Hồ Quý Ly - Chương 08 - Phần 3

4

Vua Thuận Tông ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây. Cô cung nữ
Uyển Nhi rón rén bưng mâm cơm đặt trên chiếc bàn gỗ gần đó, cô thấy nhà vua nhắm
mắt, thở đều đều nên không dám làm kinh động. Con vượn trắng bám sát nhà vua
như hình với bóng. Lúc này nó cũng lặng lẽ ngồi vắt vẻo trên cành cây sát cạnh.
Thấy cô cung nữ còn ngần ngừ, con vật nhăn nhó, nhe răng làm mặt xấu. Nó không
muốn có ai bên nhà vua. Uyển Nhi lặng lẽ lui ra xa, ngồi ở chiếc cầu đá vắt qua
con ngòi. Nhiệm vụ của cô là ngồi ở đấy.

Khi Thuận Tông ra lập am tĩnh tu, nhà vua cho bọn
thái giám, cung nữ trở về hết, và chỉ giữ lại một mình nàng Trần Ngọc Kiểm. Sau
đó không hiểu sao Ngọc Kiểm phải đổi đi rồi bị giết, Uyển Nhi đang hầu hạ hoàng
hậu lại được chuyển sang đây. Ông Nguyễn Cẩn nói với nàng:

- Nhà ngươi phải biết giữ mồm giữ miệng. Những chuyện
ở đây phải biết giữ kín trong lòng, không được kể với ai ngay cả với người
thân. Hàng ngày hầu hạ nhà vua. Có ai đến thăm vua, phải báo ngay cho ta.

Uyển Nhi chăm sóc Thuận Tông rất chu đáo. Đáng lẽ ra
thức ăn của nhà vua phải do bọn đầu bếp trong hoàng cung nấu, nhưng Thuận Tông
lại ưng những món ăn do tay nàng làm. Chao ôi. Nhà vua sao đổi thay đến thế.
Không thèm làm vua, lại muốn đi tu. Không thèm gấm vóc lụa là, chỉ khoác lên
người một bộ đồ trắng vải thô. Không thèm nem công, chả phượng, chẳng màng long
tu, yến xào; mà chỉ đòi nàng nấu cho bát canh cua đồng, đĩa rau muống luộc xanh
biếc với quả cà giòn tan...

Uyển Nhi thở dài. Chợt thấy thương ông vua trẻ. Số
phận một cung nữ đã đáng thương, song số phận ông vua kia còn đáng thương hơn.
Chẳng qua cũng là cá chậu chim lồng mà thôi.

Chợt cô ngẩng lên trời vì nghe thấy tiếng vỗ cánh của
đôi chim lớn. Đó là đôi công. Hồi ông thầy chùa Phạm Sư Ôn chiếm kinh thành,
ông đã phá chuồng thả đôi công này vào rừng quế. Khu rừng quế bên hồ Lạc thanh
bây giờ rậm rạp lắm. Trên mặt đất trống, những bụi sim, bụi dành dành, bụi lan
cỏ tím, bụi cúc dại và lau sậy đã phủ kín. Những bụi cây leo bò cả lên vài cây
quế mép hồ. tạo thành những tấm mành lá xanh đung đưa trong gió. Và đôi công
xinh đẹp kia đã làm tổ, ẩn náu trong khu rừng đó. Thi thoảng, người ta lại bắt
gặp con chim trống xòe đuôi múa quanh con mái trên bãi cỏ. Vừa múa vừa kêu lên
những tiếng tố hộ trầm và đục. Hễ thoáng thấy bóng người, chúng đã lủi ngay vào
khu rừng quế.

