Tương lai của một Ảo tưởng - Chương 01 phần 1
Lời Người Dịch
1. Freud coi tôn giáo là một hiện tượng nhân văn trong xã hội
văn minh. Tôn giáo là phó sản từ sự “gạt bỏ những bản năng” bằng những phương
tiện “cấm đoán” tìm thấy trong mọi văn hóa. Tôn giáo nảy mầm từ mặc cảm
Oedipus, và phơi bày sự bất lực của con người ở trần gian, phải đối mặt với số
phận cuối cùng là cái chết, đối chọi với những cấm cản ràng buộc của xã hội, và
những sức mạnh của tự nhiên.
Ông nhìn Gót như sự thể hiện của khát khao về một người cha
thấy trong tâm lý con-trẻ. Các tôn giáo xoay quanh một hay nhiều Gót, trong
ngôn từ của ông, chúng giữ một “nhiệm vụ gồm ba lớp: “phải ‘trừ tà trục quỉ’
cho những khiếp hãi của con người trước thế giới tự nhiên”, “phải hòa giải con
người với sự tàn ác của số phận, đặc biệt là khi được thể hiện qua cái chết”,
và “phải đền bù cho những đau khổ và thiếu thốn vốn đời sống văn minh đã áp đặt
lên con người nói chung”. Do đó, tôn giáo tạo nên một “kho tàng gồm các ý tưởng
sinh ra từ nhu cầu xoa dịu những đau khổ của con người, khiến có thể kham chịu
được”.
Tôn giáo mà Freud nói đến “tương ứng với hình thức cuối cùng
trong sự tiến hóa của tôn giáo, là đạo Kitô thực hành trong nền văn minh da
trắng hiện nay”. Khác với Jung, sau ông, là người đã dựa nhiều ý tưởng trên các
tôn giáo phương Đông (chủ yếu là Ấn Độ giáo và Phật giáo). Về mặt lôgic, Freud
nhấn mạnh trên một yếu tính đặc thù của Kitô giáo, đó là mối “quan hệ cha con”.
Ông khẳng định rằng “Gót là một người cha cao vời, hoài mong về người cha là
gốc của nhu cầu về tôn giáo.”
Freud phân biệt ảo tưởng (illusion) và sai lầm: một ảo tưởng,
là sản phẩm của ao ước, không nhất thiết phải là sai lầm. Hơn nữa, ông nói thêm
“Tôn giáo do đó có thể là chứng loạn thần kinh phổ quát của nhân loại, giống
như ám ảnh nhiễu loạn thần kinh của trẻ con, khởi phát từ mặc cảm Oedipus,
trong tương quan cha con.” Ông thậm chí còn cho rằng “những người sùng đạo được
bảo vệ ở một mức độ cao trước các nguy cơ của một số bệnh thần kinh; sự chấp
nhận của họ về bệnh thần kinh phổ quát đã tránh cho họ công việc phải xây dựng
một bệnh loạn thần kinh cá nhân cho riêng họ.” Hiểu là những tín đồ các tôn
giáo đã mắc một thứ bệnh thần kinh phổ quát rồi, nên miễn nhiễm.
2. Thực có Gót không, hay hình ảnh đó chỉ là một tưởng tượng,
và cảm giác của chúng ta về hiện hữu đó chỉ không gì khác là một hy vọng thầm
kín cho khát khao lớn nhất của con người được thành? Gót là có thực – hay chỉ
là một tưởng tượng? Đó là câu trả lời tự nhiên và quen thuộc nhất, và cũng xa
xưa nhất, ghi lại từ cổ thời Hylạp. Khoảng năm sáu trăm năm trước công nguyên,
triết gia Xenophanes đã viết, “sự thật rõ ràng về các vị Gót là không có người
nào từng nhìn thấy, cũng chẳng có bất kỳ người nào bao giờ sẽ biết.”
Đây là điều đương nhiên, nhưng ông tuyên bố biết những huyền
thuyết về các Gót đến từ đâu. Ông giải thích “con người có xu hướng dựng hình
ảnh của tất cả mọi người và tất cả mọi thứ giống như là chính họ. Người
Ethiopia, ông nói, làm những Gót của họ có da sậm, mũi tẹt, trong khi người
Thracian làm các Gót của họ có da trắng, tóc hung đỏ và mắt xanh. Tin tưởng
rằng các vị Gót có bất kỳ loại hình thể nào của con người tất cả là thứ nhân
dạng hóa ấu trĩ trẻ con.”
