Trong cơn gió lốc - Chương 16 phần 2

3

Những quả đạn cối đầu tiên rơi trúng bãi xe đang nối đuôi nhau, chen lấn
nhau chờ vượt cầu phao. Lập tức, một cảnh đại náo diễn ra. Bãi xe đùng đùng bốc
cháy, mỗi lúc một lan rộng, một dữ dội. Bọn thiết giáp ở phía sau rú máy ầm ĩ, ủi
đổ tất cả các xe trên đường, định chen lên cầu thoát sang bờ bên kia nhưng
không nổi. Rồi đến cây cầu trúng đạn, các thùng phao lật nghiêng, dây cáp đứt
lung tung.

Hết hy vọng. Những chiếc xe tăng kềnh càng to lớn liều lĩnh lao xuống bãi
cát định lội qua sông. Băng xích quay tít, lún dần, lún dần, những chiếc “quan
tài thép” gầm rú tuyệt vọng.

Bọn lính bộ binh lập tức bỏ xe, lớp chạy vào rừng, để rồi chạm trán với các
phân đội bộ binh đang đánh ra; lớp liều lĩnh nhào xuống sông, lội sang bờ bên
kia mong tìm đường tẩu thoát.

Đại đội của Thục đã lao vào giữa đội hình quân địch trong cảnh náo loạn đó.
Tiếng súng của đại đội anh nổ ran lên, đánh giạt quân địch từ trên đường xuống
bãi sông.

Khẩu đại liên của đại đội đã chiếm được địa hình có lợi và bắt đầu quét
từng loạt dài dọc bãi cát. Từng mảng địch ngã xuống, xác giặc chồng chất, ngổn
ngang.

Thục leo lên một chiếc M.41 bị lún xích trên bãi cát. Anh quay nòng khẩu
đại liên 12 ly 8 ra phía mép nước và nghiến răng xiết từng tràng dài.

Bọn địch sống sót vẫn ào ào nhao xuống sông như một bầy vịt. Nhưng khẩu 12 ly
8 trên xe tăng Mỹ thật đắc lực, cự ly của nó cho phép anh giăng một trận mưa
đạn tới tận giữa sông. Máu giặc loang từng quầng, từng quầng trên mặt sông xanh
biếc. Những cái đầu nhấp nhô, nhấp nhô rồi chìm nghỉm.

Các chiến sĩ cũng làm theo Thục. Có tới năm khẩu 12 ly 8 cùng nhả đạn.

Đối với Thục và các chiến sĩ của anh, đây là trận đánh hả hê nhất trong
cuộc đời chiến đấu của mình. Đánh mà chẳng nơm nớp lo lối rút. Đánh mà chẳng phải
hà tiện từng viên đạn. Đánh một đội hình địch đông gấp bội, xe pháo rầm rầm mà
vẫn nắm chắc phần thắng. Đối với Thục, đây còn là trận đầu tiên và có thể là
trận duy nhất trong đời, anh được đánh dưới sự chỉ huy của ba mình.

Khi nhảy lên chiếc M.41, quay nòng khẩu 12 ly 8 về phía địch, trước khi xiết
cò, anh thầm reo lên! “Ba ơi! Coi con xả đạn vào đầu chúng nó đây nè!” Nếu nghe
được tiếng reo đó trong lòng anh, hẳn ba sẽ khen: “Khá lắm! Con của ba.”

Anh cứ say sưa bên khẩu đại liên như vậy cho tới khi cô thông tin vô tuyến
điện của đại đội chạy tới, hét toáng lên:

- Anh Thục! Tiểu đoàn ra lịnh phát triển lên phía Hòn Một.

Anh xốc lại đội hình rồi dẫn đại đội đánh dọc bờ sông tiến về phía mục tiêu
được chỉ định.

Ở đây, một đại đội của bộ đội chủ lực đang gặp phải sức kháng cự mãnh liệt
của bọn xe tăng địch. Sau những phút choáng váng, bọn thiết giáp ngụy thuộc
thiết đoàn 19 đã kịp thời cụm lại, chiếm điểm cao Hòn Một để kháng cự. Gần chục
chiếc xe tăng tạo thàng một tuyến phòng thủ, những chiếc lô cốt di động ấy tựa
lưng vào điểm cao, xả đạn như mưa về ba phía. Tiếng pháo tăng nổ đinh tai nhức
óc, những khẩu đại liên trên xe bắn xòe rẻ quạt xuống chân đồi, khiến bộ binh
ta không thể tiếp cận, dùng súng chống tăng tiêu diệt chúng được.

Hòn Một là một mỏm đồi trọc nhô lên cô độc bên bờ sông Ba. Đồi dốc thoải
xuống ba phía, không một bụi cây mà chỉ lơ phơ vài vạt cỏ gianh cằn cỗi.

Tiểu đoàn 1 của bộ đội chủ lực đã mấy lần tổ chức xung phong nhưng đều bị
đánh bật trở lại. Các xạ thủ B.40, B.41 không thể tiếp cận đến tầm bắn có hiệu
quả. Tiểu đội trưởng Kha tức lồng lên. Anh định sử dụng một mũi bí mật vượt qua
đường, men theo bờ sông đánh lên điểm cao, nhưng các phân đội của tiểu đoàn đều
triển khai bên này đường, muốn vượt sang bên kia phải băng qua một quãng trống
tới năm, sáu trăm mét. Gần chục khẩu pháo trên xe tăng địch thừa sức kiểm soát
từng gốc cây, ngọn cỏ trong khu vực ấy. Cho bộ đội liều lĩnh vượt sang chỉ là
hành động tự sát.

Vào lúc gay go, căng thẳng ấy, Kha nghĩ tới đại đội bộ đội địa phương tăng
cường cho tiểu đoàn mình, hiện đã vượt qua đường và đang đánh chiếm khu vực bãi
xe đầu cầu Sơn Hòa. Nếu tổ chức một lực lượng nhỏ, đơn vị ấy có thể bí mật tiến
dọc bờ sông lên tiếp cận địch và tổ chức tiến công ở hướng địch không ngờ tới.

Anh ra lệnh qua vô tuyến điện và tin tưởng ở người đại đội trưởng trẻ tuổi
nhưng hoạt bát linh lợi ấy. Mệnh lệnh truyền đi chừng mười phút, anh đã nhận
được một câu trả lời đanh thép: “Chúng tôi xin chấp hành mệnh lệnh!”

Nắng như đổ lửa. Không gian nồng thuốc đạn. Mặt đất rung lên bởi những loạt
đạn pháo nổ dữ dội. Cái điểm cao nhô lên bên bờ sông kia giờ đây giống như một
cái u nhọt đang tấy lên. Tám chiếc xe tăng lồng lộn điên cuồng như những con sư
tử điên loạn, vừa gầm rít, vừa chạy qua chạy lại vừa bắn như trút đạn xuống
chân đồi.

Thục dẫn hơn chục xạ thủ của đại đội mình bò dọc theo bờ sông, men theo
những bụi dứa dại, những khóm xương rồng gai, nhích gần về phía điểm cao. Ở
hướng chính diện, các phân đội của bộ đội chủ lực vẫn đang nổ súng, nghi binh
thu hút địch, tạo thời cơ cho các anh tiếp cận. Tất cả các nòng đại liên trên
tám chiếc xe tăng đều quay về hướng ấy. Thục vừa bò vừa nghĩ thầm: “Chỉ cần
chúng nó không để mắt tới hướng này chừng mười phút nữa.” Mười phút! Bên kia
các anh chiến sĩ chủ lực đang ra sức kéo hỏa lực địch về phía mình, chịu hy
sinh để tạo cho các anh mười phút đó.

Mồ hôi tuôn ra ướt đẫm áo. Mồ hôi chảy vào hai mắt cay và xót. Mặt đồi hầm
hập hơi nóng. Chỉ còn một đoạn nữa là tới tầm bắn có hiệu quả của B.40, B.41. Nhưng
trước mặt là một mảng đồi trống, không một bụi cây che khuất.

Anh quay lại nhìn đội hình của mình. Các chiến sĩ vẫn bám sát anh. Cái đầu
rù lên như hoa gáo của Kiện. Cái lưng to bè của Lóc mập, cái mũ bê rê màu cứt
ngựa của Phú... Toàn những xạ thủ loại cừ, những tay “chịu chơi” cả.

Nhưng... làm thế nào để vượt nốt chặng đường còn lại.

Xéo... ùm!

Xéo... ùm!

Những phát đạn cối 120 ly nổ dậy đất như những trái bom tạ. Điểm cao mù mịt
khói bụi.

Thục khoát tay ra hiệu cho tổ lao vọt lên, lợi dụng làn khói vượt qua quãng
trống.

Xéo... ùm!

Xéo... ùm!

Thục lại bật dậy, khoát tay. Cứ như vậy cho tới khi chấm dứt đợt kích cối. Khi
khói đạn trên điểm cao vừa tan thì những chiếc xe tăng đen trũi đã nằm trong
tầm súng của các xạ thủ.

Bên kia đường, bộ đội chủ lực lại tổ chức xung phong. Tám chiếc xe tăng
địch đều quay nòng súng về phía ấy bắn như phát cuồng.

Thời cơ đã tới.

Thục đứng thẳng dậy. Nhằm vào chiếc xe tăng gần nhất, xiết cò.

Mười xạ thủ của anh cũng nhất loạt vùng dậy. Bất ngờ như mọc lên từ mặt đất.

Một loạt đạn chống tăng nổ dây chuyền, dậy đất.

Điểm cao mù mịt khói lửa.

Ở hướng chính reo hò vang lên.

Bắn xong, Thục và các xạ thủ của mình ôm súng lăn dài xuống chân đồi. Nghe
có tiếng xích sắt lăn ầm ầm. Thục bật dậy. Hai chiếc xe tăng sống sót đang chạy
thục mạng xuống đường.

Một loạt B.40 từ hướng bộ đội chủ lực lao vút tới. Những tiếng nổ dậy đất. Hai
chiếc xe tăng còn lại đang đùng đùng bốc cháy. Khói từ những đám cháy xe tăng
trên điểm cao Hòn Một chấm dứt, không gian bỗng lặng trang. Sau ít phút yên
lặng như ngỡ ngàng, từ mé bên kia đồi, tiếng reo của bộ đội chủ lực lại vang
lên.

Thục ngơ ngác nhìn. Khi hiểu ra trận đánh đã kết thúc, anh sung sướng lột
mũ hoa lên trời, hét tướng lên:

- Chiến thắng rồi các đồng chí ơi!

Các chiến sĩ của anh cũng nhảy lên reo hò. Rồi họ theo Thục băng chạy trên
điểm cao. Ở đó, các chiến sĩ bộ binh đã tràn lên, vây quanh những chiếc xe tăng
đang bốc cháy.

Xong trận, “Trung đội gió lốc” của Mánh được giao nhiệm vụ dẫn tù binh về
nơi tập trung. Họ đi ngược lại con đường vừa tiến vào đánh quận lị. Trung đội
trưởng Mánh đi đầu: quần bó ống, quai mũ bó lấy cằm, tiểu liên khoác ngang
người. Trung đội phó Đạt đi sau cùng, đầu quấn bằng trắng, mặt sạm khói. Các
chiến sĩ đi tách thành hai hàng, một hàng ở dưới lòng đường, một hàng trên vỉa
hè. Khoảng giữa họ là hai hàng dây tù binh chân không giày, đầu không mũ, tay
trói quặt về phía đằng sau, mặt mày ủ dột.

Ổn đi sau trung đội trưởng, mặt vênh lên, cố gắng bước cho ngang tàng, oai
vệ. Một vài chiến sĩ đơn vị bạn đi ngược chiều, hỏi:

- Bao nhiêu?

Ổn xòe cả bàn tay phải rồi xòe thêm ba ngón ở bàn tay trái.

- Chẵn “tám chịch”.

Tới ngã ba đường, trung đội trưởng Mánh quay lại ra lệnh:

- Dừng lại! Đón thêm “khách”.

Trung đội trưởng và Ổn tiến đến tiệm cà phê. Cửa đóng. Mánh vừa gõ cửa vừa
gọi toáng lên:

- Có ai trong đó không?

Ông chủ tiệm, hình như đợi sẵn, lên tiếng ngay:

- Dạ! có đây ạ... tui mở cửa ngay đây.

Cửa mới, Mánh chợt phì cười khi thấy sáu tên địch (sáu chiến hữu của liên
đoàn 23 biệt động biên phòng) vẫn “hiện diện” trên nền nhà của tiệm cà phê. Có
điều hơi lạ chút là cả sáu tên đều đã được trói lại rất cẩn thận bằng những sợi
dây dù pháo sáng. Trung đội trưởng Mánh mỉm cười, nhìn ông chủ đang xun xoe bên
cạnh:

- Ai trói lại thế bác?

Ông chủ tiệm khúm núm:

- Dạ... tui ạ. Tui sợ các ngà... ài... chúng nó cởi được trốn mất.

Mánh cười ha hả:

- Ông lo xa quá đấy, ông chủ.

Anh quay lại đám tù binh:

- Đứng dậy!

Cả sáu tên cùng đứng bật dậy như một cái lò xo. Ngài trung tá, mặc dù ngồi
lâu ở một tư thế bất tiện, bị tê chân nhưng khi ngài được giải đi cũng cố gắng
tỏ ra không chịu thua kém bọn đàn em.

Sáu tên “ma mới” được nhập bọn với đám “ma cũ” làm cho hai xâu rồng rắn dài
thêm một đoạn nữa.

Khi họ tới nơi bàn giao thì ở đó đã đen đặc những tù binh. Tiếng chúng nói
chuyện, nhỏ thôi, mà cũng ồn ào, nhốn nháo như một buổi chợ phiên. Mánh nhón
chân, nhìn lướt qua những đám đầu đen lố nhố và lẩm bẩm: “Dễ có đến năm sáu
trăm, nuôi báo cô từng này thằng cũng “ốm tử”.

Ban quân quản quận lị và một đơn vị bộ đội địa phương đảm nhiệm việc nhận
tù binh từ các nơi giải về. Những cô bộ đội mặc bà ba đen, nón tai bèo đội hơi
lệch một tí, tiểu liên khoác vai đi đi lại lại quanh cái chợ tù binh ấy. Thỉnh
thoảng, các cô lại chỉ tay vào một đám, quát “trật tự”. Thế là các bậc mày râu
liền im bặt.

Chị Tư An được tỉnh giao cho “đặc cách” chỉ huy công việc phức tạp này. Cũng
may có cô con dâu tương lai giúp việc, nếu không có lẽ chị không biết xoay xở
ra sao.

Chị Tư An và Thảo kê một cái bàn gỗ và hai cái ghế trước lối vào sân banh
(bây giờ là bãi tù binh) ở cuối quận lị. Rồi, hễ đoàn này dẫn tù binh đến, theo
sự điều khiển của các đồng chí du kích và bộ đội địa phương, lần lượt vào làm
thủ tục.

Tên nào cũng phải đi qua trước cái bàn ấy. Chị Tư An hỏi: Tên - họ - cấp
bậc - chức vụ - đơn vị - địa phương hay chủ lực?... Thảo cắm cúi ghi vào sổ. Xong
xuôi, tù binh được phân ra làm nhiều loại: sĩ quan - hạ sĩ quan - lính chủ lực -
lính địa phương - cảnh sát- ngụy quyền ác ôn - chiêu hồi - phản bội,... mỗi
loại được dẫn tới một khu vực riêng trong bãi, có người canh giữ.

Trung đội của Mánh dẫn tù bình tới sau, phải “xếp hàng” đợi đến lượt. Trong
khi chờ đợi, Mánh chăm chú theo dõi công việc của hai người phụ nữ một cách thú
vị. Anh thầm nghĩ: “Giá mà vợ mình chỉ cần nhìn thấy những bộ quần áo vằn vện, những
bộ râu ngoằn ngoèo, những cái đầu bờm sờm như đầu sư tử kia, bà ấy cũng đã phát
run lên rồi, đừng nói gì đến hỏi han. Phụ nữ miền Nam có khác. Đĩnh đạc ra trò.
Hà... hà... phải! Lại còn quát nữa chứ. Đúng! Ai bảo nói năng lí nhí. Xem nào, cái
thằng này có vẻ đầu bò đây.

- Tên gì?

- Dạ... Nguyễn Biểu Chánh.

- Cấp bậc?

- Dạ... thiếu tá.

- Chức vụ?

