Trăm năm cô đơn - Chương 08 - Phần 1
Chương
8
Ngồi trên chiếc ghế
xích đu làm bằng gỗ liễu giỏ, với đồ thêu thùa để trong lòng, Amaranta ngắm
Aurêlianô Hôsê lần đẩu tiên trong đời cạo râu. Cậu đang lia lưỡi dao cạo trên
cái cằm đầy bọt xà phòng. Lưỡi dao cạo làm chảy máu những mụn nhân, làm đứt môi
trên do cậu cố ý tỉa bộ ria mép màu hung hung, nhưng dù cậu cố sức nó vẫn cứ y
nguyên như trước. Cái công việc cạo râu quá tỉ mẩn của cậu khiến Amaranta có cảm
giác trong lúc ấy cậu đã bắt đầu già.
- Nom cháu giống
Aurêlianô như đúc khi anh ấy vào tuổi cháu - cô nói. - Cháu đã là người lớn rồi
đấy.
Cậu đã là người lớn từ
lâu rồi, từ cái ngày Amaranta tưởng rằng cậu hãy còn ranh con nên vẫn cứ khỏa
thân trong nhà tắm ngay trước mặt cậu như lâu nay cô vẫn thường làm kể từ ngày
Pila Tecnêra đem cậu trả cho gia đình, rũ bỏ trách nhiệm nuôi nấng của thị. Lần
đẩu nhìn thấy cô tắm, cậu bé chỉ chú ý đến cái rãnh sâu giữa hai núm vú trên ngực
cô mình. Lúc ấy cậu còn ngây thơ lắm đến mức phải hỏi cô bị làm sao ở ngực thế
thì Amaranta giả vờ lấy ngón tay gãi ngực rồi trả lời cháu mình: “Cô bị người
ta róc, róc thịt đấy”. Sau đó, khi đã bình phục sau trận ốm vì Piêtrô Crêspi tự
tử, cô lại cùng tắm chung với Aurêlianô Hôsê trong nhà tắm. Cậu không để ý đến
cái rãnh sâu mà trái lại run bắn người vì thích thú lạ lùng trước hai bầu vú hồng
hồng căng mọng. Cậu vẫn dõi nhìn cô và nhờ vậy hiểu kỹ hơn cái kỳ lạ của tình
thân mật giữa hai cô cháu, và cậu vẫn cảm thấy da mình nổi gai trong lúc ngắm
nhìn cô, giống như da cô mình cũng nổi gai khi dội nước. Ngay từ lúc còn rất nhỏ
tuổi, cậu đã có thói quen bỏ chiếc võng trống cả đêm để bừng tỉnh dậy trên giường
Amaranta, chả là vì nằm bên cạnh cô, cậu đỡ sợ bóng tối hơn. Nhưng kể từ hôm có
ý thức thích thú tấm thân ngà ngọc của cô mình, thì động lực thúc đẩy cậu bỏ
võng để chui vào mùng của cô không phải là nỗi sợ bóng tối mà là sự thèm khát
được cảm nhận hơi thở nồng ấm của Amaranta vào lúc trời hửng sáng. Trong thời kỳ
cô cự tuyệt đại tá Hêrinênđô Mackêt, có một buổi đêm về sáng nọ, với cảm giác
nghẹt thở Aurêlianô Hôsê thức dậy. Cậu cảm thấy những ngón tay của Amaranta, giống
như những con tằm, nóng ran và khao khát, đang lần tìm bụng mình. Giả vờ đang
còn ngủ, cậu cựa mình đổi tư thế để chúng khỏi gặp trở ngại trên con đường mò
tìm, và lúc ấy cậu nhận ra năm ngón tay thuộc bàn tay không băng dải băng đen,
như những con sên mù, đang lần mò giữa hai bẹn mình. Dù hai người giả vờ không
biết điều cả hai cùng biết và điều mỗi người biết rõ rằng người kia đã biết, kể
từ đêm đó họ gắn bó với nhau trong một sự ăn ý tuyệt vời. Aurêlianô Hôsê không
thể ngủ được khi cậu chưa nghe thấy tiếng nhạc van phát ra từ chiếc đồng hồ nơi
phòng khách, và cô gái đứng tuổi, mà làn da cô bắt đầu cảm thấy tê tái buồn, sẽ
không một phút yên lòng nếu cô chưa cảm thấy kẻ mộng du trườn mình trong mùng.
