Người Hùng Trở Lại - Chương 06
Chương
6
Tầng thứ
ba. Trung tâm y tế Barnabas, quận Essex, điều tra viên Loren Muse gõ vào cánh
cửa có chữ EDNA SKYLAR, BÁC SỸ Y KHOA, NHÀ DI TRUYỀN HỌC[12].
Một giọng
phụ nữ cất lên: “Mời vào.”
[12] MD = Doctor of Medicine: Bác sĩ y khoa; Geneticist = nhà di truyền
học.
Loren
xoay nắm đấm cửa và bước vào. Skylar đứng đó. Bà cao hơn Loren, nhưng hầu hết
mọi người đều cao hơn cô. Skylar bước qua phòng, chìa tay ra. Cả hai đều bắt
tay đối phương rất chặt và nhìn thẳng vào mắt nhau hồi lâu. Edna Skylar gật đầu
với cô như những người chị em. Loren đã nhìn thấy cử chỉ ấy trước đây. Họ đều
làm cái nghề mà đàn ông vẫn đang thống trị. Điều đó liên kết họ với nhau.
“Sao chị
không ngồi xuống đi?”
Họ cùng
ngồi xuống. Chiếc bàn của Edna Skylar ngăn nắp vô cùng. Có những chiếc cặp
Manila[13],
nhưng chúng được xếp ngay ngắn không để lộ ra bất kỳ tờ giấy nào. Cả văn phòng
là một sự chuẩn mực, bị choán bởi cái cửa sổ đẹp như tranh với khung cảnh tuyệt
vời trông ra bãi đỗ xe.
[13] Manila: tên một loại giấy làm từ cây chuối sợi.
Bác sĩ
Skylar chăm chú nhìn Loren Muse. Loren không thích điều ấy. Cô đợi một lát.
Skylar tiếp tục nhìn.
Loren
nói: “Có vấn đề gì không?”
Edna
Skylar mỉm cười: “Xin lỗi, thói quen xấu ấy mà.”
“Thói
quen gì vậy?”
“Tôi quan
sát các khuôn mặt.”
“À ra
vậy.”
“Chuyện
đó không quan trọng. Ừm, cũng có thể có. Đó là lý do tại sao tôi rơi vào tình
trạng khó xử này.”
Loren
muốn đi thẳng vào câu chuyện. “Bà nói với sếp của tôi rằng bà có thông tin về
Katie Rochester?”
“Ed dạo
này sao rồi?”
“Ông ấy
khoẻ.”
Bà mỉm
cười ấm áp. “Đó là một quý ông tốt bụng.”
“Đúng
vậy,” Loren nói, “một ông hoàng.”
“Tôi biết
ông ấy từ lâu rồi.”
“Ông ấy
có nói với tôi.”
“Đó là lý
do tại sao tôi gọi cho Ed. Chúng tôi đã có một buổi trò chuyện khá lâu về vụ
này.”
“Vâng,”
Loren nói. “Và đó là lý do ông ấy bảo tôi tới đây.”
Edna
Skylar quay đi, nhìn qua khung cửa sổ. Loren cố gắng đoán tuổi bà. Có lẽ tầm 65
tuổi, nhưng trông vẫn khá ổn. Bác sĩ Skylar là một phụ nữ đẹp, mái tóc xám
ngắn, gò má cao, biết cách chưng diện bằng bộ vest màu be mà trông không đàn
ông quá cũng không yểu điệu quá.
“Bác sĩ Skylar?”
“Bà có
thể nói cho tôi một chút về vụ này được không?”
“Xin lỗi,
gì cơ ạ?”
“Katie
Rochester. Có phải cô ấy đã chính thức được liệt vào diện mất tích không?”
“Tôi
không hiểu tại sao lại liên quan tới chuyện đó?”
Cặp mắt
của Edna Skylar chậm rãi chuyển hướng trở lại Loren. “Cô có nghĩ rằng cô ta đã
gặp phải chuyện xấu...”
“Tôi thực
sự không thể bàn luận về chuyện này.”
“... hoặc
cô có nghĩ là cô ta chạy trốn không? Khi tôi nói chuyện với Ed, ông ấy có vẻ
chắc chắn rằng cô ta bỏ trốn. Cô ta đã rút tiền tại một máy ATM ở giữa thành
phố, ông ấy nói vậy. Bố cô ta trông có vẻ đáng tởm.”
