Nạn Nhân Thứ Tư - Chương 19

MƯỜI
CHÍN

Moore đi bộ quanh khu nhà. Lần
này anh không để ý đến sự nóng bức. Anh thấy lạnh người vì những hình ảnh anh
nhìn thấy trên đoạn băng. Anh thấy nhẹ nhõm khi vừa ra khỏi phòng họp. Căn
phòng đó đã chứa đầy nỗi sợ hãi. Ở Savannah, không khí quánh đặc như nước si-rô
và những ánh đèn màu xanh nhẹ của thành phố này khiến anh thấy khó chịu. Thành
phố Boston có những góc cạnh mạnh mẽ, những giọng nói sang sảng, mỗi tòa nhà, mỗi
khuôn mặt cau có đều rõ nét. Dường như anh đang nhìn Savannah qua một tấm băng
gạc, thành phố với những nụ cười ngượng nghịu và những giọng nói như gió thoảng.
Anh tự hỏi mảng tối nào mà anh không nhìn thấy.

Khi quay lại phòng điều tra,
anh thấy Singer đang đánh máy tính.

- Khoan đã. - Singer nói.
Anh ta nhấn vào mục Kiểm tra lỗi chính tả. Chúa sẽ tha lỗi cho bất cứ lỗi chính
tả nào trong những bản báo cáo của anh ta. Anh ta hài lòng nhìn Moore. - Có
chuyện gì thế?

- Anh đã bao giờ tìm thấy sổ
ghi địa chỉ và số điện thoại của Capra chưa?

- Sổ nào?

- Hầu như ai cũng có một cuốn
sổ ghi địa chỉ và số điện thoại riêng để bên điện thoại. Tôi không thấy cuốn sổ
trong căn phòng của hắn trong cuộn băng, và tôi cũng không tìm thấy nó trong
danh sách những tài sản các vị đã thu làm tang vật.

- Anh đang bới lại chuyện
hai năm trước. Nếu nó không có trong danh sách của chúng tôi thì bởi vì hắn
không có cuốn sổ đó.

- Hoặc ai đó đã lấy nó đi
trước khi các vị đến.

- Anh đang tìm gì? Tôi nghĩ
anh đến đây để nghiên cứu về cách thức gây án của Capra, chứ không phải định
phá lại vụ án đấy chứ?

- Tôi quan tâm đến những người
bạn của Capra, những người biết rõ về hắn.

- Lạy Chúa! Chẳng ai hiểu hắn
hết. chúng tôi đã hỏi cung các bác sỹ và y tá làm việc cùng hắn, bà chủ nhà và
hàng xóm của hắn. Tôi đã lái xe đến Atlanta nói chuyện với cô hắn, người bà con
duy nhất của hắn còn sống.

- Vâng, tôi đã đọc qua những
lần hỏi cung.

- Vậy thì anh đã biết tất cả
mọi người đều bị hắn gạt. Tôi nghe ai cũng nhận xét: Một bác sỹ tận tụy! Một
người đàn ông thật lịch sự! - Singer khịt mũi.

- Họ không biết thực sự Capra
là người thế nào.

Singer xoay ghế về phía máy
tính.

- Khốn kiếp, không ai biết
những con quỷ thực sự là những kẻ thế nào.

Đã đến lúc xem đoạn băng cuối
cùng. Moore để dành cuộn băng này xem sau vì anh biết anh chưa sẵn sàng để xem
những hình ảnh trong đó. Anh đã cố bình tĩnh xem những đoạn băng khác, đã ghi
chú khi anh nghiên cứu kỹ phòng ngủ của Lisa Fox, Jennifer Torregrossa và Ruth
Voorhees. Anh đã xem đi xem lại các vết máu bắn lên, những vết dây buộc hằn
trên cổ tay các nạn nhân và ánh mắt vô hồn của họ. Anh có thể xem những đoạn
băng đó và không có cảm xúc gì vì anh không biết những cô gái đó. Anh không
nghe thấy tiếng nói của họ vang vọng trong đầu mình. Anh không tập trung vào
các nạn nhân, mà là vào bạo lực của một gã đã để lại trong phòng ngủ của họ.
Anh bỏ băng ghi hình hiện trường trong vụ án của Voorhees ra, đặt nó lên bàn.
Anh phân vân cầm đoạn băng còn lại. Trên nhãn mác có ghi ngày, số hồ sơ vụ án
và những dòng chữ: “Nơi ở của Catherine Cordell”.