Đó là người cô đã nuôi nấng mà không nghĩ rằng người ấy sẽ là một nới bám víu tạm
thời cho nỗi cô đơn của mình. Vậy là bọn họ không chỉ ngủ chung một giường,
cùng khỏa thân, cùng thèm khát mân mê nhau mà còn lẵng nhẵng theo nhau khắp các
xó xỉnh trong nhà, cùng ở trong buồng đóng kín cửa vào bất kỳ giờ nào, lúc nào
cũng hào hứng không biết chán. Có lần bọn họ suýt bị Ucsula bắt quả tang. Vào một
buổi chiều nọ, cụ vào kho bột ngô, khi hai người sắp hôn nhau. “Cháu yêu cô lắm
phải không?” Cụ hỏi Aurêlianô Hôsê vẻ hết sức ngây thơ. Cậu vâng để trả lời bà
mình. “Cháu ngoan lắm.” Ucsula kết thúc, đong bột mì để làm bánh rồi trở về nhà
bếp. Sự kiện này đã lôi Amaranta ra khỏi cơn cuồng si. Cô hiểu rằng mình đã vượt
quá xa giới hạn, rằng mình không còn hôn hít nó như hôn hít một đứa trẻ nhỏ
chơi đùa, trái lại cô đang bì bõm lội trong một cơn đam mê bệnh hoạn vừa nguy
hiểm vừa không có lối thoát, rồi cô kiên quyết dập tắt cơn đam mê này. Cũng lúc
ấy, Aurêlianô Hôsê vừa kết thúc việc học quân sự, nhận ra sự thực và bỏ nhà để
vào doanh trại ngủ. Mỗi thứ bảy đến, cậu đều cùng với đám lính đến tiệm bác
Catarinô. Cậu giải buồn với những người đàn bà son phấn mà cứ da diết tưởng tượng
họ là Amaranta.
Sau đó ít lâu, những
tin tức chiến sự trái ngược nhau bắt đầu được tung ra. Trong khi chính phủ thừa
nhận những bước tiến mới của quân khởi nghĩa thì các sĩ quan ở Macônđô nhận được
những thông báo tin cậy về một cuộc đình chiến do hai bên thương lượng tất yếu
sẽ xảy ra. Vào đầu tháng tư, có một sứ giả tin cậy đến ra mắt đại tá Hêrinênđô
Mackêt. Vị này khẳng định với đại tá rằng các lãnh tụ đảng đã bắt liên lạc với
các tư lệnh quân khởi nghĩa ở nội địa, và đã sẵn sàng ký một hiệp định đình chiến
với điều kiện chính phủ che phái Tự do ba ghế bộ trưởng, một số đại biểu tối
thiểu trong nghị viện, và sẽ khoan hồng chung cho những nghĩa quân đã hạ súng.
Vị sứ giả mang theo một mệnh lệnh hết sức bí mật của đại tá Aurêlianô Buênđya,
người không tán thành các điều khoản của hiệp định.
Đại tá Hêrinênđô
Mackêt cần phải chọn năm người tốt nhất và chuẩn bị để trốn ra nước ngoài. Mệnh
lệnh này đã được thực hiện trong thời hạn ngắn nhất. Một tuần trước khi bản thỏa
ước được loan báo, và trong lòng khí hỗn độn những tin đồn khác nhau, đại tá
Aurêlianô Buênđya và mười sĩ quan tin cậy nhất của chàng, trong đó có đại tá
Rôkê Cacnixêrô, lặng lẽ trở về Macônđô vào lúc quá nửa đêm, giải tán quân đội,
chôn giấu vũ khí, đất bỏ các tài liệu. Vào lúc trời hửng sáng, cùng với đại tá
Hêrinênđô Mackêt và năm người dưới quyền chàng, bọn họ đã rời khỏi làng. Đó là
một chiến dịch được thực hiện rất nhanh chóng và bí mật đến mức Ucsula không
hay biết gì cho đến giờ chót khi có người gõ nhẹ lên cửa sổ phòng ngủ của cụ và
thầm thì nói: “Nếu cụ muốn nhìn thấy đại tá Aurêlianô Buênđya thì xin mời cụ ra
ngay cửa ạ”. Ucsula vùng dậy, mặc nguyên quần áo ngủ, bước ra cửa, và hầu như cụ
mới chỉ kịp nhận ra tiếng vó ngựa của đoàn người đang lặng lẽ phi ra khói làng
cuốn theo đám bụi mù mịt. Chỉ đến ngày hôm sau cụ mới được biết Aurêlianô Hôsê
đã đi cùng cha mình.