“Công tố
viên Steinberg nói với bà tất cả những điều này à?”
“Đúng
vậy.”
“Thế sao
bà lại hỏi lại tôi?”
“Tôi biết
ý kiến của ông ấy,” bà nói. “Tôi muốn ý kiến của cô.”
Loren định
phản bác thêm, nhưng Edna Skylar cứ nhìn cô chằm chằm. Cô ngó lướt qua chiếc
bàn của Skylar để tìm ảnh gia đình. Không có tấm nào hết. Cô tự hỏi phải làm gì
và chẳng quyết định được gì cả. Skylar đang đợi.
“Cô ấy đã
mười tám tuổi,” Loren ướm thử, đề cập một cách thận trọng.
“Tôi
biết.”
“Có nghĩa
là cô ấy đã trưởng thành.”
“Tôi cũng
biết điều đó. Thế còn cha cô ta thì sao? Cô có nghĩ là ông ta đã ngược đãi cô
ấy không?”
Loren tự
hỏi phải giải quyết sao đây. Sự thực là, cô ta không thích người cha, không
thích ngay từ đầu. RICO nói rằng Dominick Rochester khá om sòm và có lẽ điều đó
phần nào khiến cô ác cảm. Vẫn có cách nào đó để đoán ra chuyện đau buồn của một
người. Ở mặt này, mỗi người có cách phản ứng khác nhau. Đúng là bạn không thể
buộc tội dựa trên phản ứng của ai đó. Có những kẻ giết người khóc lóc nức nở
khiến Pacino phải xấu hổ. Những kẻ khác thì không chút động lòng. Với những
người vô tội cũng vậy. Nó giống thế này: Bạn đi cùng với một nhóm, một quả lựu
đạn được ném vào giữa cả đám, bạn sẽ không thể nào biết được ai sẽ là người
nhảy đè lên nó và ai sẽ là người nhảy tìm chỗ nấp.
Điều đó
nói rằng, cha của Katie Rochester... có chút vấn đề trong sự đau buồn của ông
ta. Nó thay đổi đến chóng mặt. Nó giống như ông ta đang cố thử diễn những tính
cách khác nhau, xem cái nào phù hợp nhất để chưng ra trước bàn dân thiên hạ. Và
người mẹ. Bà ta có nguyên vẻ đau đớn bề ngoài, nhưng điều đó xuất phát từ sự
suy sụp hay nhẫn nhục? Thật khó trả lời.
“Chúng
tôi không có bằng chứng gì về chuyện đó,” Loren nói bằng một giọng lửng lơ nhất
mà cô có thể thốt ra.
Edna
Skylar không phản ứng.
“Những
câu hỏi này,” Loren tiếp tục. “Hơi kỳ cục.”
“Đó là vì
tôi vẫn chưa biết chắc phải làm gì.”
“Về cái
gì?”
“Nếu như
một tội ác đã xảy ra, thì tôi muốn giúp đỡ. Nhưng...”
“Nhưng?”
“Tôi đã
thấy cô ấy.”
Loren
Muse đợi một nhịp, hy vọng bà sẽ nói thêm. Bà không nói. “Bà đã thấy Katie
Rochester?”
“Đúng
thế.”
“Khi nào
vậy?”
“Tới thứ
Bảy là được ba tuần phải không nhỉ?”
“Và giờ
bà sẽ nói với chúng tôi chứ?”
Edna
Skylar lại ngỏanh nhìn ra phía bãi đỗ xe. Mặt trời đang lặn, những tia nắng
đang chiếu xuyên qua bức mành. Trong ánh sáng ấy trông bà có vẻ già hơn.
“Bác sĩ
Skylar?”
“Cô ta
xin tôi đừng nói gì cả.” Bà vẫn nhìn ra phía bãi đỗ xe.
“Katie đã
làm thế?”
Vẫn nhìn
ra chỗ khác, Edna Skylar gật đầu.
“Bà đã
nói chuyện với cô ta?”
“Có lẽ là
trong giây lát.”
“Cô ta đã
nói gì?”
“Rằng tôi
không nên kể với ai chuyện tôi đã thấy cô ta.”
“Và?”
“Chỉ thế
thôi. Lát sau cô ta đi mất.”
“Đi mất?”
“Lên tàu
điện ngầm.”