- Dạ, sĩ quan không trợ Bộ tư lịnh quân đoàn 2.

- ... Vậy ra mày cũng biết điều đó. Cứ nom cái bộ râu Cao Kỳ của mày, tao
đã tưởng anh hùng hảo hớn lắm. Ai ngờ, mỗi câu trả lời là một câu “dạ”, một cái
khom lưng.

Lại một tên khác. Đột ngột, Chị Tư An đứng phắt dậy, nhìn thẳng vào mặt
thằng địch vừa được giải đến. Ánh mắt chị sáng rực, sắc lẹm, khiến tên sĩ quan
ngụy run bắn lên, cúi mọp xuống, chịu đựng.

- Mày không nhận ra tao hả? Thằng Cật rỗ!

“Thằng Cật rỗ” càng run hơn. Nó lắp bắp mãi không thành tiếng.

- Bẩm... bà... khô... ông... con... khôông...

Chị chỉ vào mặt mình:

- Nhớ lại coi. Tao đây nè! Tư An đây nè. Đồ phản bội! Mày bán rẻ tao cho
địch mà không nhớ hả? Năm 1960, chúng nó đã buộc phải thả tao vì không kiếm
thêm được bằng cớ gì ngoại trừ lý do tao không chịu ký đơn ly dị chồng tao đi
tập kết. Chúng nó đã đưa tao về tới tỉnh thì gặp mày. Chính mày! Chính mày chỉ
mặt tao và bảo: “Con An là bí thư chi bộ, cùng sinh hoạt với tôi một thời gian
dài. Cộng sản nòi đó, sao tụi bay thả?” Mày nhớ chưa? Nhớ chưa? Đồ phản bội!

Một hồi sau, cơn giận tạm nguôi, chị mới quay sang nói với mấy cô bộ đội
đeo súng đứng bên.

- Các đồng chí! Nhốt riêng thằng mắc dịch ấy cho tôi.

Chị là ai, Mánh chưa biết. Anh chỉ biết tên chị khi chị vừa tự nhắc. Nhưng
anh kính phục chị. Chị là một người cộng sản, chị đã bao năm vào tù ra tội, đã
chiến đấu và chiến thắng. Giờ đây, chị đang đại diện cho nhân dân hỏi tội kẻ
thù.

Đến lượt trung đội anh trao tù binh. Anh vuốt lại quần áo cho phẳng phiu
rồi tiến lại trước bàn làm việc của chị. Và, thật bất ngờ, anh đưa tay lên vành
mũ, chào.

Chị Tư An ngượng ngập không biết đáp lễ ra sao. Chị đành đứng dậy, bắt tay
anh, dịu dàng hỏi:

- Cám ơn! Đơn vị anh có bao nhiêu?

- Báo cáo đồng chí! Chúng tôi có 86 tên: mười hai sĩ quan, trong đó có một
tên trung tá, còn lại là hạ sĩ quan và binh sĩ.

Chị lại mỉm cười, hỏi:

- Đồng chí ở đơn vị anh Thuần, phải không?

- Vâng ạ! chắc chị đã gặp trung đoàn trưởng của chúng tôi!

Chị Tư An vội lắc đầu, thoáng chút ngượng ngùng:

- Chưa...! Nhưng tôi nghe đơn vị anh ấy đánh giỏi lắm.

Mánh cười khiêm tốn đáp:

- Chúng tôi cũng làm ăn tạm được thôi.

Chị lại ngước nhìn lên anh, hình như muốn hỏi một câu gì nữa nhưng lại thôi.
Cô thư ký của chị ngồi bên tủm tỉm cười. Mánh thấy chị thoáng đỏ mặt, chị phát
vào vai cô gái rồi quay sang nói với Mánh:

- Anh cho tù binh vào đi.

Trung đội trưởng Mánh đứng né sang một bên, ra lệnh cho các chiến sĩ của
mình dẫn tù binh vào. Sau đó anh lại đứng đó nhìn hơn tám chục tên tù binh, gồm
hầu như đủ mặt các sắc lính, các đơn vị của quân đoàn 2 ngụy, lần lượt đi qua
chiếc bàn hỏi cung của chị cán bộ địa phương.

Báo cáo nội dung xấu