Chỉ riêng vua Thuận Tông làm quen được với đôi công
nhút nhát, kể từ ngày vua vào ngự uyển ẩn tu. Chiều chiều, khi ánh mặt trời đã
nhạt, lúc nhà vua dùng bữa xong, ông nhẩn nha trèo lên ngọn núi đá nhân tạo, ngồi
trên một tảng đá bằng phẳng hóng mát. đó là lúc đôi công xuất hiện. Đôi chim từ
trên cây quế cao nhất cất tiếng như để chào đón ông vua đang ngẩn ngơ bên sườn
núi. Từ trên cao, đôi chim to lớn vạch thành hai đường thẳng suốt từ rừng quế đến
ngọn núi. Chúng bay là là, đôi cánh rộng nặng nề quạt phành phạch. Dọc đường,
chúng đỗ lại trên cây liễu để lấy sức và thăm dò. Cuối cùng, khi đã nhận ra
đúng là bóng nhà vua, chúng bay vòng quanh ngọn núi, cánh mở rộng hết cỡ để cho
bộ lông sặc sỡ đón nhận ánh sáng biến thành long lanh muôn mầu. Vua Thuận Tông
lúc này chậm chạp từ trên núi bước xuống thảm cỏ xanh, nơi đôi công thường tình
tự bằng những điệu múa. Vua bưng liễn cơm mà ông ăn không hết, tung ra bãi cỏ
cho đôi công. Đàn chim sẻ, chim ri rừng đã phục kích từ lâu trên những ngọn liễu
bên ngòi nước, lúc đó bất thình lình bay ùa xuống thảm cỏ để tranh ăn với đôi
công. Cung nữ Uyển Nhi chiều nào cũng ngồi trên cầu đá để chờ xem cảnh tượng
này mà cô vẫn gọi là cảnh chim chầu đức vua. Cả con vượn trắng hình như cũng
thích cảnh này. Nó từ trên cây nhảy xuống thảm cỏ, đùa dỡn nhảy nhót. Nó chạy đến
đâu lũ chim ri lại bay túa lên kêu xáo xác. Nhưng khi nó ra chỗ khác, đàn chim
lại ùa xuống ngay. Biết nhà vua thích đàn chim, nên không đợi lệnh vua ban, Uyển
Nhi ngày nào khi bưng cơm chiều đến cũng để sẵn một bát gạo to để nhà vua bố
thí cho lũ chim trời. Chỉ có những phút ấy, Uyển Nhi mới thấy gương mặt rạng rỡ
sung sướng của đức vua.

Uyển Nhi ước muốn cảnh nhà vua hạnh phúc cùng đàn
chim cứ kéo dài vô tận. Nhưng bóng chiều nhá nhem đã đổ xuống. Đôi công luyến
tiếc không muốn rời chân, nó lại lượn vòng quanh quả núi rồi bay vút vào rừng
quế. Bóng của chúng dần dần hòa vào bóng hoàng hôn. Đàn chim sẻ, chim ri cũng
rúc rích rủ nhau bay về tổ của chúng ở những ngôi đình, ngôi nhà hoang phế nằm
rải rác trong vườn ngự uyển.

Thuận Tông thở dài bước vào am cỏ. Uyển Nhi đã đốt sẵn
một ngọn bạch lạp, sau đó cô lùi ra ngoài, lặng lẽ chui vào bóng tối của cái
chái bên cạnh.

Thuận Tông lại ngồi tĩnh tọa. Thông thường lúc bóng
tối phủ hẳn xuống, lúc không gian khu vườn bao la hoàn toàn tịch mịch, cũng là
lúc Thuận Tông sợ hãi nhất, và ông phải vật lộn với chính mình nhiều nhất. Buổi
tĩnh tọa ban ngày, nhà vua thấy làm trống rỗng lòng mình dễ hơn, có thể vì khi
có ánh sáng chí khí trong lòng con người mạnh mẽ hơn. Còn ban đêm thì khác hẳn.
Sự lặng lẽ quá đỗi, sự mịt mù quá đôi hình như dễ tạo chỗ ẩn náu cho những hình
ảnh, những ý nghĩ, những màu sắc, những mùi vị; chúng nép mình ở một hốc, một
ke nào đó trong bóng tối và trườn mình bò ra khỏi nơi lẩn trốn lúc nào chẳng
hay. Thoạt đầu, chỉ là một nét, một chấm mờ nhạt trong tâm tưởng; cái chấm đó dần
to ra, vụt lớn biến thành một hình ảnh, hoặc một tiếng nói. Lúc đó, có đè nó xuống,
nó vẫn nổi bềnh lên trong tâm khảm, rồi rủ rê ta cùng đi lang thang vào một cuộc
phiêu lưu kỳ lạ. Gọi nó là mộng mị chăng? Là giấc mơ chăng? Hay như đức vua Trần
Thái Tông gọi nó là một tà thiền? Hay như đạo Hoàng Lão gọi nó là một tà tĩnh tọa?
Nó chẳng xui ta làm gì ác đâu. Chẳng qua, nó chỉ muốn rủ rê ta hãy tung hê tất
cả để rong chơi vào một cuộc mộng du, ở đó chẳng còn trách nhiệm, chẳng còn
ràng buộc. Vọng niệm đã dậy, và người tu hành phút đó bỗng lạc vào một tà đạo
lúc nào. Chẳng hay, họ bỗng thành một kẻ phàm tục mà cứ tưởng mình không tục, họ
đi tìm cái nhởn nhơ trong một cuộc lang thang tĩnh lặng. Cái đó cũng là một lạc
thú chẳng kém một thứ lạc thú nào trên thế gian này, mà chỉ một số người mắc bệnh,
hoặc không có bệnh nhưng được trời phú cho cái linh khiếu đó hưởng được, nó như
một thứ ma túy tinh thần.