Anh nghĩ sẽ dừng việc xem
băng lại đến sáng mai. Khi đó anh sẽ thấy sảng khoái. Anh đã ở trong phòng này
cả ngày. Anh cầm cuộn băng, cân nhắc xem nên làm gì.

Một thoáng trước đó, anh thấy
Singer đứng ở lối vào, nhìn anh.

- Trời! Anh vẫn ở đây. -
Singer ngạc nhiên.

- Tôi cần phải xem qua nhiều
thứ.

- Anh đã xem hết các cuộn
băng chưa?

- Trừ cuộn băng này.

Singer nhìn nhãn.

- Cordell.

- Đúng vậy.

- Tiếp tục đi, hãy bật lên! Tôi có thể bổ sung
thêm vài chi tiết.

Moore cho cuộn băng vào đầu máy, ấn nút Chạy.

Họ đang nhìn mặt trước ngôi nhà của Catherine vào
ban đêm. Hiên nhà được thắp sáng. Toàn bộ đèn bên trong đều được bật lên. Trên
đoạn băng, anh nghe thấy người thu hình nói ngày và thời gian - hai giờ sáng -
và tên của anh ta. Đó lại là Spiro Pataki. Dường như anh ta là người quay phim
được mọi người yêu mến. Moore nghe thấy những âm thanh nền - những giọng nói,
tiếng còi xe báo động lờ mờ. Pataki lại thực hiện thói quen là đi quanh ngôi
nhà. Moore lờ mờ thấy một đám đông những người hàng xóm đứng nhìn ngoài dải
ngăn ở cách hiện trường. Mặt họ sáng trưng vì ánh đèn của những chiếc xe tuần
tra của cảnh sát đỗ bên đường. Điều này khiến anh ngạc nhiên vì anh biết khi đó
đã quá nửa đêm. Chắc chắn việc đó rất ồn ào nên đã đánh thức nhiều hàng xóm.

Pataki trở lại ngôi nhà, tiến về phía cửa trước.

- Những phát súng. - Singer nói. - Đó là những bản
báo cáo đầu tiên của chúng tôi. Người phụ nữ ở bên kia đường nghe thấy tiếng
súng nổ, rồi sau đó rất lâu mới có tiếng súng thứ hai. Bà ấy đã gọi 911. Nhân
viên đầu tiên đến hiện trường bảy phút sau đó. Hai phút sau xe cứu thương được
gọi đến.

Moore nhớ người phụ nữ bên kia đường đã nhìn anh
qua ô cửa.

- Tôi đã đọc lời khai của bà hàng xóm. - Moore
nói. - Bà ấy nói đã không thấy bất cứ ai ra từ cửa trước của ngôi nhà.

- Đúng vậy. Bà ấy chỉ nghe thấy hai tiếng súng.
Bà ấy ra khỏi giường ngay sau phát súng đầu tiên và nhìn ra cửa sổ. Rồi có lẽ
là năm phút sau, bà ấy nghe thấy phát súng thứ hai.

Năm phút sau, Moore nghĩ.
Trong suốt thời gian trống đó đã có chuyện gì?

Trên màn hình, máy quay đã
tiến đến cửa trước và vừa mới vào nhà. Moore thấy một buồng nhỏ mở cửa, bên
trong có treo vài chiếc áo khoác, một cái ô và một máy hút bụi. Giờ cảnh quay
đã thay đổi, lướt qua phòng khách, Trên chiếc bàn thấp gần ghế dài có hai cốc
nước, một trong hai cốc vẫn còn chất lỏng trông như bia.