Nói
chuyện đã bắt đầu dễ dàng hơn. Ednar Skylar kể cho Loren nghe toàn bộ câu
chuyện, bà đang nghiên cứu các khuôn mặt khi đi tản bộ ở New York như thế nào,
rồi làm sao bà phát hiện ra cô gái cho dù bề ngoài đã thay đổi, bà đã bám theo
cô ta xuống dưới ga tàu điện ngầm ra sao, cô ta biến vào trong bóng tối như thế
nào.
Loren ghi
lại tất cả, nhưng thực ra thì, nó cũng trùng với những gì cô dự đoán từ đầu. Cô
bé đã chạy trốn. Như Ed Steinberg đã kể cho Skylar, đã có một vụ rút tiền từ
thẻ ATM tại ngân hàng Citibank ở khu trung tâm gần với thời điểm cô ta biến
mất. Loren đã xem đoạn phim của ngân hàng. Bộ mặt đã được che bởi chiếc mũ trùm
đầu, nhưng rất có thể đó là con gái nhà Rochester. Người cha rõ ràng đã quá
nghiêm khắc. Chuyện này vẫn thường xảy ra với những vụ bỏ trốn. Cha mẹ quá lơi
lỏng thì con cái thường dính vào ma túy. Cha mẹ quá bảo thủ thì con cái thường
bỏ trốn bởi những chuyện liên quan đến tình dục. Có thể đó chỉ là một khuôn mẫu
quá giản đơn khi phân loại kiểu như vậy, nhưng Loren hiếm khi thấy trường hợp
nào nằm ngoài những quy luật trên.
Cô hỏi
thêm vài câu hỏi. Chẳng có gì mà họ có thể thực sự làm bây giờ. Cô gái đã mười
tám tuổi. Từ sự mô tả trên, không có lý do để nghi ngờ đó là một vụ phạm pháp.
Trên tivi, các nhân viên FBI hẳn đã được triệu tập và có riêng một nhóm phụ
trách việc này. Điều ấy không xảy ra trong cuộc sống thực.
Nhưng
Loren cảm thấy có một chút lấn cấn trong đầu. Một số người sẽ gọi đó là trực
giác. Cô ghét điều này. Linh cảm... nghe cũng không ổn lắm. Cô tự hỏi liệu Ed
Steinberg, sếp của cô sẽ làm gì. Có lẽ chẳng làm cái quái gì sất. Văn phòng của
họ đang bận bù đầu cùng với Đoàn luật sư Liên bang trong hai vụ, một liên quan
tới vụ khủng bố có thể xảy ra và vụ còn lại là chính khách Newark nhận hối lộ.
Với lực
lượng hạn chế như vậy, liệu họ có nên điều tra theo hướng cho rằng đó là hiển
nhiên một vụ bỏ trốn? Đó quả là một quyết định khó khăn.
“Sao lại
là bây giờ?” Loren hỏi.
“Gì cơ?”
“Ba tuần,
bà không nói gì cả. Điều gì khiến bà thay đổi ý định?”
“Cô có
con không, thanh tra Muse?”
“Không.”
“Tôi có.”
Loren một
lần nữa nhìn chiếc bàn, nhìn vào chiếc tủ, nhìn lên tường. Không có tấm ảnh gia
đình nào hết. Không có dấu hiệu nào của con hoặc cháu. Skylar mỉm cười, như thể
bà hiểu Muse đang làm gì.
“Tôi đã
là một bà mẹ tồi tệ.”
“Tôi
không chắc là mình hiểu.”
“Tôi đã,
nói thế nào nhỉ, quá bê trễ. Khi gặp rắc rối, tôi luôn để mọi chuyện tự qua
đi.”
Loren chờ
đợi.
“Điều
đó,” Edna Skylar nói, “là một sai lầm to lớn.”
“Tôi vẫn
không chắc là mình hiểu ý bà.”
“Tôi cũng
vậy. Nhưng lần này...” Giọng bà nhỏ dần. Bà nuốt nghẹn, nhìn xuống đôi tay rồi
nhìn sang Loren. “Bởi lẽ, mọi chuyện trông thì có vẻ ổn, song có thể nó lại
không phải như vậy. Có thể Katie Rochester đang cần sự giúp đỡ. Có thể lần này
tôi cần làm nhiều hơn là để mọi chuyện tự qua đi.”
Lời hứa
dưới tầng hầm quay lại quấy nhiễu Myron chính xác vào lúc 2 giờ 17 phút sáng.
