Rừng Răng-Tay - Chương 11
11
Hai ngày
sau khi chúng tôi gặp nhau ở trên đồi, tôi cứ mong ngóng được gặp lại Travis.
Tôi đi tới đi lui trong căn phòng nhỏ bằng đá ở nhà thờ, căng tai ra nghe xem
có giọng nói của anh vang lên trong hành lang hay không nhưng chỉ thấy im lặng
tuyệt đối. Cứ hễ lúc nào được ở một mình hay trốn được những buổi lễ nhàm chán
bất tận là tôi lại chạy lên đồi. Tôi hy vọng sẽ nhìn thấy anh ở đó. Hy vọng anh
sẽ nghĩ ra cách nào đó để chúng tôi được ở bên nhau.
Nhưng lần
nào cũng vậy, tôi chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng gió rì rào trên những tán cây,
cả tiếng rên rỉ của những sinh vật Vùng vô định vọng ra từ trong rừng. Những
Người bảo vệ đã tăng cường tuần tra dãy hàng rào và tôi cứ ngồi đó mà nhìn họ
đi đi lại lại, mắt dán vào rừng để tìm kiếm dấu vết Gabrielle.
Thỉnh
thoảng tôi lại trông thấy Jed đứng trong đám tuần tra. Những lúc ấy tôi chỉ
muốn chạy ra chỗ anh để kể lại tất cả những gì tôi biết về Gabrielle, rằng cô
đã đến từ Bên ngoài. Nhưng rút cục tôi giữ im lặng vì những Người bảo vệ luôn
phụng sự các xơ và tôi sợ rằng anh Jed sẽ không giữ kín bí mật cho tôi. Như thế
xơ Tabitha sẽ phát hiện ra rằng tôi biết chuyện Gabrielle và bà sẽ quẳng tôi
vào rừng rậm.
Harry,
giờ mới gia nhập đội Người bảo vệ, cho tôi biết rằng cái Kẻ chạy nhanh, họ gọi
Gabrielle như vậy, đã biến mất vào trong rừng rậm. Anh cũng bảo cô ta lao vào
hàng rào hung dữ đến nỗi những Người bảo vệ không thể ra tay được.
Sự xuất
hiện của cô làm cho lễ Edenmass mất đi phần vui vẻ. Nhiều người lo rằng Vùng vô
định giờ đã thay đổi để thích ứng, và cái Kẻ chạy nhanh đó là bằng chứng sống
của một giống di truyền mới. Rồi cái nòi đó sẽ tàn sát tất cả chúng tôi.
Nhóm
những Người bảo vệ và các xơ cố gắng xoa dịu nỗi sợ hãi đang ngày càng tăng dần
lên bằng cách nói với chúng tôi rằng chủng sinh vật chạy nhanh này chẳng có gì
là mới mẻ cả. Trong một buổi lễ, xơ Tabitha đứng đó cùng với hai Người bảo vệ
thứ hạng cao nhất. Những người làng đứng trước mặt họ, tay giữ chặt lũ trẻ, mắt
dõi về phía hàng rào. Không khí cồn lên nỗi kinh hoảng và tôi có thể cảm thấy
những múi cơ của mình cũng căng ra vì điều ấy.
- Kể từ
Thời tái sinh, các xơ cũng đã biết về chủng sinh vật chạy nhanh rồi. - Xơ nói,
lưng ưỡn thẳng với hai cánh tay xuôi xuống, gió chiều thổi tung chiếc áo dài
đen khiến nó quấn chặt vào chân xơ. - Những Kẻ chạy nhanh không có nhiều song
chúng hung dữ và dễ dàng tàn phá mọi thứ. Chúng luôn tồn tại nhưng Chúa đã cứu
rỗi để ngôi làng này không bị ảnh hưởng bởi những kẻ đó.
Bà ta
đánh ánh mắt về phía tôi khi nói điều này, cứ như thể tôi là nguồn cơn gây ra
sự xuất hiện của Gabrielle vậy.
- Chúng
ta không biết thứ gì đã tạo nên chúng, thứ gì khiến cho chúng di chuyển nhanh
như thế, nhưng chúng ta biết rõ rằng chúng có thể tự đốt cháy mình nhanh chóng,
có thể phân tách cơ thể ra làm nhiều phần rồi sau đó nhập trở lại như cũ. Những
Người bảo vệ đã phải tăng cường lượt tuần tra gấp đôi và ngay cả đàn ông trong
làng cũng phải rời bỏ công việc đồng áng để tham gia vào việc giám sát. Mối đe
dọa này sẽ sớm kết thúc thôi, vì nếu những Người bảo vệ không giết Kẻ chạy
nhanh thì nó cũng sẽ sớm tự bốc cháy. Từ giờ đến lúc đó, lựa chọn duy nhất của
chúng ta là tiếp tục cầu nguyện để xin sự gia ân của Đức Chúa.
Xơ
Tabitha cùng chúng tôi đọc kinh xong bước xuống bục để lễ Edenmass và Brethlaw
tiếp tục được tiến hành. Tuy nhiên tôi có thể thấy rõ mọi người vẫn còn hoang
mang và e sợ cái giống nòi mới của Vùng vô định. Người ta khiêu vũ một cách lơ
đãng. Rồi tiệc tùng cũng kết thúc sớm. Mọi người quay trở về nhà từ lúc chập
tối, sẵn sàng chờ đợi những điều tồi tệ nhất.
Tôi không
ngừng tự hỏi liệu các xơ còn giấu chúng tôi điều gì nữa không? Họ đang khóa kín
bí mật nào trong cái nhà thờ kia. Họ còn biết điều gì nữa về sinh vật
Gabrielle, mà tôi chỉ thấy là một cô gái giống như tôi.
Những ý
nghĩ của tôi tức thì quay trở lại cái ngày mà xơ Tabitha điệu cổ tôi xuống
đường hầm dưới lòng đất để đi ra bãi đất trống trong rừng. Có phải điều tương
tự cũng đã xảy ra với Gabrielle? Tôi muốn chạy ngay đến chỗ xơ Tabitha để hỏi
xem bà ta đã làm gì, và rút cục thì chuyện này đã xảy ra làm sao. Mới đầu, tôi
cứ im lặng thế vì sợ rằng mình rồi sẽ chịu chung số phận với Gabrielle, nhưng
sau đó những nỗi băn khoăn khác lại bủa vây lấy tôi: Lẽ ra tôi nên tìm cách cứu
Gabrielle? Lẽ ra tôi nên nói ra điều này? Lẽ ra tôi phải tìm cô ấy kỹ hơn nữa?
Phải chăng tôi có thể can thiệp được vào sinh mệnh của cô ấy?
Cuối
cùng, trí tò mò của tôi dâng lên đến đỉnh điểm và tôi nghĩ rằng mình phải biết
chuyện gì đã xảy ra, điều gì đã khiến cô ấy biến thành một sinh vật nhanh nhẹn
và mạnh mẽ đến như vậy, hình ảnh đó không hề giống với bất kỳ sinh vật nào của
Vùng vô định mà tôi từng biết.
Chỉ còn
vài ngày nữa là đến Lễ Gắn kết của tôi với Harry, tôi bắt đầu lén đi quanh nhà
thờ trong lúc làm công việc lặt vặt hàng ngày. Tôi đứng bên ngoài những cánh
cửa đóng kín, lắng nghe những câu chuyện của các xơ già, những người mà tôi
đoán chắc rằng đang nắm giữ bí mật. Nhưng tôi chẳng thu được điều gì đáng kể.
Trong khi tôi thất bại thì thời gian cứ trôi đi vùn vụt. Tôi bắt đầu khám phá
những khu vực cấm. Tôi mò đến những chỗ giới hạn ngay cả với các xơ, cho dù
biết rằng nếu bị tóm, thế nào tôi cũng bị ném vào rừng theo bước chân của
Gabrielle. Nhưng tôi không để tâm đến sự liều lĩnh ấy, bởi vì cứ một ngày trôi
qua là thêm một ngày tôi không nhìn thấy Travis, thêm một ngày tôi tuyệt vọng
khi hiểu rằng điều gì đã xảy ra. Tôi cần phải biết tất cả: Tại sao chúng tôi
lại ở đây? Các xơ là ai? Điều gì đã tạo nên Thời tái sinh? Những câu hỏi mà
chúng tôi không bao giờ được phép đặt ra, những câu hỏi bị cấm suy luận.
Tôi quẩn
quanh với những ý nghĩ trong đầu. Ngay cả khi quỳ gối theo phận sự hay lúc gia
nhập vào các thủ tục chúc mừng lễ Brethlaw, tôi cũng cuồng lên tìm cách qua mặt
các xơ để đi vào khu vực cấm trong nhà thờ.
Rồi cái
đêm cuối cùng tôi được ở một mình cũng đến. Đó là đêm ngay trước Lễ gắn kết của
tôi và Harry. Tôi vẫn chưa có cách gì để tiếp cận sự thật. Tôi chưa tìm thấy
mối liên hệ nào giữa các xơ và sự tái sinh của Gabrielle. Tôi ngồi trên mép
giường, tay túm chặt chiếc váy ngủ và dán mắt vào ô cửa sổ để mở. Tôi lại nhìn
về phía khu rừng và tự hỏi có phải tôi đã sai hết rồi không, có phải những câu
hỏi của tôi là vô nghĩa.
Có phải
các xơ đã đúng và những câu trả lời của họ mới là lối mòn duy nhất. Lời nói của
họ là sự thật. Chúng tôi đang sống trong ngôi làng duy nhất còn lại trên Trái
đất này. Có phải mẹ tôi đã sai rồi và chẳng có đại dương nào cả.
Tôi cắn
chặt răng, chỉ muốn òa khóc vì tuyệt vọng và bối rối. Làm sao tôi có thể biết
hết những điều đó bây giờ?
Hai bắp
chân tê dại và tôi nhảy ra khỏi giường để đi đi lại lại trong phòng. Nhà thờ đã
chìm vào màn đêm tĩnh mịch. Trí óc tôi lại tranh đấu, chống lại những gì đang
cố kéo tôi ra khỏi phòng để thực hiện cuộc tìm kiếm cuối cùng. Lý trí bảo rằng
tôi nên ngồi yên mà phó mặc cho định mệnh, không nên chống lại các xơ và chờ
đợi lời hứa hẹn của Travis nữa. Nhưng rồi tôi lại nghĩ đến Gabrielie đang ở
ngoài kia chà kéo hàng rào. Tôi nghĩ đến mẹ cũng đang ở đó. Liệu bà có biết câu
trả lời mà tôi đang tìm kiếm hay không?
Tôi chẳng
thèm thắp nến khi đi ra khỏi phòng, chẳng thèm nghe ngóng các cánh cửa khi lùi
lũi đi xuyên qua nhà thờ. Tôi cứ thế nép vào các bức tường mà đi cho đến khi
tìm được những bậc thang dẫn xuống tầng hầm. Tôi nhớ lại ngày xơ Tabitha đưa
tôi xuống cái nơi mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy để dạy cho tôi về những lựa
chọn. Tôi cũng nhớ lần đầu tiên mình đã phát hiện ra các xơ cất giấu bí mật như
thế nào.
Không khí
trở nên lạnh lẽo và đầy âm khí khi tôi đi xuống chân cầu thang và giẫm chân
trần lên sàn đá gồ ghề. Không có đèn nên tôi phải dò dẫm đánh lửa để thắp nến.
Ánh sáng yếu ớt chập chờn trên bàn tay run rẩy của tôi rồi nhanh chóng tắt ngúm
vào màn đêm dày đặc đang bủa vây xung quanh.
Bàn tay
còn lại sờ sẫm trên các giá kệ để trống mà theo như lời giải thích của xơ
Tabitha là để đựng rượu đóng chai và các thùng men. Tôi nghe thấy tiếng móng
sắc của mình cà lên mặt gỗ cũ kỹ. Chân tóc tôi dựng đứng và người thì run lên
như cầy sấy.
Rồi đến
khi tất cả những gì tôi nghe được chỉ còn là hơi thở của chính mình thì tôi
tiếp tục dò dẫm đi qua căn phòng cho tới lúc va ngón chân vào bờ tường. Đó là
góc xa nhất đối diện với cầu thang. Tôi vén tấm rèm nặng trịch che kín cánh cửa
rồi bước qua trong khi bụi sộc vào mũi vào họng tôi. Cuối cùng, tôi chạm tay
vào tấm gỗ dày gồ ghề chính là cánh cửa dẫn tới tầng hầm thông ra khu rừng.
Chốt cửa
không nhúc nhích được. Thốt nhiên tôi không biết mình đang chờ đợi điều gì ở
đây. Có lẽ tôi hy vọng xơ Tabitha để cửa không khóa chăng? Có lẽ tôi hy vọng mình
có sức mạnh diệu kỳ để đẩy được cánh cửa này chăng?
Tôi ghé
đầu sát cửa, áp tai vào mặt gỗ xem có nghe thấy gì phía bên kia không, cứ như
thể cánh cửa sẽ thì thào chia sẻ những điều bí mật với tôi vậy. Tôi cho rằng
những bức tường này đã chứng kiến mọi điều và tự hỏi trước Thời tái sinh, mọi
thứ diễn ra như thế nào. Những người ở đây có biết điều gì sẽ xảy đến không? Họ
có chuẩn bị tinh thần cho điều đó không? Ngôi làng này đã tồn tại từ trước Thời
tái sinh hay là được tạo nên sau đó? Hay đây chỉ là một nơi để người ta lẩn
tránh thế giới?
Nhưng
những bức tường vẫn im lặng, chúng không phản bội bí mật mà chúng đang cất giữ.
Mọi thứ xung quanh yên tĩnh, chỉ có hơi thở của chính tôi đang phả vào tấm rèm
ngăn cách với căn phòng. Thức đêm làm mắt tôi cay xè, chân tay tôi nặng như
chì. Giờ tôi chỉ muốn chui mình vào trong một cái kén vĩnh viễn. Như thế thì đỡ
phải đối diện với Harry. Đỡ phải nghĩ ngợi xem Travis có đến với tôi hay không.
Đỡ phải xuôi theo các xơ mà chấp nhận rằng tôi đã nghĩ sai về họ.
Tôi rờ tay
lên những mống thép giữ chắc các thanh gỗ ghép lại với nhau, thử xem có mống
nào lung lay không trong khi biết chắc rằng điều đó là không thể. Tôi cũng dò
tay lên bản lề. Tay tôi lập tức nhờn mỡ, thứ mỡ mà người ta bôi lên các cánh
cửa trong nhà thờ để tránh cho chúng khỏi kêu cọt kẹt.
Đột
nhiên, tôi chẳng muốn gì hơn là một chiếc giường, để tôi có thể tận hưởng đêm
cuối cùng được ở một mình trước khi gắn cuộc đời mình với Harry. Cái đêm cuối
cùng tôi mòn mỏi đợi chờ Travis đưa vào trong những giấc mơ. Tôi đứng lùi lại,
chiếc rèm rũ ra khỏi vai. Tôi miết những ngón tay lên lớp vải bẩn thỉu và nghĩ
cách làm thế nào để đi qua được cánh cửa này, làm thế nào để xâm nhập được vào
đường hầm và những căn phòng bí mật phía bên kia.
Tôi thận
trọng quét ánh nến từ dưới sàn lên trên. Ánh sáng chập chờn theo nhịp tim của
tôi. Những bóng đen mờ nhạt nhập nhoạng xung quanh. Những ngón tay tôi run lên
khi rà dọc theo giá gỗ, cố tìm một mấu lung lay. Cuối cùng tôi cũng tìm thấy
một vết nứt trên mảng gỗ ghép và tôi bẻ mạnh cho đến khi một thanh gỗ dài bị
gãy ra.
Tôi cứ
thúc vào cái giá để tìm thanh gỗ khác dày hơn thay thế cho một cái vồ. Sau đó
tôi quay lại chỗ cánh cửa bí mật. Tôi chèn thanh gỗ vào đầu mối bản lề rồi bắt
đầu nậy đầu kia bằng một thanh gỗ khác. Tôi cuốn chặt tấm rèm lên vai, hy vọng
nó sẽ giảm bớt âm thanh mà tôi đang tạo ra.
Mới đầu
cái chốt chẳng lung lay tẹo nào và tôi phải lấy hết sức bình sinh nậy mạnh hơn
cho tới khi lách được cái vồ nhân tạo vào trong khe gỗ, chẳng để tâm đến tiếng
ồn đang ầm ĩ lên.
Tôi có
thể cảm thấy cái chốt lỏng ra khỏi mặt gỗ và bắt đầu lung lay. Tôi lấy tay kéo
nó ra, dùng viền váy để lót cho chắc mặt thép trơn bóng. Cú kéo mạnh cuối cùng,
cái chốt đã rời ra, rụng xuống sàn, boong lên một tiếng đầy thỏa mãn. Không
lưỡng lự, tôi tiếp tục nậy nốt bản lề bên dưới.
Chiếc áo
ngủ của tôi dán chặt vào lớp mồ hôi trên lưng trong lúc tôi nậy mạnh cái chốt
ra khỏi bản lề để rồi cánh cửa long hẳn ra khỏi bức tường. Tôi muốn hét lên vì
sung sướng nhưng thay vì làm như thế, tôi đưa tay lên quệt trán và kéo lớp vải
áo khỏi dính chặt vào lưng trong khi nghiên cứu quá trình tiếp theo.
Phía bên
chốt, cánh cửa vẫn được neo chặt nhưng tôi đã phá tung được bản lề bên này ra
rồi. Hít một hơi thật sâu, tôi lùa ngón tay xuống khe hẹp dưới cánh cửa và kéo
mạnh cho tới khi cửa hé ra được một khoảng nhỏ. Tôi ẩy tiếp để nó tách ra
khoảng đủ rộng lách được người qua. Cánh cửa gỗ dày tròng trành đến độ chẳng
mấy chốc sẽ khó mà giữ được thăng bằng khi không có bản lề.
Không khí
ẩm mốc và hơi thở của tôi phập phù dội lên như gió xoáy. Tôi căng tai ra để
lắng nghe những âm thanh trong phần bóng tối mà ánh nến yếu ớt của tôi không
thể rọi tới.
Thốt
nhiên, giờ tôi mới thấy sợ một kẻ nào đó hay một thứ gì đó đang ẩn náu trong
bóng tối. Tôi phải tự thuyết phục mình rằng giờ thì tôi có thể nghe thấy cả
tiếng côn trùng đang ngoi lên khỏi mặt đất. Tôi nhớ ra chiếc bàn nhỏ để nến ở
phía đường hầm bên kia cánh cửa và tôi thắp hết chúng lên. Tôi rùng mình nhẹ
nhõm khi từng quầng sáng nhỏ được thắp dần lên xung quanh.
Giờ thì
khắp người tôi run rẩy, không biết vì sợ hay vì mồ hôi đang thấm ướt chiếc áo
ngủ mỏng. Tôi ước gì có Travis ở bên lúc này, hay một người nào đó nắm tay mình
để ngăn không cho nỗi kinh hoàng xâm nhập vào tâm thức. Tôi đã hình dung về cái
đường hầm và những căn phòng này mãi rồi và giờ khi đã ở đây thì tôi lại không
muốn tiến về phía trước. Tôi không chắc mình có muốn biết sự thật hay không
nữa. Cái sự thật vẫn được giấu kín ở dưới sâu kia.