- Cordell đã mời hắn vào
trong. - Singer nói. - Họ đã uống vài cốc. Cô ấy vào phòng tắm, quay lại và uống
hết chỗ bia. Trong vòng một giờ, thuốc Rohypnol đã có tác dụng.

Chiếc ghế dài có màu hồng
đào, với những mẫu hoa văn nhỏ nhắn rất nữ tính. Moore không thấy Catherine là
kiểu phụ nữ thích hoa nhưng thật sự cô thích chúng. Những bông hoa trên rèm cửa,
trên những gối đệm đặt ở ghế dài. Và có rất nhiều màu sắc. Ở Savannah, cô đã sống
với nhiều màu sắc. Anh hình dung cô ngồi đó uống nước với Andrew Capra, thông cảm
lắng nghe những lo lắng của hắn về công việc trong khi thuốc Rohypnol từ từ đi
vào máu qua thành dạ dày của cô. Những phân tử thuốc gây mê cuộn lên não cô và
giọng nói của Capra bắt đầu nhỏ dần.

Giờ họ đi vào phòng bếp. Máy
quay quét một lượt quanh nhà, ghi lại từng phòng khi họ đến vào lúc hai giờ
sáng thứ bảy đó. Bồn rửa bát trong bếp chỉ có một cốc nước.

Moore đột nhiên cúi về phía
trước.

- Cái cốc đó - các anh đã
phân tích mẫu ADN từ nước bọt bám trên cốc chưa?

- Sao lại phải làm vậy?

- Các anh không biết là ai
đã uống nước trong cái cốc đó phải không?

- Chỉ có hai người trong nhà
khi cảnh sát đầu tiên đến hiện trường. Capra và Cordell.

- Có hai cốc trên bàn. Vậy
ai đã uống nước trong cốc thứ ba?

- Khốn kiếp, có lẽ nó đã nằm
trong bồn nước cả ngày. Nó không khớp với tình huống chúng tôi gặp ở hiện trường.

Người quay phim đã quay xong
nhà bếp và đi tiếp ra hành lang.

Moore cầm chiếc điều khiển từ
xa, ấn nút tua lại. Anh tua lại đoạn băng trước khi vào bếp.

- Gì vậy? - Singer hỏi.

Moore không trả lời. Anh cúi sát hơn, xem kỹ hình
ảnh đang được tua lại trên màn hình. Chiếc tủ lạnh có dính những nam châm hình
hoa quả. Những lọ đựng bột mì và đường nằm ở trên mặt bếp. Bồn nước có một chiếc
cốc duy nhất. Rồi máy quay lướt nhanh qua gian bếp, hướng về phía hành lang.

Moore lại ấn nút Tua lại.

- Anh đang nhìn gì vậy? - Singer suốt ruột.

Đoạn băng trở về chỗ có chiếc cốc. Máy quay lại
lia về phía hành lang. Moore ấn nút Dừng.

- Đây - anh nói - cửa bếp. Nó dẫn đến đâu?

- À… sân sau, mở ra một
bãi cỏ.

- Và sau bãi cỏ đó là gì?

- Môt cái sân cạnh đó, môt
dãy nhà khác.

- Anh có nói chuyện với chủ
của sân sau đó không? Ông hay bà ấy có nghe thấy tiếng súng không?

- Việc đó thì có nghĩa gì?

Moore đứng lên, lại gần màn
hình.

- Cửa bếp. - Anh nói và gõ
lên màn hình. - Có một dây khóa. Và dây khóa vẫn mở.

Singer dừng lại.

- Nhưng cánh cửa đó đã đóng
lại. Anh thấy vị trí tay cầm chứ?

- Đúng vậy. Đó là loại tay cầm
mà nhốt người ta ở bên ngoài.

- Ý anh là gì?

- Tại sao cô ấy ấn nút đó mà
lại không khóa cửa lại? Những ai khóa cửa vào ban đêm đều làm hai việc đó cùng
lúc. Họ ấn nút, rồi chốt cửa. Cô ấy đã bỏ qua bước thứ hai.

- Có thể cô ấy quên mất.

- Đã có ba cô gái khác bị giết
ở Savannah. Cô ấy đã lo sợ đến mức giấu súng dưới giường. Tôi nghĩ cô ấy không
quên. - Anh nhìn Singer. - Có thể ai đó đã ra bằng cửa bếp.

- Chỉ có hai người trong
ngôi nhà đó. Cordell và Capra.

Moore cân nhắc những điều
anh sắp nói. Dù được hay mất thì anh cũng sẽ nói thẳng.

Lúc này Singer đã biết cuộc
nói chuyện sẽ đi đến đâu.

- Ý anh là Capra có đồng bọn.

- Đúng.

- Đó là một kết luận thật
tuyệt vời chỉ do một dây khóa không cài.

Moore hít sâu.

- Còn nữa. Vào đêm Catherine
Cordell bị tấn công, cô ấy đã nghe thấy một giọng nói khác trong nhà mình. Một
người đàn ông đang nói chuyện với Capra.

- Cô ấy chưa bao giờ cho tôi
biết điều đó.

- Cô ấy đã nói điều đó trong
quá trình chúng tôi thẩm tra bằng thuật thôi miên.

Singer cười phá lên.

- Anh có nhà tâm lý nào để
chứng minh điều đó không? Vì nếu có thì tôi sẽ tin lắm đấy.

- Nó giải thích tại sao tên
Bác sỹ phẫu thuật lại biết tường tận những kỹ thuật của Capra. Hai tên đó là đồng
bọn. Và Bác sỹ phẫu thuật đang thừa kế khi nạn nhân duy nhất của chúng sống
sót.

- Thế giới này có khối phụ nữ.
Sao hắn lại tập trung vào cô ấy?

- Một công việc dang dở.

- Đúng vậy, tôi đã hiểu giả
thuyết đó hơn rồi. - Singer rời ghế. - Cordell đã quên không khóa cửa nhà bếp.
Gã ở Boston đã bắt chước những gì hắn thấy trên báo. Và nhà thôi miên của các vị
đã khơi lại những ký ức sai của cô ấy - Anh ta lắc đầu đi về phía cửa và nói với
anh một câu châm biếm - Hãy báo cho tôi biết khi anh bắt được tên sát
nhân thật sự.

Moore chỉ bận tâm một chút
sau những lời trao đổi đó. Anh biết Singer đang bảo vệ công cán của chính mình
trong vụ án. Anh không thể trách cứ khi anh ta nghi ngờ. Anh bắt đầu phân vân về
những suy luận của chính mình. Anh đã đi một đoạn đường dài đến Savannah để chứng
mình hoặc phủ nhận việc Capra có đồng bọn. Vì vậy anh chưa có gì để chứng minh
điều đó.

Anh chú ý màn hình và ấn
nút Chạy.

Máy quay rời phòng bếp, đi dọc
hành lang và dừng lại ở phòng tắm - những khăn tắm màu hồng, rèm che bồn tắm có
hình những chú cá nhiều màu. Tay của Moore vã mồ hôi. Anh sợ phải xem những
hình ảnh tiếp theo nhưng anh không thể rời mắt khỏi màn hình. Máy quay rời
phòng tắm, tiếp tục đi đọc hành lang, qua những giỏ hoa mẫu đơn màu hồng treo
trên tường. Sàn nhà bằng gỗ bị bẩn và dính đầy dấu chân của những nhân viên cảnh
sát đầu tiên và các nhân viên y tế cuống cuồng đến hiện trường. Những gì còn lại
là những vệt màu đỏ rối mắt. Cánh cửa sáng lờ mờ phía trước, cảnh phim rung mạnh
vì người quay không vững tay.