Ba tuần
đã trôi qua. Myron vẫn đang hò hẹn với Ali. Đó là ngày cưới của Esperanza. Ali
đến với tư cách là bạn gái của anh. Myron phải trao cô dâu cho chú rể. Tom -
tên thật là Thomas James Bidwell III - vốn là em họ của Win. Đám cưới khá nhỏ.
Kỳ lạ là, gia đình nhà trai, những ủy viên sáng lập hội Những cô con gái của
Cách mạng Hoa Kỳ, chẳng hề phấn khởi với lễ cưới của Tom với cô gái La tinh
sinh-tại-Bronx có tên là Esperanza Diaz. Thật khó hiểu.
“Buồn
cười quá,” Esperanza nói.
“Chuyện
gì?”
“Tôi luôn
nghĩ rằng mình sẽ kết hôn vì tiền, không vì tình yêu.” Cô ngắm nghía lại mình
trong gương. “Nhưng hiện giờ tôi lại đang ở đây, sắp kết hôn vì tình yêu và sắp
có cả tiền bạc.”
“Có bao
giờ triệt bỏ được nghịch lý.”
“Tốt đấy.
Anh sẽ tới Miami để gặp Rex chứ?”
Rex
Storton là một ngôi sao điện ảnh có tuổi đang thuê họ làm đại diện. “Tôi sẽ bay
xuống đó vào chiều mai.”
Esperanza
quay đi khỏi chiếc gương, dang rộng tay, và nở một nụ cười rạng rỡ với anh.
“Được chứ?”
Trông cô
xinh như mộng ấy. Myron thốt lên: “Chu cha!”
“Anh nghĩ
sao?”
“Tôi nghĩ
là.”
“Nói đi
nào. Để tôi còn đi cho người ta trói[14].”
[14] Get hitched: nghĩa bóng là đi lấy chồng (vợ).
“Thì đi
đi.”
“Có một
điều trước nhất.” Esperanza kéo anh ra một phía. “Tôi muốn anh mừng cho tôi.”
“Tôi mừng
mà.”
“Tôi sẽ
không rời bỏ anh đâu.”
“Tôi
biết.”
Esperanza
nhìn thẳng vào mặt anh. “Chúng ta vẫn là những người bạn tốt nhất,” cô nói.
“Anh hiểu chứ? Anh, tôi, Win, Big Cindy. Không có gì thay đổi.”
“Chắc
chắn là vậy rồi,” Myron nói. “Mọi thứ đã thay đổi.”
“Tôi quý
anh, anh biết đấy.”
“Và tôi
cũng quý cô.”
Cô lại
mỉm cười. Esperanza lúc nào trông cũng đẹp chết đi được. Thường ngày, trông cô
lúc nào cũng nguyên một vẻ mộc mạc như thật. Nhưng hôm nay, trong bộ váy ấy,
thì từ rực rỡ quá là nhạt nhẽo. Cô đã sống rất phóng túng, một kẻ ngang tàng
phóng đãng, và đã luôn cả quyết rằng sẽ không bao giờ ổn định cuộc sống với một
người như Tom. Nhưng giờ thì cô đang ở đây, với một đứa trẻ, sắp kết hôn. Ngay
cả Esperanza cũng đã trưởng thành.
“Anh nói
đúng,” Esperanza nói. “Nhưng mọi việc vẫn luôn thay đổi mà, Myron. Và anh luôn
thù ghét sự thay đổi.”
“Đừng bắt
đầu kiểu đó.”
“Xem anh
kìa. Anh vẫn sống cùng cha mẹ ở cái tuổi giữa ba mươi. Anh có thời thơ ấu ở với
gia đình. Hầu hết thời gian anh sống cùng phòng với người bạn từ hồi đại học,
một người mà, chấp nhận đi, không thể thay đổi.”
Anh giơ
tay lên. “Tôi hiểu ra vấn đề rồi.”
“Buồn
cười nhỉ.”
“Sao lại
buồn cười?”
“Tôi vẫn
luôn nghĩ anh sẽ là người đầu tiên kết hôn đấy,” cô nói.
“Tôi cũng
thế.”
“Win, ừm,
như tôi đã nói, thậm chí còn không tiến tới mức đó. Nhưng anh luôn yêu quá dễ
dàng, nhất là với con mụ lẳng lơ đó, Jessica ấy.”
“Đừng gọi
cô ấy như thế.”