Giơ cây
nến ra trước mặt, tôi ép mình phải tiến lên. Mặt đất đang trơn tuột dưới đôi
chân trần. Tôi đi qua giá đựng rượu và nhớ lại khi xơ Tabitha kể cho tôi nghe
về lịch sử của tòa nhà này. Tôi đi theo khúc quanh của đường hầm đang lượn về
phía bên trái và đừng lại trước cánh cửa đầu tiên.
Lớp gỗ
sần sùi hơn cả những gì tôi từng nhớ. Tôi rờ ngón tay lên những thanh gỗ nhỏ
bám quanh mép cửa. Tôi đã quên mất cái chốt gỉ cắm sâu vào đá. Cánh cửa bị khóa
mất rồi và tôi gần như rên lên vì thất vọng. Tôi gõ vào mặt gỗ, và khi chẳng
nghe thấy âm thanh nào đáp lại, tôi lại gõ mạnh hơn.
Tôi thấy
mình y như người hàng xóm đến thăm nhà và điều đó khiến tôi bật cười khúc
khích. Âm thanh vang vào dãy tường đá và dội lại điên cuồng. Những tiếng ồn bủa
vây khiến một cơn lạnh chạy dọc sống lưng.
Cố gắng
giữ cho hơi thở được điều hòa, tôi đặt cây nến xuống đất, trong khoảnh khắc,
ánh sáng và hơi ấm vụt biến mất. Người tôi hầu như co giật theo nhịp tim và bàn
tay gai lên vì sợ. Tôi nắm lấy cái chốt đẩy tới đẩy lui.
Tôi nghe
thấy một tiếng cạch, rồi một tiếng kẽo kẹt khi cái chốt bung ra, và cánh cửa
bất thần mở toang.
Một luồng
khí ùa ra từ căn phòng vừa mở, khiến ngọn nến dưới chân tắt phụt và tôi chìm
vào bóng tối.
Nỗi kinh
hoàng ập đến thậm chí còn kinh khủng hơn trước và tôi loạng choạng lùi lại cho
tới khi chạm được vào bức tường sau lưng. Chân tôi trượt đi và tôi thấy bàn tay
mình đang ôm lấy mắt cá. Tôi phải cắn chặt lưỡi để khỏi buột lên tiếng hét. Tôi
cố nâng mình dậy, nhưng rồi lại ngã đập vào bức tường. Tôi nghe thấy tiếng chai
lọ rơi xuống từ trên giá và vỡ nát xung quanh.
Trong tình
trạng mù dở, tôi cắm đầu chạy. Đằng sau tôi có tiếng vỡ, tiếng gỗ kẽo kẹt va
vào kim loại. Tôi vấp ngã, rúm người lại vì đau khi va phải một cầu thang bằng
gỗ. Tôi tức khắc nhận ra rằng mình đã sai đường khi chạy về cuối đường hầm này.
Căn phòng như hang động dưới nhà thờ là ở đầu kia, còn giờ tôi đang đứng dưới
khu rừng. Tức khắc, tôi tính rằng mình nên quay ngược lại đường hầm để đi về
nhà thờ, nhưng bóng tối giờ đã quá dày đặc.
Tôi leo
lên những bậc thang cho tới khi chạm vào cánh cửa gỗ ngăn cách với nền đất bên
trên và giờ thì tôi không thể đi xa hơn được nữa. Tôi ngồi bó gối, chân co lại
sát ngực. Hơi thở buột ra như một tiếng nấc. Tôi đưa tay lên bịt miệng nhưng
vẫn không thể nào ngăn được âm thanh đang khò khè thoát khỏi cơ thể để hớp
không khí.
Tôi gắng
nín thở để lắng nghe sự tịch mịch đang bao quanh. Ngoài nhịp tim tôi đang đập
mạnh, tiếng chất lỏng chảy ra từ những chai rượu vỡ, còn thì chẳng có gì.
Một cơn
đau nhói đến lộng óc chen vào nỗi kinh hoàng của tôi. Tôi run rẩy kéo một mảnh
thủy tinh ra khỏi bàn chân phải. Má tôi đẫm nước mắt. Tôi không muốn ở đây nữa.
Tôi không muốn tất cả những chuyện này. Tôi chẳng cần quan tâm đến Gabrielle,
đến các xơ hay Harry hay Travis. Tôi không quan tâm đến bất cứ điều gì trên thế
giới này nữa.
Tôi hình
dung ra mình đẩy mạnh cánh cửa gỗ dày phía trên và rơi vào khoảng đất trống.
Tôi hình dung mình bước từ từ về phía hàng rào, chiếc váy ngủ trắng cuộn lấy
mắt cá chân như thể đang trôi đi. Tôi hình dung ra mẹ đang chờ tôi ở phía bên
kia. Bàn tay bà chìa ra, mong đợi.
Tôi lại
để cho mình thổn thức. Đây không phải là những gì mà tôi hình dung về cuộc đời
mình. Chui rúc, bẩn thỉu, và sợ hãi trong một đường hầm bí mật bên dưới nhà thờ
ngay vào đêm trước Lễ gắn kết với một người đàn ông mà tôi không hề yêu. Hồi
còn nhỏ, tôi đã mơ về tình yêu, ánh sáng mặt trời và một thế giới ở phía bên
kia khu rừng. Tôi đã mơ về đại dương, một nơi mà sự tái sinh không thể chạm
tới.
Đột nhiên
tôi tự hỏi lòng có ích lợi gì không khi chứng ta cứ phải tin rằng những giấc mơ
thời thơ ấu sẽ trở thành hiện thực. Lòng tôi đau nhói với ý nghĩ này, với sự
thật này. Cứ như thể tôi vừa cắt đứt một phần nào đó ra khỏi cơ thể. Sự thất
bại áp đảo tôi phải bỏ cuộc.
Giờ xương
cốt như không còn là của tôi nữa. Giống như cơ thể chẳng còn gì ngoài máu, nước
mắt, nỗi sợ hãi và ân hận khi trót rơi vào cái thế giới này. Tôi nhận ra rằng
mình chỉ có ba sự lựa chọn: Tìm cách đi qua cách cửa phía trên để vào rừng; Ở
lại đây chờ cho xơ Tabitha tìm thấy để ném tôi vào rừng; Kết thúc công việc tìm
kiếm mà tôi mới chỉ bắt đầu để trở lại cuộc sống bình thường.
Tôi đi
xuống, cố ép mình quay trở lại hành lang tối thui như thể đang bơi qua một vũng
nước đen đặc sệt. Tôi cảm thấy nền đất ẩm ướt dưới chân, mùi rượu cũ đắng và
chua cứ dính chặt lấy cổ họng. Người tôi căng ra khi đi qua cánh cửa vừa mới
mở. Hơi thở của tôi nghẹn lại khi hình dung ra những bàn tay thò ra từ trong
căn phòng chộp lấy mình. Điều đó thôi thúc tôi cắm đầu cắm cổ chạy cho tới tận
lúc gặp lối rẽ ở trong hầm. Tôi đã nhìn thấy những quầng sáng bé xíu tỏa ra từ
các cây nến còn lại cạnh cánh cửa dẫn vào căn phòng ngay dưới nhà thờ. Tôi chộp
lấy hai ngọn nến và quay trở lại, thận trọng bước qua những mảnh thủy tinh vỡ.
Ánh nến khiến những gờ thủy tinh sáng lên lấp lánh.
Tôi lưỡng
lự trước cửa phòng. Ánh nến của tôi không rọi quá được ngưỡng cửa. Vẫn còn thời
gian cho tôi lùi lại, dọn dẹp đám chai lọ vỡ, lắp lại bản lề trên cánh cửa và
trở về phòng, rồi cố an ủi mình rằng những gì xảy ra trong đêm nay chỉ là một
giấc mộng.
Nhưng
thay vì làm những điều đó, tôi hít một hơi thật sâu và cố động viên mình bước
lên phía trước.