Giờ máy quay đã đến phòng ngủ.

Moore cảm thấy dạ dày anh cuộn
lên, không phải vì những gì anh đang nhìn khủng khiếp hơn những gì anh đã từng
thấy ở hiện trưởng các vụ án. Không, nỗi sợ này là nỗi sợ bản năng sâu trong
anh vì anh biết và rất yêu người phụ nữ bị hại ở đây. Anh đã xem kỹ những bức ảnh
chụp căn phòng này nhưng chúng không có màu xanh rợn người như trên màn hình. Mặc
dù Catherine không có trong hình - khi đó cô đã được đưa đến bệnh viện - nhưng
bằng chứng về vụ tra tấn cô đang la hét trên màn hình. Anh thấy dây ni-lông đã
được hắn dùng để buộc quanh cổ tay và cổ chân cô. Chúng vẫn bám vào chân giường.
Anh thấy những dụng cụ phẫu thuật - một con dao mổ và một cái banh miệng vết mổ
- trên bàn ở đầu giường. Anh thấy tất cả những điều đó. Chúng có tác động mạnh
đến nỗi anh thực sự run rẩy trên ghế như thể vừa bị ai đó đấm mạnh.

Ống kính máy quay lia đi chỗ
khác. Cuối cùng nó chĩa thẳng vào xác tên Capra nằm trên sàn nhà. Anh hầu như
không có cảm xúc gì, anh đã bị tê liệt khi nhìn những hình ảnh mấy giây trước
đó. Vết thương ở bụng Capra chảy nhiều máu. Máu tạo thành vũng lớn, đọng lại dưới
thân hắn. Viên đạn thứ hai găm vào mắt hắn đã khiến hắn chết ngay lập tức. Anh
nhớ khoảng trống năm phút giữa hai tiếng súng. Căn cứ vào vũng máu thì Capra đã
nằm đó và bị chảy máu trong ít nhất là năm phút.

Đoạn băng đã hết.

Anh nhìn màn hình trống
không, rồi cựa mình khỏi trạng thái bất động, tắt đầu băng hình. Anh cảm thấy
kiệt sức đến nỗi không thể đứng lên được. Cuối cùng, anh cũng đứng lên và chỉ
muốn rời khỏi nơi này. Anh ôm hộp giấy chứa những bản sao hồ sơ vụ điều tra ở
Atlanta. Những giấy tờ này không phải là bản chính mà chỉ là bản sao của những
hồ sơ ở Atlanta nên anh có thể xem chúng ở chỗ khác.

Trở lại khách sạn, anh tắm rửa,
ăn thịt bò và khoai tây chiên được mang đến tận phòng. Anh cho phép mình xem ti
vi một tiếng để bớt căng thẳng. Nhưng trong suốt lúc đó, anh chỉ ngồi cầm điều
khiển, chuyển hết kênh này sang kênh khác. Anh chỉ muốn gọi điện cho Catherine.
Khi xem cuộn băng cuối cùng quay cảnh hiện trường, nơi tên ác quỷ đã tấn công
cô anh không thể ngồi yên.

Anh nhấc điện thoại lên hai
lần, rồi lại đặt nó xuống. Nhưng anh lại nhấc máy lên, bấm số điện thoại mà anh
đã thuộc. Chuông reo bốn lần và anh nghe thấy tiếng máy trả lời tự động của
Catherine.

Anh gác máy, không để lại lời
nhắn.

Anh nhìn điện thoại, xấu hổ
vì ý chí của anh dễ bị đánh bại như thế nào. Anh đã tự hứa sẽ cứng rắn, giữ lời
hứa với Marquette rằng anh sẽ giữ khoảng cách với Catherine trong suốt thời
gian điều tra. Khi nào tất cả những chuyện này kết thúc, bằng cách nào
đó, anh sẽ hàn gắn lại mọi chuyện giữa hai chúng ta.