“Sao cũng
được. Tuy nhiên, anh là người đã từng tin vào giấc mơ Mỹ - kết hôn, có một lũ
nhóc lũn cũn, mời bạn bè đến ăn tiệc thịt nướng ở vườn sau, tất thảy.”
“Còn cô
thì không.”
Esperanza
cười. “Có phải anh là người đã dạy tôi, Men tracht und Gott lacht[15].”
“Ôi trời,
tôi khoái nghe một cô nàng không phải người Do Thái[16] nói
tiếng Iđit[17] lắm
đấy.”
[15] Men tracht und Gott latch: Loài người lên kế hoạch, còn Chúa thì
cười (Tiếng Đức - Do Thái cổ).
[16] Shiksa: tiếng Do Thái, có nghĩa là những cô gái không phải người
Do Thái, đây là từ có sắc thái dè bỉu, lăng mạ.
[17] Yiddish: tiếng Đức cổ của người Do Thái ở vùng Trung và Đông Âu.
Esperanza
luồn bàn tay mình qua khuỷu tay của anh. “Đó có thể là một điều hay ho, anh
biết mà.”
“Tôi
biết.”
Cô hít
một hơi thở sâu. “Ta đi chứ?”
“Cô thấy
căng thẳng à?”
Esperanza
nhìn anh. “Không tẹo nào.”
“Thế thì
đi ra nào.”
Myron dẫn
cô xuống lối đi giữa các hàng ghế. Đại diện cho người cha tới trễ của cô, anh
nghĩ đó là một nghi thức để mọi người hài lòng, nhưng khi Myron trao tay của
Esperanza cho Tom, khi Tom cười và bắt tay anh, Myron lại thấy lòng quặn lên.
Anh lùi lại và ngồi xuống hàng ghế đầu tiên.
Đám cưới
chưa phải là một hỗn hợp có chọn lọc đến mức đối chọi với nhau cực lực. Win là
phù rể của Tom trong khi Big Cindy là phù dâu cho Esperanza. Big Cindy, đồng
đội cũ trong môn vật biểu diễn của Esperanza, cao hai mét và đứng rất thỏai mái
bên trái bàn thờ với trọng lượng một trăm ba mươi sáu kilôgram. Nắm tay của cô
trông như một khúc giăm bông đóng hộp. Cô không biết nên ăn mặc thế nào cho hợp
- một bộ váy phù dâu màu anh đào cổ điển hay là bộ coóc-xê đen bằng da[18].
Giải pháp của cô là: một chiếc áo da màu anh đào có diềm tua, không có ống tay
nên để lộ ra hai cánh tay trần xăm hình những cột cẩm thạch cân xứng và vững
chãi trong tòa lâu đài thời vua George. Tóc của Big Cindy được búi theo kiểu
mào gà, trên đỉnh trang trí bằng hình một chiếc bánh đám cưới nhỏ.
[18] Bộ coóc-xê bằng da vốn là trang phục thi đấu quen thuộc của các nữ
đô vật biểu diễn.
Khi đang
thử, ừm, bộ váy này, Big Cindy dang rộng đôi tay và xoay một vòng cho Myron
xem. Thủy triều đổi hướng, thái dương hệ dịch chuyển.
“Anh thấy
sao?” cô hỏi.
“Màu tím
đi với màu hồng đào?”
“Nó đang
là mốt đấy, thưa ông Bolitar.”
Cô luôn
gọi anh là Ông; Big Cindy thích trang trọng.
Tom và
Esperanza trao cho nhau những lời thề nguyện theo một nghi thức cổ. Những đóa
Poppy trắng nối thẳng các hàng ghế với nhau. Dãy bên phía Tom đều chỉ mặc trang
phục trắng và đen - một đàn chim cánh cụt. Phía của Esperanza lại đủ mọi màu
sắc, chắc hãng bút màu Crayola_ cử người tới do thám. Nó giống như một cuộc
diễu hành trong ngày Halloween ở Greenwich. Cây đàn organ dạo những bản thánh
ca du dương. Dàn đồng ca cất tiếng hát như những thiên thần. Khung cảnh không
thể thanh bình hơn.
Tuy
nhiên, với buổi tiệc chiêu đãi, Esperanza và Tom muốn thay đổi nhịp độ một
chút. Họ thuê một hộp đêm S&M ở gần đại lộ Eleventh có tên là Leather and
Lust. Big Cyndi làm bảo kê ở đó và thỉnh thỏang, khi đã rất khuya, cô lên sân
khấu để diễn một cảnh đến tưởng tượng còn thấy ngượng.
Myron và
Ali đỗ xe ở bãi đỗ bên phải Đại lộ Phía Tây. Họ đi ngang qua một tiệm bán đồ
khiêu dâm mở suốt-hai-mươi-bốn-tiếng có tên Cung điện của Cô con gái hư của Vua
David. Các cửa sổ đều được trát xà phòng. Có một tấm biển lớn ngoài cửa chính
ghi THAY QUẢN LÝ MỚI.
“Chà
chà,” Myron chỉ vào tấm biển. “Cái này nói về thời gian, em có nghĩ vậy không?”
Ali gật
đầu. “Nơi này trước đây không được quản lý tốt.”
Khi họ
chui vào trong quán Leather and Lust, Ali đi vòng xung quanh như thể là đang ở
Louvre ấy, cô liếc nhìn các tấm ảnh trên tường, kiểm tra các thiết bị, các bộ
trang phục, phụ liệu. Nàng lắc đầu. “Em ngây thơ không chữa nổi rồi.”
“Không
đến nỗi thế đâu,” Myron nói.
Ali chỉ
vào thứ màu đen và dài gần giống với ruột người.
“Cái gì
kia?” nàng hỏi.
“Quỷ tha
ma bắt nếu anh biết nó là của khỉ gì.”
“Có phải
anh, ừm, đã...”
“Ồ
không.”
“Chán
quá,” Ali nói. Rồi: “Đùa thôi. Đùa quá trớn thôi mà.”
Sự lãng
mạn của họ vẫn đang tiến triển, nhưng thực tại của việc hò hẹn với người đang
có con nhỏ vẫn cứ chen vào. Họ chưa từng có một buổi tối nguyên vẹn bên nhau kể
từ ngày đầu tiên. Myron mới chỉ chào hỏi sơ qua Erin và Jack tại bữa tiệc. Họ
không chắc phải điều chỉnh mối quan hệ này tiến triển nhanh hay chậm, nhưng Ali
rất cương quyết cho rằng họ nên từ từ thôi khi có gì dính dáng tới lũ trẻ.
Ali phải
về sớm. Jack có một bài tập lớn và nàng đã hứa là sẽ giúp nó. Myron tiễn nàng,
quyết định ở lại thành phố đêm nay.
“Anh sẽ ở
Miami trong bao lâu?” Ali hỏi.
“Chỉ một
hoặc hai đêm thôi.”
“Anh có
thấy buồn nôn lắm không nếu em nói là em sẽ nhớ anh?”
“Không,
không tệ thế.”
Nàng nhẹ
nhàng hôn anh. Myron nhìn nàng lái xe đi, lòng nhẹ bẫng, và anh trở lại buổi
tiệc.
Từ khi
anh lên kế hoạch là phải ngủ bằng được, Myron bắt đầu uống. Anh không phải là
loại mà người ta hay gọi là bợm nhậu - tửu lượng của anh ngang với một
cô-gái-mười-bốn-tuổi - nhưng tối nay, vào cái buổi lễ tuy quái gở nhưng lại
tuyệt vời này, anh cảm thấy mình có tâm trạng để nốc rượu. Win cũng vậy, mặc dù
phải nốc chán chê nữa mới đủ làm anh ta xỉn. Cognac vốn là sữa mẹ với Win mà.
Hiếm khi anh ta để lộ hậu quả của nó, ít nhất là ở vẻ bề ngoài.
Tối nay
chẳng có gì đáng ngại. Con limousine dài của Win đang đợi sẵn. Nó sẽ chở họ về
khu phố trên.
Căn hộ
của Win tại Dakota, trị giá hàng tỉ đô và được thiết kế khiến người ta liên
tưởng đến cung điện Versailles. Khi họ tới, Win cẩn thận tự rót cho mình thứ
rượu pooc-tô hảo hạng vẫn để giá một cách khiếm nhã, chai Quinta do Noval
Nacional được sản xuất vào năm 1963. Chai rượu này đã được chắt ra chừng vài
giờ trước đó bởi vì, như Win giải thích, là phải cho rượu vang thời gian để hít
thở trước khi thưởng thức nó. Thường thì Myron hay uống một ly sôcôla Yoohoo,
nhưng lúc này bụng anh không hợp với sôcôla. Thêm nữa, sôcôla thì không còn
thời gian để hít thở.