Mười ngày sau kể từ
khi một thông cáo chung giữa chính phủ và phái đối lập được công bố báo tin
đình chiến, đã có những tin tức về cuộc vũ trang nổi dậy đẩu tiên của đại tá
Aurêlianô Buênđya ở biên giới phía đông. Các lực lượng của chàng, không những
ít quân lại còn trang bị kém, đã bị đánh tan tác chỉ trong thời gian không đầy
một tuần. Nhưng trong suốt cả năm ấy, trong lúc phái Tự do và phái Bảo hoàng cố
gắng làm cho đất nước sống trong sự hoà giải thì chàng mưu tính bảy cuộc nổi dậy.
Một đêm nọ, từ một chiếc tàu chàng nã pháo vào thành phố Riôacha, và đội tuần
tra đã phải dậy giữa đêm, bắn trả thù mười bốn nhà Tự do nổi tiếng bị giam giữ ở
thành phố này. Chàng chiếm một sở hải quan ở biên giới trong hơn mười lăm ngày
và từ đây chàng gửi đến quốc dân đồng bào lời hiệu triệu tổng khởi nghĩa. Một
trong số những đạo quân của chàng đã lạc trong rừng liền ba tháng, vì đơn vị
này có nhiệm vụ vượt qua hơn một nghìn năm trăm kilômét đường rừng để nhen nhóm
các cuộc chiến đấu xung quanh thủ đô. Đôi lúc chàng chỉ ở cách Macônđô chừng
vài chục cây số nhưng chàng đã bị các đội quân tuần tra của chính phủ buộc phải
đi sâu vào núi cách không xa địa điểm thú vị nơi nhiều năm trước đây cha chàng
đã gặp được xác một chiếc tàu Tây Ban Nha.
Cũng trong thời gian
này Visitaxiôn qua đời. Sau khi từ bỏ ngai vàng vì sợ dịch mất ngủ, bà muốn được
chết già và nguyện vọng cuối cùng của bà là người ta sẽ đào số lương tích cóp
trong vài chục năm chôn ở dưới gầm giường rồi gửi nó cho đại tá Aurêlianô
Buênđya để chàng tiếp tục chiến đấu. Nhưng Ucsula không cho đào số tiền, bởi vì
ngày ấy người ta đồn rằng đại tá Aurêlianô Buênđya đã chết trong một vụ đổ bộ
vào vùng ven tỉnh lỵ. Thông cáo chính thức, cái thông cáo thứ tư trong không đầy
hai năm đã cho thấy điều đó là hiển nhiên vì gần như sáu tháng nay người ta
không được biết gì về chàng. Bỗng nhiên, khi Ucsula và Amaranta đang để tang mới
cho các vị tiền bối, thì có một tin lạ được chuyển đến. Đại tá Aurêlianô vẫn
còn sống, nhưng rõ ràng chàng không theo chính phủ nước mình, do đó đã gia nhập
các lực lượng liên bang đang thắng thế ở một số nước khác thuộc Caribê. Chàng đến
với những đất nước có những tên khác nhau ngày một xa lạ với tên quê hương mình.
Sau đó người ta được
biết rằng tư tưởng lúc ấy cổ vũ chàng là tư tưởng về sự thống nhất các lực lượng
liên bang vùng Trung Mỹ để quét sạch các chế độ Bảo hoàng từ Alasca đến
Patagônia.
Sau vài năm chàng ra
đi, bức thư đầu tiên mà Ucsula nhận từ chàng là một bức thư đã nhàu nát lại
nhòe nhoẹt được chuyển tay từ thành phố Xantiagô đê Cuba.
- Chúng ta đã vĩnh viễn
mất nó rồi, - Ucsula thốt lên khi đọc lá thư bởi vì Lễ Noen trong ngày tận thế
sẽ xuất hiện trên con đường ấy[24].
[24] Ở đây tác giả chơi chữ. