Chiến Tranh Và Hòa Bình (Quyển 4) - Phần 17 - Chương 05 + 06

Phần XVII

Chương. - 5 -

Đời sống của các dân tộc không nằm gọn trong đời sống
của một vài người, bởi vì người ta vẫn chưa tìm ra được mối hên hệ giữa số
người này với các dân tộc. Lý thuyết cho rằng mối liên hệ năy căn cứ vào sự trao
đổi gửi toàn bộ ý muốn của quần chúng vào một nhân vật nhất định chỉ là một giả
thiết không được kinh nghiệm lịch sử xác nhận.

Lý thuyết này có lẽ cắt nghĩa được nhiều việc thuộc
lĩnh vực luật học và, có lẽ nó cần thiết đối với những mục đích của ngành khoa
học này, nhưng nếu đem ứng dụng vào lịch sử thì ta thấy rằng hễ xảy ra những
cuộc cách mạng, những cuộc chinh phục, những cuộc nội chiến, hễ lịch sử bắt
đầu, là lý thuyết này không cắt nghĩa được gì nữa.

Lý thuyết này có vẻ không thể bác được chính vì hành
động trao gởi ý muốn của quần chúng là một hành động không thể kiểm nghiệm
được.

Dù cho biến cố xảy ra là biến cố gì, dù người lãnh đạo
biến cố lãnh đạo là ai, thì lý thuyết kia bao giờ cũng có thể nói rằng con
người lãnh đạo biến cố này chính vì toàn bộ ý muốn đã được trao là biểu hiện
của thời đại của họ.

Lý thuyết trao gửi ý muốn của quần chúng vào những
nhân vật lịch sử chỉ là một lối giải thích quanh co, chỉ là một cách nêu lại
vấn đề bằng những danh từ khác mà thôi.

Nguyên nhân của các biến cố lịch sử là cái gì? - Là
quyền lực.

Quyền lực là cái gì? - Là tổng số những ý muốn trao
gửi cho một nhân vật duy nhất. Ý muốn của quần chúng được trao cho một nhân vật
duy nhất với những điều kiện nào? - Với điều kiện con người này biểu hiện ý
muốn của toàn thể, nghĩa ỉà biểu hiện loại.

Nói khác đi, quyền lực là một danh từ mà chúng ta
không thể hiểu ý nghĩa được.

Nếu lĩnh vực của tri thức loài người chỉ là giới hạn
trong tư duy trừu tượng mà thôi, thì nhân loại sau khi phê phán cách giải thích
về quyền lực mà khoa học đưa ra, sẽ đi đến kết luận rằng quyền lực chẳng qua là
một danh từ suông, chứ trong thực tế không tồn tại.

Nhưng để nhận thức các hiện tượng ngoài tư duy trừu
tượng, con người còn có một công cụ khác là kinh nghiệm, mà nó dùng để kiểm tra
những kết quả của tư duy. Và kinh nghiệm nói rằng quyền lực không phải là một
danh từ suông mà là một hiện tượng tồn tại thực sự.

Chưa kể là không có sự miêu tả nào về hoạt động tập
thể của con người lại có thể không dùng đến khái niệm quyền lực, sự tồn tại của
quyền lực đã được lịch sử cũng như việc quan sát các biến cố hiện đại chứng
minh.

Mỗi khi diễn ra một biến cố, bao giờ cũng thấy một
người hay nhiều người xuất hiện và biến cố ấy có vẻ như diễn ra theo ý muốn của
họ. Napoléon II ra lệnh, thế là người Pháp đi Mexico. Vua nước Phổ và Bismac ra
lệnh, thế là quân đội của ông ta tiến vào nước Nga. Alekxandr ra lệnh, thế là
người Pháp phục tùng dòng họ Bourbon. Kinh nghiệm cho ta thấy rằng bất kỳ một
biến cố như thế nào diễn ra, bao giờ nó cũng gắn liền với ý muốn của một hay
những người đã ra lệnh thực hiện nó.

Theo thói quen cũ tin rằng có sự can thiệp của thần
linh vào công việc của loài người, các sử gia muốn tìm nguyên nhân của một biến
cố ở ý muốn của một nhân vật nắm quyền lực, những quan niệm này không được lý
luận cũng như kinh nghiệm xác nhận.

Một mặt thì sự suy luận cho thấy rằng sự biểu hiện ý
chí của một người, tức là những lời nói của người ấy. - Chỉ là một bộ phận của
hoạt động chung được biểu hiện trong một biến cố, chẳng hạn trong một cuộc
chiến tranh hay một cuộc cách mạng.

Do đó, nếu không thừa nhận sự tồn tại của một sức mạnh
không thể hiểu được, siêu tự nhiên, tức là sự iồn tại của phép thần thông, thì
người ta không hể thừa nhận rằng lời nói có thể là nguyên nhân trực tiếp của sự
vận động của hàng triệu con người. Một mặt khác, dù có thừa nhận rằng lời nói
có thể là nguyên nhân của một biến cố thì lịch sử cũng cho thấy ràng sự biểu
hiện ý chí của những nhân vật lịch sử trong nhiều trường hợp không gây nên một
tác dụng gì, nghĩa là không những mệnh lệnh của họ không được thực hiện mà
nhiều khi sự việc xảy ra còn trái hẳn với mệnh lệnh của họ.

Nếu không thừa nhận sự can thiệp của thần linh và các
công việc của nhân loại thì ta không thể nào xem quyền lực là nguyên nhân của
các biến cố.

Quyền lực, xét về mặt kinh nghiệm, chỉ là mối lệ thuộc
giữa sự biểu hiện ý muốn của một nhân vật và việc những con người khác thi hành
ý muốn ấy.

Để cắt nghĩa những điều kiện của mối lệ thuộc này,
trước hết ta phải phục hồi khái niệm biểu hiện ý muốn bằng cách ứng dụng nó cho
con người chứ không phải cho thần linh.

Nếu thần linh ra lệnh biểu hiện ý muốn của mình, như
lịch sử cổ đại thường cho thấy, thì sự biểu hiện ý muốn này không lệ thuộc vào
thời gian, cũng không do một cái gì gây ra cả, bởi vì thần linh không có liên
hệ gì với biến cố. Nhưng khi nói đến những mệnh lệnh tức là những sự biểu hiện
ý muốn của những con người hoạt động trong thời gian và bị ràng buộc với nhau,
thì muốn cắt nghĩa mối liên hệ giữa các mệnh lệnh với các biến cố, ta cần phải
phục hồi:

1. Điều kiện của tất cả những việc đã xảy ra, tức là
sự vận động liên tục trong thời gian của những biến cố cũng như của con người
đã ra lệnh và

2. Điều kiện của mối liên hệ tất yếu giữa người ra
lệnh và những kẻ thi hành mệnh lệnh của người ấy.

Phần XVII

Chương. - 6 -

Chỉ có ý muốn của một vị thần linh không lệ thuộc vào
thời gian mới có thể ảnh hưởng đến cả một loạt biến cố xảy ra trong vòng vài
năm hay vài thế kỷ, chỉ có thần linh mới có thể dùng ý, nghĩa muốn của riêng
mình để quy định phương hướng vận động của nhân loại mà không bị cái gì hạn
chế. Trái lại, con người hoạt động trong thời gian và bản thân nó tham dự vào
các biến cố.

Trong khi khôi phục lại điều kiện thứ nhất bị bỏ qua,
tức là điều kiện thời gian, ta sẽ thấy rằng không có một mệnh lệnh nào có thể
được thực hiện nếu không có một lệnh lệnh đi trước khiến cho nó có thể thực
hiện được.

Không bao giờ một mệnh lệnh nào xuất hiện một cách tự
phát và chứa đựng cả một loạt biến cố mà mệnh lệnh nào cũng xuất phát từ một
mệnh lệnh khác, và không bao giờ liên quan đến cả một loạt biến cố mà chỉ liên
quan đến một giây phút duy nhất của biến cố.

Chẳng hạn ta nói Napoléon ra lệnh cho quân đội xuất
chinh, tức là ta đã quy lại trong một lệnh duy nhất được ban bố trong một giây
phút nhất định, cả một loạt mệnh lệnh kế tiếp nhau và lệ thuộc vào nhau.
Napoléon không thể ra mệnh lệnh xuất chinh sang Nga và không bao giờ ra mệnh
lệnh ấy. Hôm nay ông ta ra mệnh lệnh gửi những công văn nào đó đến Viên, đến Bá
linh, đến Petersburg, hôm sau ông ta lại chuyển những sắc lệnh và những nhật
lệnh nào đó đến quân đội, đến cục quân nhu v.v… Ông ta đã ra hàng triệu mệnh
lệnh trong đó có cả một loạt mệnh lệnh tương ứng với một loạt biến cố đã đưa
quân đội Pháp đến nước Nga.