Thuận Tông mắc phải thứ ma túy đó, nó vẫn rủ rê ông
trốn việc đi chơi. Ông ngồi tĩnh tọa đấy, nhưng thực ra hồn ông đang rong ruổi
tận đâu đâu; lúc thì lông bông với những ý tưởng buồn bã, lúc thì đụng đầu với
một kẻ đối thoại vô hình rất thông minh và vô cùng ma quái. Nhiều đêm, ông đã
nói chuyện với kẻ đối thoại ấy. Có lúc nó là một bóng đen không mặt, có lúc nó
là một màn sương nhòe nhòa. Ông đồ chừng rằng chính nó vẫn thường hằng phục
kích trong lòng ông, trong tâm hồn ông, để đêm đêm hiện ra hành hạ ông. Ông ngồi
tĩnh tọa và cố xua đuổi nó bang những câu thần chú. Ông lẩm bẩm:

... Tắc kỳ đoài

Bế kỳ môn

Chung thân bất cần

Khai kỳ đoài

Tê kỳ sự

Chung thân bất cứu...

Đó là một câu nói của Lão Tử mà đạo Thần tiên đã biến
thành một câu thần chú. Hãy ngậm miệng; hãy nhắm mắt, hãy làm đôi tai điếc đặc;
hãy thở nhè nhẹ, nhè nhẹ thôi... Như vậy có nghĩa hãy cắt đứt hoàn toàn với cuộc
sống trần thế, đừng để cho ngũ quan liên hệ với ngoại cảnh. Lúc đó riêng ta sẽ
đối diện với ta; hay nói cho đúng hơn, cả bản thân ta cuối cùng cũng biến nốt,
để cho ta đi đến một trạng thái hư không, phiêu diêu tự tại, chẳng phải là sống,
cũng chẳng phải là chết... Trạng thái một thân xác lâng lâng, nhẹ như một sợi
khói mong manh, loãng như làn nước trong... Và tâm hồn nhạt nhẽo, nhạt thếch, hết
buồn, hết vui, trạng thái đó đối với Thuận Tông thật dễ chịu, thật an ủi.

Nhưng đột nhiên trong màn mờ của tâm tưởng phiêu
diêu cái chấm đó bỗng hiện lên. Đuổi nó đi. Cút đi! Đừng theo đuổi, bám lấy ta
như vậy! Thuận Tông tự nhủ. Ông lại cố tập trung lầm bầm câu thần chú. Cái chấm
đó nhạt nhòa, sắp sửa tan loãng, nhưng rồi nó lại hiện ra như ma trơi. Cố gắng
mãi, con ma trơi tâm tưởng ấy cuối cùng cũng biến đi. Thuận Tông thở dài. Nhà
vua hầu như đã thắng, nhưng không trụ lại trong trạng thái hư vô được nữa. Cũng
có thể là ngược lại nỗi ám ảnh ma trơi đó đã thắng, bởi vì ông đã buộc phải
quay về trần thế, phải mở đôi mắt ra để ngỡ ngàng nhìn vào đêm đen u tịch. Ông
lẩm bẩm: Tịch mịch quá! - ông thở dài - Ta thèm... được như đêm suông. Gió hây
hây và cỏ cây rì rào. Ta thèm... được như cỏ cây hoa lá. Ước gì... cứ đêm mãi.
Ta sợ ngày đến, bởi vì khi ngày đến, khi mặt trời mọc là muôn vật lại nhốn
nháo. Con ngựa tranh nhau chuồng cỏ. Lũ gà sống tranh nhau tiếng gáy. Kỳ quặc cả
đến tiếng gáy cũng tranh hơn. Rồi triều đình nữa? Ôi? Cái triều đình rồ dại?
Thiên hạ như một bầy người điên. Họ tranh nhau từ màu áo cho đến lọng che, cho
đến kiệu đi, ngựa cưỡi. Thèm áo đỏ, áo tía. Thèm nhiều tàn, nhiều lọng, thèm kẻ
hầu người hạ, tì thiếp đông đúc...

