một thứ gì đó khác thường, nhưng đã phải thất vọng bởi vì chẳng có gì khác ngoài những tảng đá, cát và những vạt rau xanh.
Đi được nửa quãng đường xuống chân đồi, Sticky dừng lại “Thật kỳ quặc. “
Mắt Kate sáng lên, cô bé vội vàng quay nhìn xung quanh. “Cái gì, cái gì kỳ quặc đấy?”
Sticky đưa tay chỉ một mảng cây thường xuân xanh tốt - hoặc là một loại cây nào đó rất giống thường xuân - bao phủ một khoảng đất rộng cách đó vài mét. “Các cậu thấy loại cây hoa kép lá nhỏ đấy chứ? Đó là một loại cây hiếm có tên là drapeweed, chỉ mọc xanh tốt trên những khoảnh đất nghèo nàn.”
“Ồ cậu bạn,” Constance nói, “Một loại cây hiếm.”
Kate xị mặt xuống.
“Điều tớ muốn nói,” Sticky cự nự, “là có một vài cây mới được trồng thêm vào. Những cây hoa kép trưởng thành có thân màu nâu gỗ, những cây non có cành non màu xanh nhẹ. Còn lại những phần khác giống hệt nhau.”
Những đứa còn lại bắt đầu săm soi đám cây hoa kép, cố gắng phân biệt thân với cành non phía bên dưới đám lá màu xanh đậm. Quả đúng như thế: Một khoảnh cây ở giữa không giống với phần còn lại, mặc dù sự khác biệt đó nhỏ bé đến mức chỉ một nhà thực vật học - hoặc là Sticky - mới có thể nhận ra được.
“Các cậu nghĩ sao?” Constance hỏi “Có thể nào có thứ gì đó mới được chôn dưới đó không?”
“Hoặc là một người nào đó,” Kate đoán già đoán non. Cô bé quay sang nhìn Reynie. “Bọn mình có nên kiểm tra luôn không?”
Reynie ngạc nhiên nhưng có vẻ thích thú. Cậu vẫn chưa quen với việc những đứa bạn hỏi ý kiến cậu. “Tớ nghĩ thế,” Reynie trả lời sau một thoáng. “Nhưng cần phải cẩn thận.”
“Cẩn thận vì cái gì kia chứ?” Kate hỏi. “Chỉ là cây cỏ thôi mà.”
“Tớ cũng không rõ nữa. Nhưng có gì đó cứ khiến tớ có cảm giác bất an.”
“Có thể cũng chẳng có gì đặc biệt đâu,” Sticky nói, cậu bé lúc này đã bắt đầu thấy hối hận và nghĩ đáng lẽ mình đã không nên nói gì. Sticky đi theo những người bạn của mình xuống phía dưới. “Có thể một vài cây bị nhiễm nấm và chết, rồi người làm vườn thay vào đó những cây mới. Loài hoa kép rất dị ứng với nấm mà…”
Lũ trẻ dừng lại bên mép thảm cây hoa kép, nó phải rộng gấp đôi một tấm thảm phòng khách nhưng ngược lại cảm giác thích thú thì giảm mất một nửa - ít nhất là với Kate. “Trông giống cây thường xuân quá nhỉ,” Kate nói, kéo Constance lên cao hơn trên lưng. “Nó có làm cậu bị ngứa không đấy?”
“Không đâu, loại cây này vô hại mà,” Sticky nói và tiến về khoảng giữa của tấm thảm cây. Kate và Constance theo sát phía sau. “Tớ sẽ tìm ra một cành non và chỉ cho các cậu thấy...”
Trong phút chốc, những cây hoa kép dường như đã nuốt chửng cậu bé.