Win bật
tivi, và họ xem chương trình Antique Roadshow[19].
Một mụ đàn bà khinh khỉnh với giọng nói lè nhè uể ỏai mang một bức tượng bán
thân hình thù gớm guốc bằng đồng vào. Bà ta bắt đầu kể lể với nhà thẩm định giá
rằng Dean Martin, vào năm 1950, đã đề nghị trả cho cha bà ta 10 nghìn đô để có
được cái miếng kim loại dị hợm ấy, nhưng cha bà ta, bà ta nói với một ngón tay
cứ chĩa ra và nụ cười màu mè tương thích, đã thì biết quá rõ giá trị của nó.
Ông biết rằng nó phải trị giá cả một gia tài. Nhà thẩm định giá gật đầu một
cách kiên nhẫn, đợi mụ đàn bà kết thúc, và ông hạ thấp giọng:
“Nó trị
giá chừng hai mươi đô.”
[19] Một chương trình trên truyền hình mà trong đó các chuyên gia về cổ
vật cho người xem biết giá trị thực của những cổ vật do những nhà sưu tập
nghiệp dư mang đến.
Myron và
Win đập tay với nhau.
“Cười
trên nỗi đau khổ của kẻ khác.” Win nói.
“Chúng ta
thật đáng khinh.” Myron nói.
“Không
phải chúng ta.”
“Không
phải ư?”
“Mà là
chương trình này.” Win nói. “Nó soi quá nhiều vấn đề chẳng đúng với thực tế tí
nào.”
“Không
đúng ở chỗ nào?”
“Người ta
thường không thỏa mãn khi cố làm thế nào để thứ đồ rẻ tiền của họ trị giá cả
gia tài. Không, thực tế còn hay hơn, hay hơn nhiều cơ, nếu như họ đã mua nó với
giá rẻ từ những người nhà quê nhẹ dạ. Không ai đếm xỉa tới cảm giác của những
người bán hàng nhà quê nhẹ dạ đã bị lường gạt, những người đã mất đứt món hời.”
“Nói hay
đấy.”
“À, mà
còn nữa.”
Myron
cười, ngồi xuống, chờ đợi.
“Quên cái
đói một lát đi,” Win tiếp tục. “Điều thực sự làm chúng ta khó chịu chính là mọi
người, tất cả mọi người đều dối trá trên chương trình Antique Roadshow.”
Myron gật
đầu. “Cậu định ám chỉ lúc cái ông thẩm định giá hỏi: ‘Các bạn có ý gì về giá
trị của món đồ không?’ Chứ gì?”
“Chính
xác. Ông ta lúc nào cũng hỏi cùng một câu đó.”
“Tôi
hiểu.”
“Và mấy
Ông mấy Bà à ồ kia xử sự cứ như là họ bị tóm bất ngờ không biết trước tí gì ấy
- cứ như là họ chưa bao giờ xem chương trình này vậy.”
“Thật là
bực mình!” Myron đồng ý.
“Và sau
đó họ thường nói kiểu như, ‘Ôi trời, tôi chưa bao giờ nghĩ về điều đó. Tôi
không có ý kiến gì về giá trị của nó cả.’ ” Win nhăn mặt. “Ý tớ là, thôi xin ạ.
Ông lôi cái tủ đá granit nặng hai tấn tới một trung tâm bán đồ cổ vớ vẩn nào đó
và xếp hàng đợi tới 12 tiếng đồng hồ - nhưng lại chưa từng, ngay cả trong những
giấc mơ lộn xộn nhất, tự hỏi nó đáng giá bao nhiêu à?”
“Nói
dối,” Myron đồng ý, cảm thấy hơi biêng biêng. “Nó cũng giống như ‘Cuộc gọi của
bạn là vô cùng quan trọng đối với chúng tôi.’ ”
“Và,” Win
nói, “đó là lý do tại sao chúng ta khoái trá khi mụ đàn bà bị ê mặt. Những lời
dối trá. Lòng tham. Cùng một lý do mà chúng ta thích thú khi cô ả khờ khạo chơi
“Vòng quay may rủi”[20] dù
đã biết đáp án nhưng vẫn tiếp tục quay thêm và rơi đúng phải ô Mất điểm.”
[20] Nguyên bản là trò Wheel of Fortune, khi được Việt hóa nó có tên là
Chiếc nón kỳ diệu. Ô “Bankrupt” của trò gốc tương đương với ô Mất điểm.
“Nó giống
như cuộc đời vậy,” Myron tuyên bố, cảm thấy đờ đẫn.
“Nói
trúng phóc.”
Nhưng sau
đó tiếng chuông liên lạc ở cửa ra vào kêu.
Myron cảm
thấy bụng anh réo lên. Anh xem đồng hồ. Đã là một giờ rưỡi sáng. Myron nhìn
sang Win. Win nhìn lại, mặt anh vẫn điềm tĩnh. Win vẫn đẹp trai, quá đẹp trai,
nhưng năm tháng, sự lạm dụng, những buổi ăn chơi đập phá, như tối nay chẳng
hạn, hoặc làm tình thâu đêm, đã bắt đầu bộc lộ một vài dấu hiệu nhỏ.
Myron
nhắm mắt, “Có phải là...?”
“Ừ.”
Anh thở
dài, đứng dậy. “Lẽ ra cậu phải nói với tớ.”
“Tại
sao?”
Họ lại đi
vào vấn đề cũ. Không có câu trả lời của câu hỏi đó.
“Cô ta từ
một chỗ mới ở khu Thượng Tây,” Win nói.
“Ừ, thuận
tiện quá nhỉ.”
Không nói
thêm lời nào Myron đi ra hành lang dẫn tới phòng ngủ của anh. Win trả lời ở
cửa. Myron liếc nhìn chán nản. Cô gái trẻ và xinh xắn. Cô nói: “Chào anh!” bằng
một giọng du dương. Win không đáp. Hắn ra hiệu cho cô theo mình. Cô làm theo,
loạng choạng trên đôi giầy gót quá cao. Họ mất hút phía cuối hành lang.
Như
Esperanza đã lưu ý, một số điều không thể thay đổi - dù bạn có muốn đến đâu đi
chăng nữa.
Myron
đóng cửa và nằm vật xuống giường. Đầu anh choáng váng vì rượu. Trần nhà quay
cuồng. Anh mặc kệ. Anh tự hỏi liệu anh có sắp bị ốm hay không. Anh không nghĩ
vậy. Anh vứt ra khỏi đầu những ý nghĩ về cô gái. Cô ta rời khỏi tâm trí anh dễ
dàng hơn là những cô nàng khác, một sự thay đổi trong anh mà chắc chắn không
phải là dấu hiệu tốt lên. Anh không nghe thấy bất kỳ tiếng động nào - căn phòng
mà Win sử dụng (đương nhiên, không phải phòng ngủ của cậu ta) đã được cách âm -
và rốt cuộc Myron nhắm mắt lại.
Điện
thoại cầm tay của anh đổ chuông.
Myron để
chế độ rung-chuông. Nó khua lạch cạch trên chiếc bàn ngủ. Anh tỉnh dậy khi mới
đang lơ mơ và với tay tìm nó. Anh lăn một vòng, và đầu ong ong. Anh trông thấy
chiếc đồng hồ điện tử cạnh giường ngủ.
2 giờ 17
phút sáng.
Anh không
kiểm tra tên người gọi trước khi áp điện thoại vào tai.
“A lô?”
anh càu nhàu.
Đầu tiên,
anh nghe thấy tiếng nức nở.
“A lô?”
Anh nhắc lại.
“Chú
Myron phải không? Cháu Aimee đây.”
“Aimee.”
Myron ngồi dậy. “Có chuyện gì thế? Cháu đang ở đâu?”
“Chú đã
nói rằng cháu có thể gọi cho chú.” Lại nức nở. “Bất cứ lúc nào, phải không?”
“Đúng
thế. Cháu ở đâu vậy, Aimee?”
“Cháu cần
chú giúp.”
“Được thôi,
không vấn đề gì cả. Chỉ cần nói với chú cháu đang ở đâu.”
“Ôi Chúa
ơi...”
“Aimee?”
“Chú sẽ
không kể với ai, đúng không?”
Anh ngập
ngừng. Anh chợt nghĩ tới Claire, mẹ của Aimee. Anh nhớ Claire ở độ tuổi này và
cảm thấy một cơn đau nhói.
“Chú đã
hứa. Chú đã hứa là chú không kể với bố mẹ cháu.”
“Chú
hiểu. Cháu đang ở đâu?”
“Hứa là
chú sẽ không kể nhé.”
“Chú hứa,
Aimee. Chỉ cần nói với chú cháu đang ở đâu.”