Ôi! Còn cái áo hoàng bào của ta nữa đấy. Ngôi báu
làm bao kẻ thèm khát. Thượng phụ ơi ông
là thầy của ta là cha vợ của ta. Ông đã vất vả vì nó từ hơn hai chục năm nay.
Ta biết chứ. Mà thiên hạ hỏi còn ai không biết? Thượng phụ ơi! Ta xin biếu người
đấy. Nhưng than ôi! Ngôi báu tiếng là của ta nhưng có thực là của ta đâu. Bên
ta, còn biết bao nhiều người giữ tay ta lại, bịt miệng ta lại, không cho phép
ta trao nó cho ông. Họ bảo đó là việc làm rồ dại. Ông khôn ngoan nghĩ ra một kế,
gợi ý cho ta truyền ngôi cho con trai. Thằng An chưa đầy ba tuổi, nó đi chưa vững,
nói chưa thạo; nó đã hiểu ngai vàng là cái gì. Đối với nó có khi không bằng một
thứ đồ chơi trẻ nít.

Thế là ta đã đồng ý
để mọi việc triều chính rơi hết vào tay ông. Như vậy ông đã thỏa chưa? Tại sao
ông vẫn chẳng buông tha, trả ta về với sự bình an tịch mịch? Ôi... Đêm dịu hiền.
Ta muốn hòa mình vào đêm. Ta khát khao tịch mịch.

Nhưng, có lúc nào
ông muốn lỏng tay buông tha ta.

Cả đến những người
gần gũi ta, có chút xót thương số kiếp của ta, ông cũng không tha. Số phận của
nàng Ngọc Kiểm, ai mà chẳng rưng rưng giọt lệ. Ta đã chịu ơn dày của người con
gái nhẫn nhục, đầy đức hy sinh. Trong lúc ta điên rồ, nàng chẳng tiếc tấm thân
ngọc ngà, để an ủi ta, ban phát tình yêu cho ta, nâng niu dìu ta khỏi vực thẳm
điên rồ. Khi ta khỏi bệnh, các người lại bắt nàng đi, giam lỏng, buộc nàng phải
ròng rã một tháng trời, uống thứ thuốc đắng ngắt, uống thứ thuốc thất đức, vì
các người sợ sự trung thành dịu dàng của nàng sẽ đâm hoa kết trái. Ôi! Nàng
tiên tinh khiết của ta! Hãy tha lỗi cho ta, vị quân vương chẳng có quyền lực
gì. Họ bảo với Ngọc Kiểm thuốc đó là thuốc bổ. Triều đình muốn cảm cái ơn cứu tử
đã giúp ta lành bệnh. Kể với ta, nàng ròng ròng nước mắt. Nàng không nói, nhưng
ta biết nàng đã khóc cho cái mầm tình yêu bị đốn chặt ngay từ lúc chưa hình
thành, cái mầm sống mà nàng nâng niu và ta cũng ước ao. Mấy tháng sau, khi ta
đã hoàn toàn tỉnh táo và nhớ lại chuyện xưa, ta đòi nàng về hầu hạ ta. Họ bắt
buộc phải cho nàng về với ta, nhưng đêm đó nàng đã khóc nức lên:

- Bệ hạ ơi! Thiếp
bây giờ chỉ là thứ cây khô.

- Nàng nói thế
nghĩa là sao?

- Thiếp chẳng thể
sinh con cho chàng được nữa.

