Kỳ tích Chi Lăng - Chương 26 - 29

26 – NÚI TAM ĐĂNG

(thường
gọi là Ba Đăng)

Cách
Biệt Thự xứ chừng ba trăm thước về phía nam nổi lên một ngọn núi nhỏ
xinh xinh giữa cánh đồng màu mỡ dọc theo bờ sông Thương. Trên đỉnh
núi, có tượng đá giống như ba ngọn lửa cháy hình trái tim đặt
ngược, đó là núi Tam Đăng (còn quen gọi là Ba Đăng), nghĩa là ba ngọn
đèn cháy rực.

Một
ngày tháng 10 năm 1427, tại quả núi nhỏ vô danh này, diễn ra một trận
chiến vô cùng chênh lệch giữa một bên là hàng trăm tên giặc Minh có
đầy đủ vũ khí trong tay và một bên là ba nghĩa sĩ dân binh, hai trai
một gái. Chàng thứ nhất, to cao có sức khoẻ và tài bắn cung hơn
người, mười phát trúng cả mười. Chàng thứ hai, nhỏ hơn, nhanh như
sóc, có tài đao kiếm hơn người. Cô gái có mái tóc như suối, da
trắng, người nhỏ nhắn hơi gầy nhưng dẻo dang, nảy cung vào đâu trúng
đấy. Hai chàng trai có tài có sức đều thầm yêu cô bạn gái quê hương.
Ba người đã sát cánh chiến đấu bên nhau suốt từ khi mặt trời cười
trên đầu núi phía đông đến lúc mặt trời đi ngủ sau rặng núi phía tây
giữa bốn bề kín giặc. Tên hết, kiếm gãy, họ dùng cung và kiếm gãy
vừa chiến đấu vừa rút lên núi. Giặc ào lên bắt sống, họ bẩy đá núi
hất giặc xuống khe, bẻ cây rừng phang vào đầu chúng cho đến lúc kiệt
sức. Trời tối, họ đốt lên ba đống lửa. Trận mưa tên của giặc đổ lên
ba ngọn lửa. Giặc dụ hàng, họ đáp lại bằng lời thách thức cao cả
của người nghĩa sĩ anh hùng. Giặc liều lĩnh mò lên. Họ giết chúng
bằng đá núi, cây rừng, thà chết chứ không hàng giặc, cái chết phải
sáng ngời như ba ngọn lửa. Thế giặc mạnh. Đã đến lúc họ phải hành
động trước nguy cơ rơi vào tay giặc. Người dân binh gái đã dùng mẩu
kiếm còn lại, rạch ngực mình móc trái tim ra dâng cho hai bạn trai. Hai
bạn cũng dùng tay móc tim mình ra, chụm lại dâng cao thành ba ngọn
lửa. Trước mặt quân thù, ba trái tim ngọn lửa hừng hực căm thù bốc
lên cháy bỏng lòng yêu nước sáng ngời khí phách bất khuất của nghĩa
sĩ tuyệt vời anh dũng.

27 – LÀNG LÌU

Làng
Lìu (nay gọi là xóm Quýt, Quảng Lăng, Chi Lăng) là quê sinh của Hoàng
Đại Huề, một thủ lĩnh của đội dân binh Tày – Nùng nổi tiếng, một
nhà chỉ huy du kích tài giỏi, người đã cùng nghĩa binh dũng cảm
tuyệt vời, mưu trí vô song, trực tiếp tham gia đánh trận đầm lầy Mã
Yên nổi tiếng trong cuộc chiến tranh
yêu nước, chống Giặc Minh vào thế kỷ 15.

Trong
trận Chi Lăng lịch sử này, em ruột ông, hai người con gái yêu quý của
ông đã có mặt trong đội ngũ những nghĩa sĩ anh hùng, đánh tan ngay
trên quê hương mình đạo quân tiếp viện hùng mạnh gồm hàng chục vạn
tên do An Viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy.

Chuyện
kể lại rằng:

Cố
Huế, thân sinh của Hoàng Đại Huề, thời còn trẻ là người có thân hình
cao lớn, khoẻ mạnh. Anh săn bắn giỏi, cày nương, phát rẫy khoẻ gấp
hai người thường. Anh sli giỏi, lượn hay, con gái đẹp từ chín suối
mười đèo, từ bản xa, làng cuối, hội chợ mùa xuân rủ nhau từng đoàn
về hát với trai bản anh. Nghe anh hát, có chị quên cả đường về. Mười
sáu tuổi đi hát bạn, hai mươi tuổi, bốn năm là bốn mùa đi hát với
bạn gái mười châu, anh chưa chịu thua ai nên cũng chưa thương ai. Thế mà
đùng một cái, trong hội chợ đầu xuân, anh đã phải kinh ngạc trước
tài năng ca sli, hát lượn của một cô gái làng bên đang tuổi dậy thì.
Nàng lớn lúc nào, chàng không biết, chỉ hôm ấy trái tim chàng mới
rung lên như rừng động trước một sắc đẹp mê hồn và giọng nàng còn
ngọt hơn cả nước giếng tiên mùa hạ. Cuối mùa lúa chín năm ấy, chàng
đón nàng về làm vợ. Hồi đó, bản chàng vẫn còn đang ở cuối suối
nước chứ chưa phải là làng Lìu bên đầu sông như bây giờ.

Một
đêm, chàng cùng phường săn vào rừng bắn đàn lợn lòi đang phá nương
rẫy. Đến mờ sáng, phường săn của chàng đã hạ thủ được bảy chú lợn
hung dữ, to kềnh. Anh nói với bạn phường:

-
Các bạn khiêng thú về trước, tôi phải qua đèo xem nương Lân Giao có bị
thú phá phách gì không!

Chàng
đi trong gió sớm lao xao của rừng. Những bông hoa ngủ say nồng trong
chòm lá, bây giờ đã thức dậy, gần như cùng một lúc kín đáo đưa
hương. Chim chóc thi nhau hát ca, chào đón những tia nắng hồng phía
đằng đông chiếu tới.

Vừa
đến một tảng đá đất bìa rừng, chàng thấy một đôi phượng hoàng đang
thủ thì với nhau khoe bộ cánh rực rỡ màu sắc trong nắng mai.

Chàng
rón rén đến sát bên mà cô cậu vẫn không hay. Bàn tay thợ săn ngứa
ngáy quá, mà cái bụng không nỡ để bàn tay giương cung, chàng nghĩ:
Chả phượng ngon lắm đấy, hơn cả nem công kia, nhưng bụng ta, bụng ta
không muốn hại giống chim quý đang độ sinh sôi…

Chàng
bước tiếp. Đôi phượng giật mình, vỗ cánh lao vút lên tầng cao. Chúng
lượn những vòng tròn rất đẹp rồi hạ cánh thấp dần, thấp dần. Chàng
rảo bước xuống núi. Đến chỗ rẽ ngoảnh lại, ơ kìa, đôi phượng lại
hạ cánh xuống đúng chỗ đất ấy đang xoay trong, quay tròn như điệu múa
khèn người Nùng. Chúng dừng lại, nghiêng cái đầu rất đẹp hướng về
phía chàng, gật gật như cám ơn. Chàng trở lại ngắm chim. Chim lại vỗ
cánh lên cao. Chàng đi vài chục bước, chim lại đậu xuống đúng tảng
đất ấy. Cứ thế, người và chim phượng như chơi trò đuổi bắt với nhau
cho đến lúc ông mặt trời đỏ lừ như cái nong đựng lửa, nhô lên trên
đồi núi. Chàng vỗ tay vui sướng reo lên:

-
Đây rồi, đất tốt bản ta đây rồi, chim quý đậu ở đâu nơi đó phải là
đất lành.

Thế
là chàng xin bố mẹ dựng nhà đón vợ ra ở đấy. Miếng đất của chim
phượng được họ Hoàng(1) tình cờ đến chơi vào buổi sáng
nhân việc thăm nương, trở thành làng Lìu từ đó.

(1)Lịch sử Việt Nam, tập 1 Nhà
XBKHXH. Tr. 251 có ghi:“Đội dân binh vùng Chi Lăng do Lý Huề chỉ huy lập
nhiều chiến công xuất sắc”. Phần lớn nhân dân Chi Lăng đều nói rằng:
Ông Huề họ Hoàng chứ không phải họ Lý. Xin cứ đề họ Hoàng ở đây.
Mong các nhà nghiên cứu lịch sử giúp đỡ và chỉ giáo.

Một
năm sau, người vợ trẻ xinh đẹp của anh sinh con trai đầu lòng. Mẹ trở
dạ ba ngày mà cậu bé vẫn chưa chịu ra nhìn ông mặt trời. Đến ngày
thứ tư, cậu ra chào đời vào lúc mặt trời đã xuống núi, tiếng khóc
vang cả rừng. Cậu khóc ngằn ngặt cho tới hôm sau, lúc ông mặt trời
lại về đốt lửa trên đầu núi mới thôi. Cậu bé đó chính là Hoàng
Đại Huề. Ba năm sau mẹ Huề sinh một con trai nữa là Hoàng Đại Liệu.

Từ
nay, làng Lìu xinh đẹp giữa cảnh núi sông hùng vĩ lại in thêm những
dấu chân nhỏ xíu của hai chàng trai họ Hoàng, Đại Huề và Đại Liệu
càng lớn lên càng giống bố như đúc, từ vóc người to, khoẻ, chăm làm,
săn bắn giỏi đến sli, lượn cũng tài.

Hai
anh em mê chuyện lắm. Những đêm đông, bên bếp lửa rự hồng, ngào ngạt mùi
ngô nếp non nổ lép bép trên than đỏ, hai cậu có thể ngồi sáng đêm
nghe người già kể chuyện về lịch sử quê hương, về những nghĩa sĩ đã
làm lên chiến công rực rỡ trên mảnh đất quê mình, từ thời tiền Lê,
qua thời Lý đến thời Trần.

Quê
hương tựa lưng vào rừng đại ngàn, bát ngát, mặt nhìn ra sông Thương
trong mát, soi trong lòng nước, dãy núi đá trập trùng cao tít trời
mây… đã nuôi dưỡng và tắm mát tuổi thơ của Huề và Liệu.

Thầy
học, kể cả thầy dạy chữ và thầy dạy võ, thầy nào cũng quý mến
hai anh em họ Hoàng. Các cậu không những học rất thông minh, lại chăm
chỉ, ngoan ngoãn. Học được cái gì, Huề dạy ngay lại được cho các
bạn cùng lứa tuổi cái đó.

Mười
hai tuổi, Huề đã đứng trước các bạn, đóng giả Trần Hưng Đạo giảng
Binh Thư yếu lược, thộc lầu lầu. Đánh trận giả thì bạn nào cũng
muốn ở phe Huề bởi bao giờ Huề cầm quân cũng thắng, mặc dù ít quân
hơn hay yếu thế hơn. Huề thương bạn và quý bạn lắm. Năm mười sáu
tuổi, một hôm Huề cùng các bạn vào rừng lùa trâu về cày nương. Đến
ngang đèo, chỗ gấp khúc, bạn đi đầu bỗng kêu thét lên:

-
Hổ…

Huề
đã thoáng thấy con hổ xám vồ mất bạn rồi. Không hề chần chừ, do
dự, Huề rút phắt con dao rừng sắc như nước lao theo. Con hổ bị đuổi
sát, hai chân đầy vuốt bỏ mồi, giận giữ quay đầu lại gầm lên vồ
xuống Huề. Nhanh như cắt. Huề nghiến răng chém một nhát, đầu con hổ
đứt ngang, lăn lóc, miệng há ra đỏ lòm đầy răng nhọn hoắt.

Huề
lao đến bế bạn lên. May quá, bạn chỉ bị thương nặng, không chết. Vai
cõng bạn, tay xách đầu con hổ xám, Huề gọi các bạn vào khiêng con
hổ xám to như con bò tơ về làng.

Các
già bản và bố Huề khen:

-
Rồi con có thể làm nên!

Từ
đó, không có cuộc thi nào Huề không đứng đầu, từ phi ngựa bắn cung
đến múa kiếm, ném còn. Huề trở thành niềm tự hào của các bạn trẻ
quê hương và sau này là của cả quê hương, làng Lìu.

28 – CON CHIẾN MÃ TRUNG THÀNH

Ngay
phía sau núi Quỷ, chúng ta thấy hình một con ngựa đá, đầu vươn cao
kiêu hãnh, dáng đang phi nước đại. Đó là con chiến mã trung thành.

Cùng
nghĩa sĩ dân binh rút lui vào rừng sâu xây dựng căn cứ chống giặc,
chiều mùa hạ, Đại Liệu đi với bạn nghĩa ra suối tắm. Tiếng một con
ngựa hí lên nghe đến não lòng.

-
Chắc nó bị thương. Sao lại có ngựa bị thương ở đây? Ngựa của mình
không có con nào hí yếu ớt như vậy đâu! Liệu nhảy xuống nước, bơi qua
suối, sang bên lùm cây có tiếng ngựa hí. Liệu đã đoán không sai. Một
con ngựa cái, giống tốt, đang có mang. Nó đứng giụi đầu vào gốc cây
thở dốc, bọt sùi trăng hai mép đặc sánh, ngước đôi mắt đã mờ đục
nhìn Liệu như cầu khẩn. Một vết chém nằm ngang trên cổ, vết thương
còn đỏ lòm máu rỉ nhỏ giọt. Nhìn vết thương trên cổ con ngựa, Liệu
thấy đau trong bụng. Anh biết ngay vết thương kia là vết gươm chém của
giặc Minh. Một tên láu cá nào muốn cướp con ngựa hồng giống quý đang
có mang này. Liệu biết chỉ vùng quê anh mới có giống ngựa này.
Người lạ sờ vào thì coi chừng! Có lẽ nó cắn tên giặc định lôi đi
nên nó bị chém và đã chạy thoát vào rừng. Anh đi tìm lá thuốc rịt
cho ngựa xong, vuốt ve dắt ra bờ suối, lau từng vệt máu cho nó. Các
bạn đã kiếm ngay được cho con vật bị thương những nắm lá, cỏ thật
ngon. Vết thương con ngựa lành dần. Hai tháng sau, nó sinh một chú
ngựa con màu hồng sẫm. Chú ngựa đẹp ra đời trong cảnh hoạn nạn vừa
qua của mẹ nó và đúng lúc dân binh đang gặp khó khăn về lương thực.
Tuy vậy nó vẫn cứ lớn nhanh như thổi trong sự chăm chút từng li của
cả đội và ở đâu có Liệu thì ở đó có chú ngựa hồng. Nó quấn quýt
bên người chủ đầy tình thương yêu ấy như mẹ nó, nhất là hôm mẹ nó đi
chặn đánh một toán giặc, bị thương rồi chết. Đại Liệu càng quý con
ngựa non hơn lúc nào hết. Nó lớn nhanh mà khôn lạ. Nó thuộc từng
đường ngang ngõ tắt. Trong rừng sâu, tối như đêm ba mươi, cách xa hàng
hai ba chục dặm, chú ngựa vẫn đưa chủ về đúng căn cứ bằng con đường
ngắn nhất, không bao giờ lạc. Ngựa con rất thính. Ngay trong đêm tối,
nếu bất thần chú dừng lại, hai vó trước cào cào xuống đất khe khẽ,
dứt khoát là phía trước có hổ rình hoặc giặc Minh mai phục. Thế là
toàn đội lập tức khai triển đội hình, diệt ngay con hổ ác hoặc
giáng một đòn bất ngờ vào đối phương.

Có
một lần, trong một trận kịch chiến giáp lá cà với toán giặc rất
đông, chúng vác giáo xông bừa vào vây quang Đại Liệu. Ông rút cả gươm
ra thủ thế. Rồi hai tay hai gươm, ông tế con tuấn mã của mình lao vào
đội hình đông đặc của giặc, chém lia lịa. Đầu giặc rụng như trái
chín gặp bão, nhưng rồi ông bị một tên giặc lao giáo vào ngực. Ông
né ngực tránh mũi giáo và ngã ngựa. Bật dậy, ông bị hai tên khác
đã vung gươm bổ xuống… Bất thần, con tuấn mã lao vào hai tên giặc cắn
xé cứu chủ. Đại Liệu nhảy phốc lên con tuấn mã, tiếp tục chiến
đấu.

Từ
đó chú ngựa hồng được các nghĩa sĩ gọi bằng cái tên âu yếm và tin
cậy “con tuấn mã trung thành”.

Cuối
cùng, đáp lại lòng tin yêu của chủ, trong trận kịch chiến ngày 10
tháng 10 giữa lúc say máu nhất, chủ nó ngã ngựa. Trong cảnh hỗn quân
hỗn quan, nó tưởng lầm chủ nó đương ngồi trên mình nó. Chạy được
một đoạn, nó phát hiện ra giặc ngồi trên lưng, nó quay tròn cất vó
hất giặc xuống cho bằng được. Khi Đại Huề dẫn nó đến vĩnh biệt
người chủ thân yêu, chiếc mũi đen bóng ướt của con tuấn mã cứ giụi
giụi mãi vào thi hài Đại Liệu. Từ trong đôi mắt tối lại vì đau buồn
của nó, ứa ra những giọt nước chầm chậm rơi xuống. Chôn cất chủ nó
xong, người ta cho gì nó cũng chẳng ăn. Sau đó, nó hí lên thảm thiết
rồi phi thẳng lên núi Quỷ. Cả một đoàn quân, sĩ leo núi tìm mãi đến
tối mà không thấy nó đâu cả. Sáng mai ra thấy nó đã chết hoá đá sau
núi Quỷ, đầu ngẩng cao kiêu hãnh, mãi mãi hướng về thôn Trung nơi có
đền thờ chủ nó.

29 – ĐỀN THÔN TRUNG

Một
ngôi đền cổ kính nằm trên một gò đất cao giữa đầm lầy Mã Yên Sơn.
Đó là đền thờ người anh hùng phó tướng dân binh Hoàng Đại Liệu, em
ruột Hoàng Đại Huề.

Tương
truyền rằng Đại Liệu, ngay từ thuở thiếu thời vốn ít nói nhưng giàu
lòng thương bạn. Có cái gì ăn, dù ít dù nhiều không bao giờ Liệu
không chia đều cho các bạn cùng tuổi. Cái gan của Liệu thật là to.
Các bạn lên núi vào rừng hái củi, hái măng… có Liệu là yên trí,
chả sợ gì. Có một lần, vào đầu tháng chín, Liệu cùng các bạn vào
rừng hái nấm hương. Năm ấy, thuận mưa, nấm hương ra nhiều, thơm lựng
cả khu rừng. Cái nải xanh trên vai Liệu căng dần. Bỗng từ phía phải
bên kia gốc cây nghiến già, các bạn kêu thét lên có chuyện không lành.
Không chần chừ, Liệu quăng nải, rút dao lao về phía bạn đang kêu cứu.
Một con trăn đói đang duổi bạn Khứu. Mặt xám ngoét, bạn đang chạy
vòng vèo lẩn tránh qua các gốc cây. Mồm há hoác, con trăn lao theo
mồi, lưỡi thè ra, mép sùi bọt. Liệu gào lên:

-
Cứ chạy như thế, đừng có trèo lên cây, nó…

Liệu
chạy bổ đến chém một nhát vào con trăn, đuôi nó rời khỏi thân. Bị chém
bất ngờ, trong cơn đau điên dại, nó quay đầu bổ vào Liệu. Liệu chém
một nhát nữa vào cổ nó. Con trăn văng ra rồi lại lao đến. Tại sao
chém không đứt? Một suy nghĩ cay đắng loé lên trong đầu Liệu. Vội
quá, chém bằng sống dao rồi! Liệu chạy, con trăn đuổi theo. Liệu lẩn
vào gốc cây to. Cái đầu đen xì của con trăn theo gốc cây trườn đến.
Liệu chém một nhát bị trượt, lưỡi dao bập sâu vào thân cây, không bẩy
ra được. Bỏ dao, Liệu vác hòn đá ném trúng cổ. Nó oằn lên rồi lại
lao vào. Bí quá, Liệu chỉ kịp mở hai tay bóp chặt vào cổ nó. Con
vật hung hãn quấn quanh thân Liệu. Người và trăn lăn tròn, tức thở
quá, mắt hoa lên, Liệu nảy ra ý nghĩ trong đầu: Cứ bám chặt, buông
thả ra là chết, cứ bóp, cứ bóp…

Liệu
nghiến chặt hai hàm răng, cũng may con vật chỉ to hơn vòng tay của
Liệu một chút, lại bị cụt đuôi, không lùa vào nách Liệu để cù được
nữa. Máu ra nhiều con trăn yếu dần. Các bạn đến, thấy Liệu và con
trăn đang quấn tròn lấy nhau, mỗi bạn một tay, xúm vào gỡ trăn ra cho
đến khi con vật chỉ còn lại khúc cổ đang nhỏ từng giọt máu, ngúng
nguẩy trong tay Liệu.

-
Vứt nó đi Liệu ơi, vứt nó đi! Các bạn reo lên trong niềm vui chiến
thắng. Nhưng Liệu không sao buông ra được, ngón tay không duỗi ra được
nữa, quặp chặt mãi vào cổ trăn. Liệu nhờ ác bạn gỡ ra. Vuốt mãi,
nắn bóp mãi, mười ngón tay mới dần dần cử động được. Quanh mình Liệu tím bầm từng vòng
tròn. Về đến cầu thang, mặt trời đã khuất, cậu nào cũng mệt rũ,
đói meo, song vẫn vui như hội, trên vai mỗi cậu vác một khúc trăn còn
tươi. Người già khen bọn trẻ giỏi. Bố Liệu mang mật gấu bóp cho con,
bảo:

-
Làm trai ở núi rừng, cái gan phải to, cái bụng phải sạch. Lấy cái
gan mà cứu bạn, lấy trí khôn để vượt nạn thì đáng là con trai bố.

Hai
hôm sau, Liệu cùng các bạn lừa trâu lên rừng trong tiếng ca của buổi
sáng lộng gió rừng chở đầy mùi hoa thơm.

Đại
Liệu đến tuổi trưởng thành, thì nước mất nhà tan, quê hương bị giặc
tàn phá, cướp bóc, giết chóc. Anh đã cùng các bạn theo anh trai vào
rừng giết giặc trả thù cho làng bản quê mình. Liệu sống với đồng
ngũ bằng cả tấm lòng thương yêu nồng thắm. Được suy tôn làm phó
tướng, Liệu vẫn ăn theo miếng ăn của bạn nghĩa, cùng ngủ trong đống
lá khô, cùng tắm truồng và vật nhau với dân binh bên bờ suối. Ông
định làm cái gì là làm bằng được, chết cũng làm. Có một lần, trẻ
con trong hang lánh nạn, ốm chết vì đói muối. Mấy lần chặn đánh
giặc không cướp được hạt muối nào, Liệu xin đánh thành để lấy muối.
Đại Huề chưa cho. Thế là ông rủ hai bạn nữa, trốn anh trai, phi ngựa
lên thành Khâu Ôn, buộc ngựa trong rừng, vào thành giặc, giết tên lính
gác, vào đến kho bị lộ, ông ở lại chặn giặc cho hai bạn vác muối
rút ra. Ông rút sau cùng bị một nhát gươm chém sạt bả vai trái. Tìm
được lá thuốc rịt vào vết thương thì trời vừa sáng, ông phi ngựa về
căn cứ. Tay phải ép chặt lên vết thương, tay trái ghì cương vẫn cầm
chặt tải muối trên lưng ngựa. Về đến căn cứ, vì mất nhiều máu, ông
kiệt sức, ngã ngựa ngất xỉu. Sau khi vết thương lành, ông bị Đại Huề
phạt rất nặng. Ông chỉ cười rồi lại lao vào luyện quân. Ông hứa sẽ
không bao giờ trái lệnh và từ đó, dù như thế nào, ông cũng không
phạm luật ba quân nữa.

Hoàng
Đại Liệu được bộ chỉ huy nghĩa quân giao nhiệm vụ quan trọng, trực
tiếp chỉ huy một đội kỵ binh tinh nhuệ của dân binh phối hợp với kỵ
binh của nghĩa quân chủ lực, chờ sáng có lệnh trên núi Mã Yên, sẽ
từ bìa rừng đại ngàn bất thần xô ra té nát đội hình giặc, cùng đại
quân giết cho bằng được Liễu Thăng. Sáng sớm ngày mười tháng mười năm
1427, tin mật báo bay về trận địa mai phục như sau:

Bị
đội quân đánh dử của ta chọc tức, không chịu được, máu nóng trào
lên, Liễu Thăng ra lệnh hạ kiệu. Liễu Thăng truyền cho đại quân dừng
lại, tự mình mặc áo giáp cưỡi ngựa vằn, cùng đoàn quân kỵ mở
đường hòng tăng thêm sĩ khí cho ba quân. Áo giáp của hắn đằng trước
đằng sau đều chạm hổ phù vì vậy dân ta còn gọi Liễu Thăng là con
hổ.

Súng
lệnh nổ. Đại Liệu dẫn đầu cánh quân kỵ của ông lao vào đoàn quân đen
đặc của giặc. Những lưỡi kiếm đỏ máu vung lên bổ xuống liên hồi.
Giữa lúc đoàn kỵ mã của ông đang thừa thắng xốc tới, quân reo như
sấm động cả một vùng thì Đại Liệu nhác thấy con hổ đang gò cương
con ngựa vằn định tháo chạy.

-
Nó đây rồi, anh em ơi, giết! Giết!

Đại
Liệu hét lên, phi ngựa tới đuổi sát Liễu Thăng. Ông cúi gập người,
lia mũi kiếm chặt chân sau con ngựa vằn. Con tuấn mã đang phi mạnh
bỗng bị mất vó, ngã lăn. Nhưng cũng nhanh như cắt, Liễu Thăng đứng
phắt, vung kiếm lên bổ vào đầu một nghĩa sĩ của ta. Nhanh như gió,
Liệu vung kiếm lên bổ trúng đầu con hổ. Không ngờ lưỡi kiếm của ông
lại chệch ra ngoài vì lúc đó, một viên tướng hầu cận Liễu Thăng đã
đâm trúng sườn ông. Đại Liệu né người vung lưỡi kiếm ngược lại phía
sau, hạ thủ viên tiểu tướng giặc. Thừa cơ đó, Liễu Thăng đã chém
trúng ngang lưng ông…

Về
sau nhân dân đã lập đền thờ ông. Đó là đền Thôn Trung.

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3