Thế nên, ông còn mỉa mai viết thêm “Nếu những con bò và những
con ngựa, hay những con sư tử đã có tay, và nếu chúng có thể vẽ được, sau đó
con ngựa sẽ vẽ các Gót của chúng có dạng như ngựa, bò như bò, làm thân thể các
Gót của chúng có hình dạng tương tự như của riêng chúng.” Đó là Xenophanes với
những Gót của dân Hylạp vẫn cho rằng cư ngụ trên ngọn núi cao nhất xứ họ là
Olympus.
Thế nhưng sau đó, các tôn giáo Abaham ra đời, khái niệm Gót
trở nên trừu tượng hơn, huyền nhiệm hơn, và vì những ngọn núi đã bị con người
chinh phục, nên Gót được đẩy cho cao xa hơn nữa, ra ngoài cả thời gian lẫn
không gian, ra khỏi thực tại vật chất trần gian. Câu hỏi trên nay được chuyển
thành - Gót là có thực không - hay chỉ là một ảo tưởng, giống như một giấc mơ
trong đêm dài đời người? Câu hỏi này đã gây tranh luận từ lâu trong triết học
tôn giáo phương Tây. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ý tưởng rằng Gót chỉ
đơn giản là một sự làm đầy mong ước của con người đã ngày càng được chú ý và
được phổ biến mạnh mẽ.
Hai triết gia đặc biệt gắn liền với lý thuyết này là Ludwig
Feuerbach (1804-1872) và Sigmund Freud (1856-1939).
Công trình chính của Feuerbach là Yếu tính của Kitô giáo (The
Essence of Christianity - 1841), trong đó ông cho rằng ý tưởng về Gót phát sinh
từ kinh nghiệm có thể hiểu được của con người, nhưng đã bị hiểu nhầm lẫn. Tôn
giáo nói chung chỉ đơn giản là sự phóng chiếu bản chất con người vào một không
gian siêu nghiệm ảo. Con người đối tượng hóa những cảm xúc của chính mình.
Họ giải thích nhầm lẫn kinh nghiệm của họ như là một nhận
thức về Gót, trong khi trong thực tế nó không là gì khác hơn kinh nghiệm về tự
bản thân họ. Vậy Gót phát sinh từ kinh nghiệm con người, nhưng về chính con
người, không về một-gì không con người, như đã nhầm lẫn. Con người gán cho Gót
tất cả những phẩm tính tốt đẹp, và hậu quả là giữ lại và gán cho tự thân con
người tất cả những phẩm tính xấu ác, tạo nên một sự vong thân (alienation).
Gót là sự khao khát của con người được nhân cách hóa.
Chúng ta khao khát có một hữu thể đáp ứng được tất cả những
muốn và mơ của chúng ta - và chúng ta tạo ra một hữu thể, rồi đưa lên thành
siêu thể, giống như vậy. Đối với Feuerbach, lý thuyết loại như Christ sống lại
không gì khác hơn là một tiếng vang từ sâu thẳm con người đòi một trực tiếp an
ủi chắc chắn về sự bất tử cá nhân. Kinh Thánh nói rằng Gót tạo dựng con người
theo hình ảnh của mình; Feuerbach tuyên bố chúng ta tạo dựng Gót theo hình ảnh
của chúng ta; “Con người là đầu, giữa và cuối của tôn giáo”. Trước sau chỉ có
con người. Gót là một sự làm đầy mong ước của con người, và giữ bằng một ảo
tưởng. Trong thế giới tôn giáo, con người đã không nhận ra rằng khi họ nói về
Gót, họ phơi mở những hy vọng và sợ hãi sâu kín nhất của chính họ.
Lối nhìn “cách mạng” này, có tác dụng lớn trong lịch sử tư
tưởng, làm vấn đề hiện hữu của Gót – từ nay không chỉ ở trong những luận chứng
logic giữa những nhà thần học và triết học, lại thôi không ở trong những mặc
khải từ não thức của một vài cá nhân nào đó, nhưng trên những kinh nghiệm tâm
lý của những tín đồ hiện đại. Thần học thành nhân loại học, điều tra thực hư về
Gót rơi từ trời cao xuống đất thấp, trở thành một tìm tòi về bản chất con
người.
Phân tích xuất sắc của Feuerbach có ảnh hưởng sâu dài. Câu
hỏi Gót có hay không – nếu tạm giả định là có, đã chuyển sang – tại sao có? –
và đến từ đâu? Lời Feuerbach đáp mở đầu là sự hiện hữu của Gót buộc chặt và có
căn cứ trên kinh nghiệm của con người. Nhưng, như Feuerbach, nhấn mạnh, kinh
nghiệm con người có thể là không gì khác hơn là kinh nghiệm về chính mình, hơn
là về Gót. Chúng ta chỉ đơn giản phóng chiếu những kinh nghiệm riêng của chúng
ta, và gọi tên kết quả là “Gót”, đáng lẽ phải nhận ra rằng chúng chỉ đơn giản
là kinh nghiệm của tự thân bản tính rất đỗi con người. Cách nhìn của Feuerbach
đánh một đòn chí tử vào những ý tưởng xoay quanh con người của đạo Kitô.
3. Những ý tưởng cơ bản của Feuerbach tái sinh trong Sigmund
Freud. Ngày nay, khi nói về “phóng chiếu” hay “mong ước làm đầy” là nói về
chúng cùng những biến thể trong khoa phân tâm học của Freud, chứ không phải
trong Feuerbach nữa. Tuyên bố mạnh mẽ nhất của Freud có thể tìm thấy trong The
Future of an Illusion (1927). Đối với Freud, những ý tưởng tôn giáo là “ảo
tưởng”, lấp đầy những mong muốn lâu đời nhất, mạnh nhất và cấp thiết sâu kín
nhất của loài người
Để hiểu The Future of an Illusion, chúng ta cần nhắc lại vài
khái niệm chủ yếu. Trước hết là khái niệm ontogenesis recapitulates
phylogenesis. Freud sử dụng phylogenesis để chỉ quá trình tiến hóa bao gồm của
con người từ những nguồn gốc sớm nhất của nó. Ông đưa ra giả thuyết rằng sự
phát triển cá nhân (ontogenesis) lập lại trong thu tóm các giai đoạn chính của
quá trình tiến hóa của nhân loại, với những biến cố chấn thương trong lịch sử
của nó, do đó chúng xuất hiện lại và có ảnh hưởng về cơ cấu trên từng cá nhân.
Điều này giải thích sự phổ quát của những ý tưởng lạ lùng nguyên thủy, mặc cảm
Oedipus, và một dàn dựng cấu trúc trong hình thành và hoạt động của những chức
năng tâm lý con người. Lý thuyết này, một cách vắn tắt, cho rằng tiến trình
phát triển sự sống ở mỗi đứa trẻ lập lại lịch sử tiến hóa sự sống của toàn thể
giống người.
Thêm nữa, Freud nhìn văn minh con người dựng trên sự chối bỏ
những bản năng tự nhiên, đặc biệt là bản năng tình dục, qua một pha trộn từ dồn
én đến thăng hoa, dẫn đến những day dứt, uẩn ức – mỗi thế hệ lại bị buộc lặp
lại quá trình dồn nén tâm lý này. Đến đây, sau khi Feuerbach đẩy thần học sang
nhân chủng học, đến Freud, ông đẩy nó sang lĩnh vực chuyên môn của ông – tâm lý
học và dùng phương pháp cùng kết quả của phân tâm học, một sáng tạo của chính
ông, để giải thích nguồn gốc hình thành của nó.
Và trong đó, ngoài lý thuyết về bản năng, ông sử dụng ba khái
niệm đặc biệt của phân tâm học – mặc cảm Oedipus trong quan hệ cha-mẹ-con,
lòng-quá-yêu-chỉ chính mình (narcissism) của con người, và khái niệm – đã nói ở
trên, nhưng được dùng với nội dung của Freud - “mong ước làm đầy”
(wish-fulfillment). Làm đầy, thỏa mãn mong ước là một khao khát, một ám ảnh,
hay có thể nói một động cơ thúc đẩy của những hình thành từ vô thức như những
giấc mơ, những triệu chứng loạn thần kinh, và những mơ tưởng, ám ảnh dị thường.
Đặc biệt là những ước mong trẻ thơ về tính dục sẽ được biểu
hiện và thỏa mãn ẩn dấu trong tưởng tượng với nhiều cải trang. Nhìn như vậy,
mong ước làm đầy là hết sức năng động. Một mong ước không bao giờ cô lẻ, nó
luôn luôn song hành hay đối nghịch với những mong ước khác, trong lẫn ngoải,
kín lẫn mở. Như thế chúng luôn luôn chuyển vận trong những tiến trình xắp xếp,
nghĩa là dằng co, đưa lên, dìm xuống những ý nghĩa.
Trước đó trong Totem và Tabu (1913). Freud phát biểu quan
điểm táo bạo và sáng tạo của ông về một nguồn gốc của tôn giáo, nhìn trong
phương diện lịch sử của tâm lý đám đông. Freud tuyên bố rằng tôn giáo về cơ bản
là một hình thức biến dạng của một ám ảnh thần kinh (obsessional neurosis).
Theo ông nguồn gốc tôn giáo có hai tầng: gốc của nó trong lịch sử tiến hóa tổng
quát của xã hội loài người, và gốc của nó trong trường hợp của mỗi tâm lý cá
nhân.
Freud tin rằng những yếu tố chính yếu trong tất cả tôn giáo
Abraham là: sự tôn kính một chân dung người cha (Gót hay Christ), tin tưởng vào
quyền năng siêu nhiên thần linh, và một quan tâm với những nghi lễ nhất định
nào đó sao cho đúng cách. Ông truy nguyên những nguồn gốc tôn giáo về mặc cảm
Oedipus. Ở một thời điểm nào đó trong lịch sử nhân loại, khi loài người vẫn còn
sống theo những bầy đoàn, trong mỗi bầy đoàn có một người nam – một tộc trưởng
- lớn tuổi nhưng mạnh mẽ nắm toàn quyền thống lĩnh. Những người này độc quyền
sở hữu những phụ nữ của thị tộc, hay bộ lạc.
Freud phỏng đoán một biến cố đã phải xảy ra trong đêm tối
tiền sử sơ khai - trong đó những người nam trẻ tuổi, bất mãn với tình trạng
này, đã một lần từng nổi dậy chống lại những tộc trưởng, lật đổ họ, giết những
người cha, dành lấy những phụ nữ, trong đó có những người mẹ, cho mình. Sau đó,
bị ám ảnh với biến cố này - một xúc cảm về tội lỗi thành hình. Tôn giáo có
nguồn gốc từ biến cố tiền sử này, từ mặc cảm tội lỗi đó, nó đã là sức mạnh thúc
đẩy chủ yếu, và nỗ lực chuộc tội cho biến cố đẫm máu đó đã trá hình sau những
nghi lễ tôn giáo khác loại.
Phân tâm học làm chúng ta quen thuộc với liên hệ mật thiết
giữa mặc cảm cha-con và tin tưởng vào Gót. Nó đã trình bày cho chúng ta Gót
không có gì khác hơn là một người cha cao vời. Tôn kính hình ảnh người cha có
gốc từ thời thơ ấu. Khi trải qua giai đoạn “ghét cha yêu mẹ” gọi là Oedipus của
mình, đứa trẻ phải đối phó với sự lo lắng sợ bị người cha trừng phạt. Phản ứng của
đứa trẻ với đe dọa này là tôn kính người cha, đồng hóa với ông ta, và phóng
chiếu những gì đã biết về ý muốn của người cha vào thành superego – hay lương
tâm của cá nhân.
Trong The Future of an Illusion, Freud thăm dò nguồn gốc của
sự phóng chiếu một người cha lý tưởng này. Tôn giáo đại diện cho sự kéo dài một
mảng của ứng xử tâm lý trẻ con vào mãi trong đời sống người lớn. Tôn giáo là
chỉ đơn giản là một phản ứng thiếu trưởng thành trước nhận thức về tình trạng
bất lực, bơ vơ không tự cứu được của con người, bằng cách quay lại kinh nghiệm
thời thơ ấu khi có một người cha bảo bọc chăm sóc: “Cha tôi sẽ bảo vệ tôi, ông
nắm vững hết mọi sự.” Niềm tin vào một Gót cá nhân là như vậy, không gì khác
ngoài một ảo tưởng trẻ con. Tôn giáo là đồng hóa những ước mong với hiện thực.
Trong ý hướng này, tôn giáo – nhìn trong lĩnh vực tâm lý -
không là gì khác với tâm lý của những người bệnh thần kinh. Những bệnh nhân của
chứng nhiễu loạn nơ rô, họ đặt thực tại tâm lý lên trên thực tại vật lý, lấy
tưởng/mê làm thực tại. Tôn giáo như thế là một thứ “tâm bệnh” chúng ta đã tạo
ra để làm dịu sự sợ hãi lớn nhất của chúng ta. Như trẻ thơ, chúng ta cảm thấy
bất lực trước rất nhiều những sự việc, không có khả năng tinh thần hoặc vật
chất để đối mặt với thế giới của chúng ta riêng. May mắn thay, hay nên nói rằng
hy vọng thay, chúng ta có cha mẹ hướng dẫn và bảo vệ chúng ta. Đặc biệt là
người cha – con có cha như nhà có nóc - được xem như một trụ cột của sức mạnh
cho cá nhân. Khi chúng ta lớn dậy, vào tuổi trưởng thành, chúng ta thấy những
bất lực của chúng ta vẫn còn đó, lớn hơn chứ đã không giảm đi, và do đó, chúng
ta hướng về Gót, như “Cha chúng ta ở trên Trời”, như thế Gót là “người Cha
chung” của những tín đồ, người sẽ thực hiện vai trò thay thế người cha thực đầy
quyền năng thời thơ ấu, cho tuổi trưởng thành - đến những ngày cuối của cuộc
đời chúng ta.
Như thế, trong The Future of an Illusion này, Freud thêm một
bước tiến xa hơn, đi đến nói rằng con người tạo ra Gót trong một ảo tưởng (có
phần đáng thương), tôn giáo như thế là một thứ bệnh thần kinh phổ quát của loài
người.
4. Trước và sau, cả hai Feuerbach và Freud, đều tìm cách giải
thích về tôn giáo dựa vào lịch sử, đặt câu hỏi – tôn giáo đã ra đời ra sao
trong tiến hóa của nhân loại. Tìm được lịch sử của nó, là tìm được cách phủ
nhận nó – cho thấy nó hoặc ấu trĩ, hoặc lạc hậu. Đó là cách tiếp cận đến nguồn
gốc của tôn giáo, từ các căn nguyên hình thành tâm lý (psychogenesis) của con
người nói chung. Feuerbach và Freud trong nỗ lực giải thích về những con đường
tâm lý tự nhiên đưa đến tôn giáo, đã thiết lập hai lý thuyết có ảnh hưởng rất
mạnh mẽ trong triết học tôn giáo.
Feuerbach, dựa trên Hegel, đề ra ý tưởng rằng quá trình mà
tôn giáo được phát minh là mong thực hiện những khát vọng con người. Theo
Feuerbach, Gót là sự phóng chiếu những ham muốn mạnh nhất của loài người. Thế
nên sự thu hút hấp dẫn của các tôn giáo Abraham nằm trong hứa hẹn của nó về một
thiên đàng, thỏa mãn khát khao bất tử và xoa dịu sự khiếp hãi cái chết của con
người. Con người có nhiều nỗi sợ hãi, nhưng hầu hết tất cả chúng ta sợ chết.
Tôn giáo, như Kitô giáo, trong hứa hẹn sự sống đời đời, lấy đi sự lo sợ này ra
khỏi chúng ta. Nếu chúng ta trao “linh hồn” cho tôn giáo, chúng ta thoát được
nỗi sợ hãi lớn nhất, và có thể sống trong hạnh phúc mù lòa, vì hoàn toàn nhắm
mắt trước sống chết vô thường. Điều này giải thích sự hấp dẫn của các tôn giáo
Abraham, và sức mạnh khôn cưỡng của nó một khi bám hút được não thức con người
yếu đuối.
5. Freud chủ trương thực chất của văn minh không nằm trong sự
chinh phục thiên nhiên của con người cho các phương tiện hỗ trợ sự sống, nhưng
nằm trong lĩnh vực tâm lý, trong sự kiềm chế những bản năng cỏa bản – bản năng
khát sống, điển hình là bản năng tình dục, ông gọi là Eros, và phản đề của nó -
bản năng Chết, ông gọi là Thanatos nơi mỗi người. Một trong những đê đập giúp
ngăn cản, kềm chế, và trấn áp những bản năng mà con người đã phát minh ra để
duy trì văn hóa của nó là tôn giáo. Khía cạnh độc đáo này của tôn giáo đã vẫn
được xem là phản ánh lương tâm đạo đức đã được Freud thừa nhận khi ông viết về
một trong những chức năng của nó là cố gắng “... sửa chữa những bất toàn của
văn hóa đã quá đau đớn cảm nhận được.”
Freud định nghĩa tôn giáo như một ảo tưởng, bao gồm các “tín
điều nào đó, khẳng định về những sự kiện và điều kiện của thực tại trong và
ngoài vốn bảo một người về một điều gì đó mà người ta đã chưa khám phá ra, và
tuyên bố rằng người ta phải nên cho điều gì đó niềm tin. Những khái niệm tôn
giáo được truyền đi theo ba cách, và đòi sự tin tưởng của chúng ta. “Thứ nhất,
vì chúng đã được tổ tiên nguyên thủy của chúng ta tin tưởng; thứ hai, chúng ta
sở hữu những bằng chứng vốn chúng đã được truyền lại cho đến chúng ta từ cùng
một thời nguyên thủy ấy, và thứ ba là cấm tuyệt không được phép nêu câu hỏi nào
hết về giá trị xác thực của chúng.”
Tôn giáo trong một phương cách cũng tương tự như với hệ tin
tưởng totem (totemism). Nhìn trong tầm mức cá nhân, mỗi con người thực chất là
một kẻ đối nghịch với xã hội theo ý hướng nó có những bản năng tự nhiên thôi
thúc nhưng chúng phải bị kiềm chế để xã hội có thể sinh hoạt. Freud đưa ra một
danh sách đen tối, nhưng không phải là không thực, chúng gồm loạn luân, ăn thịt
người, và gây hấn, hung hãn, đến phá hoại, giết chóc. Cái nhìn của ông về bản
chất con người là nó là chống lại xã hội, nổi loạn, và có xu hướng tình dục và
phá hoại rất cao.
Về quan điểm này Freud gần với một triết gia đồng thời với
ông hơn là Emile Durkheim (1858-1917). Cả hai cùng xem hệ tin tưởng totem như
là hình thức nếu không phải là hình thức tôn giáo nguyên thủy, thì cũng có liên
hệ chặt chẽ với gốc tích của tôn giáo; nhưng với Freud có những lý do khác
nhau. Với Durkheim, nhìn với con mắt của nhà xã hội học, ông tin hệ tin tưởng
totem trong đó có một con vật totem (totemic animal) là trung tâm nguyên thủy
của sinh hoạt tôn giáo, vì con vật totem là biểu tượng cho thị tộc, một cộng
đồng, một xã hội.
Mặc dù hầu hết mọi người ngày nay tin rằng cách diễn giải
trong nhiều dữ liệu trên hệ tin tưởng totem của Durkheim là không chính xác,
thị kiến của ông về vai trò của tôn giáo dùng để tăng cường tình đoàn kết xã
hội được chấp nhận rộng rãi, cũng như quan điểm cho rằng trong nhiều xã hội
truyền thống, trật tự của ba thế giới nhân văn, tự nhiên, và siêu nhiên, chúng
đều liên kết với nhau và củng cố lẫn nhau trong một hệ thống chung.
Freud đặc biệt chú ý đến sự “phá lệ” xảy ra còn thấy trong
các dân tộc sinh hoạt theo hệ tin tưởng totem, đó là một nghi lễ cộng đồng,
thường xảy ra hàng năm, đặc biệt trong đó con vật tổ bị đem ra giết và ăn thịt,
trong khi sự kiện này bị tuyệt đối cấm ở mọi thời điểm khác.
Tại sao có “phá lệ” này? Ý nghĩa của lễ tiệc totem là gì? -
Freud tin rằng totemism đã khởi phát trong một quá khứ rất xa xưa. Freud phỏng
đoán biến cố loại Oedipus đã kể ở trên xảy ra, đưa bộ lạc vào hỗn loạn, và cá
nhân có lẽ bị dày vò (giết cha, lấy mẹ), nên sau đó đi đến ngăn cấm vĩnh viễn
cả hai: giết cha và loạn luân. Nhưng cảm giác tội lỗi và tình cảm mâu thuẫn của
những đứa con trai – vừa thù ghét vừa kính yêu đối với người cha đã không mất,
nhưng nó đã được tái thể hiện, được chuyển từ người cha sang một con vật totem,
và totem thành biểu tượng của “tổ tiên”.
Toàn bộ quá trình và quá khứ này, Freud cho rằng, đã phai
nhạt khỏi trí nhớ con người, nhưng dấu vết của nó vẫn có thể tìm thấy trong các
tôn giáo nguyên thủy, và trong những tưởng tượng của trẻ con. Đến đây, cho thấy
Freud dựa vào thuyết thu tóm (recapitulation) đã nhắc ở trên – giúp chúng ta
hiểu tại sao ông nghĩ rằng có thể biết về quá trình tâm lý, sự suy nghĩ của con
người nguyên thủy từ tâm lý, suy nghĩ của những người bệnh nơ rô, của những trẻ
em hiện đại.