Thế đấy. Nỗi đắng
cay của nàng đến thế mà cũng không xong. Khi thượng phụ sai thượng thư Hà Đức
Lân dỡ ngói lưu ly ở điện Thiên Chương, dùng thuyền chuyên chở vào động An Tông,
để cấp tốc xây dựng Tây Đô, Ngọc Kiểm nói với ta:

- Thái sư dời đô là
sắp có chuyện cướp ngôi đó.

Lấy lý mà suy, chuyện
dời đô có một mục đích như thế thật. Bởi vì tổ tiên nhà Trần ta đã tạo ra bao
ân đức. Ba lần đánh thắng quân Nguyên, xây dựng nước Đại Việt trở nên văn hiến,
hùng cường... những điều đó há chẳng ghi sâu vào tấm lòng người Việt sao, nhất
là dân Thăng Long. Thượng phụ định dời đô tức là sợ dân Thăng Long, đã thấy cái
yếu vì lòng dân chẳng ủng hộ mình. Tuy nhiên, bè đảng của ông quá mạnh, ông lại
là người cứng cỏi... Chuyện dời đô, dân Thăng Long đang xì xầm khắp nơi. Ai chẳng
nói giống Ngọc Kiểm. Chỉ có khác, Ngọc Kiểm đã dám thẳng thắn nói với ta... Ta
thật sơ suất, ta thật ngây thơ, chỗ nào mà chẳng có tai mắt của thượng phụ; ta
đã có lỗi với nàng vì đã để mình nàng gánh chịu hậu quả. Chỉ chờ có cớ, lập tức
một vụ án đã xảy ra. Đầu tiên, người bắt Ngọc Kỵ cô cung nữ em họ Ngọc Kiểm, hầu
hạ ta ở ngoại phòng. Bị tra tấn khủng khiếp. Ngọc Kỵ khai ra Ngọc Kiểm. Ngọc Kiểm
lại bị tra tấn ráo riết hơn. Họ muốn tìm ra những đại thần phía bên trên Ngọc
Kiểm. Thượng phụ muốn nhân vụ án, khủng bố để dập tắt dư luận và tiến thêm một
bước bẻ gãy phe chống đối. Ngọc Kiểm vẫn không một lời khai. Đến chết cô vẫn chỉ
nói:

- Dời đô, tức là sắp
cướp ngôi.

5

Trong gian mật thất
tại dinh quan thái Bảo, hai mái đầu chụm gần nhau. Trần Nguyên Hàng lắc đầu:

- Thế là hỏng rồi.
Đức vua đã hoàn toàn suy sụp.

Trần Khát Chân trầm
ngâm:

- Sắp dời đô? Hiểm
họa đang đến gần. Nàng Ngọc Kiểm đã hy sinh cả tính mạng để cảnh báo chúng ta.
Chẳng lẽ chúng ta, những rường cột của nhà Trần, lại không bằng người đàn bà
đó, lại không nghĩ ra được một điều gì để cứu vãn cơ đồ?

Thái bảo Trần
Nguyên Hàng giọng lo lắng:

- Nghe nói hoàng
thượng đang có ý định truyền ngôi cho thái tử An. Ván cờ đang ở thế kịch liệt.
Hồ Quý Ly đang đi nước rút. Quý Ly sẽ làm nhiếp chính.

- Thực ra dù hoàng
thượng có bị mất quyền, có đi tu, hoặc xấu nhất có bị giết, thì chúng ta vẫn có
cớ để nêu cờ chính nghĩa. Ngoài đức vua Thuận Tông ra, Nghệ Hoàng hiện nay vẫn
còn những người con các bà cung phi như Mẫn Vương Ngọc và Nam quận vương Trần
Ngôi. Vấn đề chủ chốt vẫn là lực lượng phò Trần của chúng ta. Theo ý tôi, thế của
phe Quý Ly đang rất mạnh, nhưng phe phò Trần thực ra cũng không yếu. Chỉ có điều
bất lợi cho chúng ta là phe Hồ Quý Ly nắm được những địa vị chủ chốt, nắm được
những quan lại cấp dưới. Còn các đại thần hầu như đều ngả theo ta. Hiện nay,
tình thế đã hoàn toàn rõ ràng. Trước kia, Quý Ly chỉ lộng quyền. Chúng ta đã thất
bại trong việc ngăn chặn sự lộng quyền. Quyền hành càng lớn tất nhiên sẽ đi đến
tiếm ngôi. Tình hình cấp bách lắm rồi!