Trong suốt thời gian trị vì, Napoléon ra những mệnh
lệnh về cuộc viễn chinh sang Anh, ông ta chưa bao giờ hao phí nhiều tâm lực và
thời gian như vậy cho bất kỳ kế hoạch nào khác, tuy vậy trong suốt thời gian
trị vì, ông ta không bao giờ thực hiện kế hoạch ấy. Trái lại, ông ta đã thực
hiện cuộc viễn chinh sang Nga, mặc dầu ông ta thường phát biểu rằng liên minh
với nước Nga là có lợi. Sở dĩ như vậy là vì những mệnh lệnh của ông về nước
Anh, không phù hợp với cả một loạt biến cố, trái lại những mệnh lệnh về nước
Nga thì lại phù hợp.

Muốn cho những mệnh lệnh được chấp hành một cách chắc
chắn thì nó phải được ban ra dưới một hình thức có thể thực hiện được. Nhưng
không thể nào biết được cái gì là có thể thực hiện hay không thể thực hiện,
không những đối với cuộc viễn chinh của Napoléon chống lại nước Nga, trong đó
có hàng triệu người tham dự, mà ngay cả đối với một biến cố ít phức tạp nhất
cũng vậy bởi vì trong cả hai trường hợp này việc thực hiện bao giờ cũng có thể
gặp hàng triệu trở ngại. Bên cạnh một mệnh lệnh được thực hiện bao giờ cũng có
một số lớn mệnh lệnh không được thực hiện. Tất cả những mệnh lệnh không thể
thực hiện đều không liên quan đến biến cố và không được chấp hành. Chỉ có những
mệnh lệnh có thể thực hiện mới gắn liền với nhau làm thành một loạt mệnh lệnh
nhất trí với nhau, tương ứng với các biến cố, và được chấp hành.

Sở dĩ ta có quan niệm sai lầm cho rằng mệnh lệnh đi
trước biến cố và là nguyên nhân khiến cho biến cố xảy ra là vì khi biến cố xảy
ra và trong số hàng nghìn mệnh lệnh được ban ra, chỉ có những mệnh lệnh liên
quan không được chấp hành bởi vì không thể nào chấp hành được. Ngoài ra, nguyên
nhân chính khiến chúng ta sai lầm về mặt này là trong cách trình bày của sử
học, cả một loạt gồm vô số những biến cố khác nhau hết sức nhỏ nhặt, chẳng hạn
tất cả những biến cố đã đưa quân đội Pháp đến nước Nga, đều bị khái quát hóa thành
một biến cố duy nhất dựa vào kết quả của những biến cố kia và cứ theo lời khái
quát hóa ấy người ta quy cả một loạt mệnh lệnh thành một sự biểu hiện ý muốn
duy nhất.

Chúng ta nói: Napoléon muốn và được thực hiện cuộc
viễn chinh sang Nga. Nhưng thật ra, trong toàn bộ hoạt động của Napoléon, ta sẽ
không tìm thấy có cái gì giống như sự biểu hiện của ý muốn ấy, trái lại ta sẽ
thấy những loạt mệnh lệnh hay những loạt biểu hiện ý muốn của ông ta, có những
phương hướng hết sức đa dạng, hết sức mơ hồ. Trong vô số những mệnh lệnh của
Napoléon có một loạt mệnh lệnh nhất định đã được chấp hành, nhằm tiến hành cuộc
viễn chinh năm 1812, không phải vì những mệnh lệnh này có gì khác những mệnh
lệnh không được chấp hành, mà chỉ vì loạt mệnh lệnh này đã phù hợp với một loạt
biến cố đã đưa quân đội Pháp sang Nga. Điều đó cũng giống như khi dùng một cái
khuôn dùng để vẽ hình, người ta có được hình này hay hình khác không phải vì
người ta đã bôi màu ở một chỗ nào đó, theo một cách thức nào đó, mà w người ta
đã lấy màu bôi lên khắp khuôn.

Do đó, khi ta quan sát quan hệ giữa các mệnh lệnh với
các sự kiện ở trong thời gian, ta sẽ nhận thấy rằng một mệnh lệnh không bao giờ
có thể là nguyên nhân của một biến cố, nhưng ở giữa hai cái đó có một mối liên
hệ lệ thuộc nhất định.

Để hiểu rõ mối quan hệ này là cái gì, cần phải khôi
phục một điều kiện khác, đã bị bỏ qua. Khi nói đến bất kỳ mệnh lệnh gì không
phải do thần linh mà chính do con người ban bố, đó là việc bản thân con người
ra mệnh lệnh cũng tham gia vào biến cố.

Chính mối quan hệ giữa người ra mệnh lệnh và những
người chấp hành mệnh lệnh là cái mà người ta gọi là quyền lực. Nội dung của mối
quan hệ ấy như sau:

Để cùng hoạt động, con người bao giờ cũng tập hợp lại
thành những tập thể nhất định, trong mỗi tập thể tuỳ mỗi con người có một mục
đích khác nhau nhưng quan hệ giữa người tham gia hành động bao giờ cũng giống
nhau.

Trong khi tập hợp lại như vậy, giữa những con người ấy
bao giờ cũng có mối quan hệ khiến đại đa số tham gia một cách trực tiếp nhất còn
thiểu số tham gia một cách ít trực tiếp nhất và hành động chung đã khiến họ
phải tập hợp.

Trong tất cả các tập thể mà con người lập nên để thực
hiện những hành động chung, một tập thể rõ nét nhất và minh xác nhất là quân
đội.

Quân đội nào cũng gồm những thành phần thấp nhất về
quân hàm, đó là binh sĩ, họ bao giờ cũng là tối đại đa số, rồi đến người trên
họ một bậc là các hạ sĩ, các trung sĩ, với số lượng ít hơn, rồi đến những cấp
cao hơn, với một số lượng còn ít hơn nữa, và cứ như thế cho đến quyền chỉ huy
tốl cao tập trung vào một nhân vật duy nhất.

Tổ chức quân sự có thể biểu trưng một cách hoàn toàn
chính xác bằng một hình nón mà đáy là binh sĩ, những tiết diện ở trên đáy là
những cấp bậc của quân đội theo thứ tự từ thấp đến cao và cứ thế cho đến đỉnh chóp
của hình nón là vị tổng chỉ huy.

Binh sĩ, vốn chiếm tối đại đa số, là những điểm thấp
của hình nón và cơ sở của nó. Binh sĩ trực tiếp đâm, chém, đốt nhà, cướp của và
bao giờ họ cũng nhận được lệnh làm những việc ấy do những cấp trên ban ra, chứ
họ không bao giờ ra lệnh. Các hạ sĩ quan (số các hạ sĩ quan đã ít hơn số lính)
trực tiếp hành động ít hơn binh sĩ, nhưng họ đã có ra lệnh. Sĩ quan còn ít tham
dự vào hành động trực tiếp hơn và ra lệnh nhiều hơn. Viên tướng chỉ huy cách
hành quân, chỉ định mục tiêu cho quân đội và hầu như không bao giờ dùng đến vũ
khí. Còn vị tổng tư lệnh thì không bao giờ tham dự trực tiếp vào hành động mà
chỉ đưa ra những mệnh lệnh chung về cách vận chuyển của đại quân. Quan hệ này
giữa người với người cũng thấy có trong mọi tập đoàn lập nên nhằm thực hiện một
hành động chung trong nông nghiệp, trong thương nghiệp hay trong bất kỳ công
việc gì.

Như vậy, không cần phải tăng thêm một cách giả tạo
những tiết diện ngang của hình nón, tức là tăng thêm tất cảnhững cấp bậc của
quân đội hày tất cả những chức tước và địa vị của bất kỳ cơ quan nào, hay của
bất kỳ tổ chức tập thể nào, từ dưới lên trên ta đều thấy cái quy tắc sau đây:
để thực hiện một hành động chung, con người bao giờ cũng phải ở trong một mối
quan hệ nhất định biểu hiện ở chỗ những người càng tham dự trực tiếp vào hành
động thì càng ít có thể chỉ huy và số lượng càng lớn, trái lại những người càng
ít tham dự trực tiếp vào hành động thì càng chỉ huy nhiều hơn và số lượng nhỏ
hơn. Ta cứ đi từ thấp lên cao như vậy cho đến con người duy nhất và cuối cùng
là con người tham dự ít nhất vào biến cố và quyền ban bố mệnh lệnh nhiều hơl
tất cả những người khác.

Chính quan hệ này giữa những người chỉ huy và những
người bị chỉ huy là thực chất của cái khái niệm mà ta gọi là quyền lực.

Trong khi khôi phục lại những điều kiện thời gian
trong đó các biến cố xảy ra, ta đã nhận thấy rằng một mệnh lệnh chỉ được chấp
hành khi có liên quan đến cả một loạt biến cố tương ứng. Và trong khi khôi phục
lại điều tất yếu của mối quan hệ giữa người ra lệnh với người chấp hành, ta
thấy rằng những người ra lệnh, do chính bản chất của họ, ít tham dự vào biến cố
hơn và hoạt động của họ chỉ thuần tuý hướng vào việc ra mệnh lệnh.

Báo cáo nội dung xấu