Anh nhìn tập tài liệu của
Atlanta đặt trên bàn. Bây giờ đã nửa đêm mà anh vẫn chưa bắt tay vào việc. Anh
thở dài, mở hồ sơ đầu tiên trong hộp.

Vụ án của Dora Ciccone, nạn
nhân đầu tiên của Capra không làm anh có hứng đọc. Anh đã biết những chi tiết
chung chung, chúng đã được tập hợp trong báo cáo của Singer. Nhưng Moore vẫn
chưa đọc những báo cáo sơ bộ của Atlanta. Giờ anh đang đi ngược thời gian,
nghiên cứu những hành động ban đầu của Andrew Capra. Atlanta chính là nơi vụ giết
người hàng loạt bắt đầu.

Anh đọc báo cáo tội phạm đầu
tiên, tiếp tục đọc ghi chép về những lần thẩm tra. Họ đã hỏi cung người phục vụ
quầy rượu ở quán rượu địa phương, nơi lần cuối cùng người ta thấy cô ấy còn sống.
Và cả bạn gái cô, người đã phát hiện ra thi thể cô. Ngoài ra còn có một tập hồ
sơ có danh sách những kẻ tình nghi, ảnh của chúng; trong đó không có Capra.

Dora Ciccone là sinh viên
hai mươi hai tuổi, tốt nghiệp Đại học Emory. Vào đêm cô bị giết, người ta nhìn
thấy cô lần cuối vào khoảng nửa đêm. Khi đó cô đang uống rượu Margaritta ở quán
La Cantina. Bốn mươi tám giờ sau, thi thể cô đã được phát hiện trong nhà, trần truồng,
bị trói vào giường bằng băng dính. Tử cung đã bị cắt rời và cổ bị cứa đứt.

Anh tìm thấy bản ghi chép thời
gian của cảnh sát. Đó chỉ là bản ghi chép cẩu thả, gần như không đọc được. Như
thể thám tử ở Atlanta đã liệt kê lụi mọi việc cho đủ những thông tin của hồ sơ
ban đầu. Anh có thể nhận thấy sự thất bại của họ trên những trang giấy, có thể
hình dung ra bàn tay rũ xuống vì thất vọng của viên thám tử. Chính anh đã trải
qua cảm giác nặng nề đó khi hai mươi tư giờ, một tuần, rồi một tháng trôi qua
mà anh vẫn chưa tìm được manh mối. Đây là tình huống thám tử ở Atlanta gặp phải
- không có gì. Kẻ giết Dora Ciccone vẫn còn là ẩn số.

Anh mở báo cáo khám nghiệm tử
thi.

Việc cắt mổ Dora Ciccone đã
không nhanh chóng và nhuần nhuyễn như những lần giết người sau đó. Những vết mổ
nham nhở cho thấy Capra đã không đủ tự tin để cắt một đường dứt khoát ngang phần
bụng dưới. Thay vào đó, hắn ngập ngừng. Lưỡi dao của hắn thụt về phía sau, xọc
mạnh qua da. Khi đã qua lớp da, quá trình sau đó biến thành một công đoạn rạch thịt
không lành nghề. Con dao ấn ngập cả lưỡi và một phần cán dao khi hắn tìm sự vui
thú. Trên người nạn nhân lần này không có chỉ y tế để buộc động mạch. Máu chảy
nhiều. Capra chắc chắn đã làm việc như một người mù, việc giải phẫu của hắn để
lại một vũng máu lớn.

Chỉ riêng việc cắt thành nhiều
lớp đã được hắn thực hiện có kỹ năng. Nó được thực hiện bằng một vết cắt gọn, từ
trái sang phải, như thể sự thèm khát của hắn lúc này đã được thỏa mãn, và cơn
điên đã nguôi dần, cuối cùng hắn đã kiểm soát được bản thân và hoàn thành công
việc của mình một cách hiệu quả, lạnh lùng.

Moore đặt báo cáo khám nghiệm
tử thi sang bên, nhìn những phần còn lại trên bàn được đặt trên một cái khay
bên cạnh anh. Bỗng anh thấy buồn nôn. Anh mang cái khay ra cửa, đặt nó bên
ngoài hành lang. Rồi anh trở lại bàn, mở tập hồ sơ tiếp theo. Trong đó có những
báo cáo của phòng thí nghiệm.

Tờ giấy đầu tiên là mẫu soi
dưới kính hiển vi: mẫu tinh trùng được xác định từ chất dịch lấy từ tử
cung của nạn nhân.

Anh biết bản phân tích ADN của
mẫu tinh trùng này xác nhận đó là mẫu của Capra. Trước khi giết Dora Ciccone, hắn
đã cưỡng bức cô ấy.

Moore lật trang tiếp theo và
thấy một đống giấy báo cáo của Phòng phân tích Tóc và Sợi. Vùng kín của nạn
nhân và những sợi lông đã được kiểm tra. Trong số những sợi lông vùng kín màu
nâu đỏ, có vài sợi khớp với mẫu tóc của Capra. Anh lật nhanh qua những trang
báo cáo Tóc và Sợi. Họ đã kiểm tra nhiều sợi tóc vương vãi tại hiện trường. Phần
lớn mẫu tóc là của chính nạn nhân, cả lông ở phần kín và tóc. Cũng có những sợi
lông ngắn màu vàng rơi trên gối. Sau đó nó được xác định không phải là của người,
căn cứ vào cấu trúc sống tóc. Một tờ phụ lục viết “Mẹ của nạn nhân có một con
chó tha mồi lông vàng, giống với những sợi lông tìm thấy trong ghế sau xe của nạn
nhân”.

Anh lật trang báo cáo Tóc và
Sợi cuối cùng và dừng lại. Có bản phân tích một sợi tóc khác, đây là tóc của
người nhưng vẫn chưa được xác định. Nó được tìm thấy trên gối. Trong bất cứ
ngôi nhà nào, người ta cũng có thể dễ dàng tìm thấy những sợi tóc vương vãi.
Tóc người rụng hàng chục sợi mỗi ngày, tùy thuộc vào việc bạn chăm chỉ làm việc
nhà đến đâu, bạn có thường hút bụi trong nhà không. Chăn, gối, ghế đệm trong
nhà bạn có lưu giữ dấu vết nhận dạng của những vị khách đã từng đến thăm nhà hạn.
Sợi tóc duy nhất được tìm thấy trên gối này có thể là của tình nhân của nạn
nhân, một vị khách, một người hàng xóm. Đó không phải là tóc của Andrew Capra.

Sợi
tóc của người màu nâu sáng, AO (độ xoăn), độ dài gốc tóc: năm cm. Đang ở giai
đoạn thoái hóa. Chú ý có hiện tượng trichorrhexis invaginata. Chưa rõ nguồn gốc.

Trichorrhexis
invaginata.
Tóc tre.

Bác sỹ phẫu thuật đã ở đó.

Anh ngả mình về phía sau,
kinh hoàng. Đầu buổi hôm nay anh đã đọc những bản báo cáo của phòng thí nghiệm
trong vụ án của Lisa Fox, Voorhees, Torregrossa và Cordell. Tại hiện trường của
cả bốn vụ án trên, cảnh sát đã không tìm được sợi tóc tre nào.

Nhưng đồng bọn của Capra đã ở
đó trong suốt thời gian hắn gây án. Hắn vẫn vô hình, không để lại tinh dịch, mẫu
ADN. Bằng chứng duy nhất về sự có mặt của hắn là sợi tóc này, và trí nhớ đã bị
lãng quên của Catherine về giọng nói của hắn.

Tên
đồng bọn đã nhúng tay ngay vào vụ đầu tiên ở Atlanta.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.