Trần Nguyên Hàng ngậm
ngùi:

- Chúng ta đã hao tổn
tâm trí sắp đặt bao mưu kế...

Trần Khát Chân giọng
nghiêm trọng:

- Những mưu kế sắp
tới cần phải quyết liệt hơn.

Nguyên Hàng ghé tai
thì thầm:

- Bùi Bá Kỳ lại mới
gặp tôi...

- Sao? Bá Kỳ ư?

- Phải... Ông ta vẫn
muốn liên hệ với chúng ta.

Khát Chân:

- Trước khi gặp
ông, Bá Kỳ đã đến nói chuyện với tôi.

- Ông từ chối?

- Đúng vậy Tôi đã
suy nghĩ kỹ rồi. Phải từ chối thôi. Tôi bảo với Kỳ: “Ông nghĩ kĩ mà xem, Thân
Bao Tư nước Sở đã đứng trước cung vua Tần khóc ròng rã bảy ngày đêm; Tần đã cứu
Sở. Nhưng kết quả cuối cùng là Tần thâu tóm toàn bộ các nước về tay mình, kể cả
nước Sở. Nay, nếu chúng ta cầu cứu nhà Minh... cái chung cục chắc ông đã rõ...”

Thái bảo Nguyên
Hàng lắc đầu:

- Tôi lại nghĩ có
hơi khác một chút. Tôi nghĩ: bọn loạn thần tặc tử ai cũng có thể giết được. Đó
là vâng mệnh trời, việc đó ta không thể một ngày làm ngơ. Người trong nước giết
không được, thì người nước láng giềng có thể giết. Người nước láng giềng không
giết được, thì kẻ di địch, mọi rợ cũng có thể giết... Vì thế có thể nhờ người
Minh giết.

Trần Khát Chân có vẻ
buồn:

- Tôi không ngăn trở
Bùi Bá Kỳ. Ông ta cứ làm theo cách nghĩ của ông ta. Nhưng còn về phần chúng ta,
nếu như lòng dân có thể theo ta, điều đó chính vì chúng ta có đại nghĩa; mà một
điều để chứng tỏ đại nghĩa là chúng ta không thể sơ suất thơ ngây, đem lòng tin
vào kẻ ngoại bang. Họ không hào phóng cho không chúng ta đâu. Điều quan trọng
trong cuộc mua bán này, chúng ta không thể dễ dàng đặt cọc nhân phẩm của riêng
mình và non sông gấm vóc của tổ tiên.

Thái bảo Nguyên
Hàng lặng đi, nhưng rồi ông cũng phải gật đầu:

- Huynh nghĩ như vậy
là cặn kẽ. Vì nôn nóng nên tôi có phần nào sơ suất.

- Bá Kỳ cũng rất
nôn nóng, nhưng phải nhận rằng ông ta là bậc trung thần. Tuy nhiên... mà thôi
ta nên gác chuyện đó lại.

Nguyên Hàng hỏi:

- Vậy theo huynh,
hiện nay ta có cách gì?

- Đệ nghĩ nên nắm lấy
binh sĩ. Tôi là nhà võ nên biết có rất nhiều tướng sĩ của ta có lòng vì đại
nghĩa. Ông thấy Đỗ Tử Mãn, Đặng Tất ra sao?

Trần Khát Chân lắc
đầu.

- Còn Nguyễn Cảnh
Chân, Trần Vấn?

Khát Chân lại lắc đầu.

- Còn xa kỵ tướng
quân Phạm Khả Vĩnh? Ông này vô cùng kín đáo.

Khát Chân cười:

- Đúng ông ta thật
kín đáo. Lắm lúc ta còn tưởng ông về hùa với Quý Ly... Tuy nhiên, ông ta có mối
giao tình với tôi.

- Ông nói sao?

- Khả Vĩnh có mối
giao tình với tôi kể từ ngày đánh Chế Bồng Nga. Ông Vĩnh và tôi đều được Nghệ
Hoàng phong tước hầu và chức tướng quân. Nghệ Hoàng còn ban yến riêng cho hai
người. Lúc ăn, Nghệ Hoàng nắm lấy tay hai chúng tôi đặt lên nhau. Người nói:
“Các khanh đã cứu nguy cho nhà Trần thoát khỏi một phen đại nạn. Ta nay đã già
rồi, cũng sắp trở về với tiên tổ. Nhà vua hãy còn ít tuổi. Các khanh là những
người giỏi quân cơ. Khi ta đã đi xa rồi, tới lúc đó chắc còn nhiều việc xảy ra.
Mong rằng các khanh sẽ là những cột trụ cho nước nhà. Ta rất trông cậy ở hai
khanh.” Nói xong thượng hoàng rơm rớm nước mắt. Càng ngày thái sư càng lộng quyền.
Phạm Khả Vĩnh đóng cửa ở nhà ít giao du với mọi người. Ra triều đình, ông ta ít
nói. Tôi thở dài cho rằng ông ta đã đổi chí, hoặc sợ hãi, nên mũ ni che tai, an
hưởng thái bình, sống chết mặc bay. Cháu Khả Vĩnh là Phạm Tổ Thu làm gia tướng
của tôi. Tôi thăm dò thái độ. Thu bảo: “Bác Vĩnh tôi rất kín đáo ngay cả vợ con,
bác cũng chẳng bao giờ hở ra điều gì về việc triều chính.” Tôi nói: “Ông Vĩnh từ
xưa đến nay vốn trọng lễ nghĩa và nghiêm trang, linh cẩn.” Tổ Thu dè dặt: “Chính vì vậy, nên tiểu nhân mới mạnh dạn xin đức
ông trực tiếp gặp gỡ bác.” Tôi hỏi: “Tại sao anh
khuyên tôi như vậy?” Tổ Thu thưa: “Chính vì
bác tôi là người trọng lễ nghĩa.” Nghe lời khuyên của Tổ Thu tôi đến gặp xa kỵ
tướng quân Phạm Khả Vĩnh.

Nhận được danh thiếp
của tôi, tướng quân ăn mặc tề chỉnh cùng gia thuộc ra đứng chờ đón ở thềm nhà
tiền đường. Câu đầu tiên của ông ta là: “Nhờ ơn sáng đức vua, nhờ tài kinh bang
tế thế của quan thái sư, anh em ta mới được an hưởng thời thái bình như hôm
nay...” Tôi như bị một gáo nước lạnh, đớ người ra. Sau đó, ông chuyện trò với
tôi rất niềm nở. Tôi phải gượng gạo tiếp chuyện. Đang ở thế chủ động, tôi đâm
ra bị động, mãi mới nhập được vai, làm cho câu chuyện bớt phần lúng túng. Sau
đó, tôi định cáo từ ra về, nhưng Khả Vĩnh cứ ân cần mời tôi ở lại uống rượu, lấy
cớ rằng bữa tiệc đại mai mà tôi mời ông đầu năm, ông không dự được vì ốm. Tôi lại
đành gượng gạo ép mình vào tiệc, định nâng chén tiêu sầu mà lòng càng sầu thêm.
Ông ta nhắc lại trận đánh Chế Bồng Nga ở Hoàng Giang. Ông kể chuyện, đôi mắt
long lanh. Tôi hỏi: “Té ra quan huynh vẫn còn nhớ chuyện xưa?” Ông ta cười hỏi
lại: “Ông cũng còn nhớ chuyện xưa chứ?” Lúc đó tôi cũng cười. Mấy đứa gia nhân
chạy xuống bếp lấy thêm rượu và món nhắm. Đến bấy giờ, Vĩnh mới hỏi tôi: “Còn
việc thượng hoàng ban yến sau đó. Ông có nhớ không?”,
“Quên sao được!”, “Hôm đó hoàng thượng khóc.”
- “rồi dặn dò chúng ta...” - “rồi cầm hai tay
chúng ta đặt lên nhau” - “tôi không quên?” - “Cả tôi cũng ghi sâu trong lòng?”
Chúng tôi cầm tay nhau cười lên ha hả. Đúng lúc đó bọn gia nhân mang thêm thức
nhắm và rượu lên.

Trần Nguyên Hàng trầm
ngâm:

- Tôi hiểu ý bác.
Ngoài Phạm Khả Vĩnh, trong triều còn nhiều người cùng chí hướng với chúng ta
nhưng không dám bộc lộ ra.

- Tôi chắc vậy. Còn
vài người chủ chốt như trụ quốc Trần Nhật Đôn, hành khiển Lương Nguyên Bưu, thượng
thư Hà Đức Lân...

Thái bảo Nguyên
Hàng rất chú ý đến triều chính, nên việc nhân sự thuộc như lòng bàn tay:

- Trần Nhật Đôn là
tôn thất, lại chơi thân với Sư Hiền, cứ nhờ Sư Hiền thăm dò là tốt hơn cả.
Lương Nguyên Bưu và Hà Đức Lân từ trước đến nay chúng ta vẫn dè dạt không dám
quan hệ, vì họ được Quý Ly kéo vào vây cánh. Chính Quý Ly, sau khi thượng hoàng
băng, đã cất nhắc họ vào chức hành khiển, làm người thân tín bên cạnh Thái sư.
Tuy nhiên, chừng hơn năm nay tình thế đã khác. Lương Nguyên Bưu vốn dòng dõi
vinh hiển lâu đời, tổ tiên làm quan từ đời nhà Lý; cụ nội Bưu lại có công lớn
trong trận đánh Toa Đô, được vua Trần Nhân Tông phong tước hầu. Bưu là người
tài, lúc đầu Bưu tâm phục Quý Ly, nhưng từ khi thái sư bắt dời đô vào Thanh Đô
Trấn. Ông ta thay đổi hẳn. Việc Quý Ly bắt ông dỡ điện Thụy Chương và Đại An
đem vào xây dựng Tây Đô, đã làm ông phẫn nộ. Có người thân cận với Bưu đã cho
tôi biết tâm sự kín đáo của ông. Còn Hà Đức Lân năng nổ nên được Quý Ly tin cậy.
Nhưng gần đây, ông rất ưu tư. Nhất là chính sách hạn điền, bắt người có ruộng tự
cung khai, cắm biển đề tên chủ ruộng, ai thừa số quy định thì sung công. Hành
khiển Hà Đức Lân phản ứng, chỉ dám nói với người thân tín trong phủ: “Đặt ra
phép này chỉ cốt để cướp ruộng của dân mà thôi.” Thế mà câu nói đó cũng đến tai
Quý Ly. Thái sư giáng Lân từ chức hành khiển xuống thượng thư.

Thượng tướng Khát
Chân vui vẻ:

- Việc chúng ta chỉ
cốt nắm các đại thần. Cánh quan võ đã có tôi và tướng Khả Vĩnh. Còn cánh quan
văn, xin ông lo liệu giúp. Việc cơ mật này chỉ vài người biết với nhau là đủ...
Những ngày sắp tới, tôi lo thu xếp gia đình vào Tây Đô ngay kẻo Quý Ly ngờ vực.
Trong lúc lộn xộn thế này, ta có nhiều cơ hội tiếp xúc với các vị đại thần...
Tình thế khẩn trương lắm rồi, xin quan huynh cẩn trọng...

Hai người bái biệt chia tay. Nhà quan Thái bảo ở gần
Quốc Tử Giám, sát Đại Hồ, chạy dài suốt từ phía Tây đến phía Nam Thăng Long, từ
Quốc Tử Giám nối liền đến khu Trại Mai của Thượng tướng. Khát Chân mặc giả dân
thường, Phạm Ngưu Tất đội nón lá làm người lái đò chèo thuyền cho tướng quân.
Trong đêm lạnh, con thuyền của Khát Chân xào xạc đi trong bãi sậy. Những con vạc
từ mặt hồ bay lên, kêu ngơ ngác trong cái mù mịt hơi nước được ánh trăng chiếu
vào trông như khói đục. Những người đánh cá trên hồ gõ nhịp đuổi cá, tiếng
thanh tre đều đều buồn man mác. Một người đàn bà nào đó cất tiếng hát. Hát rằng:

... Can qua... rồi
lại can qua...

Cái cò lầm lũi
ai mà xót thương

Đêm trường... rồi
lại đêm trường

Co ro cánh vạc
gió sương lạnh lùng...

Thượng tướng nghe tiếng hát thấy nao nao trong dạ.
Giọt sương đêm hay giọt nước mắt chợt đọng lại và chảy dài trên gò má vị anh
hùng... Ông giơ bàn tay to, lạnh ngắt của mình quệt ngang mặt.

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3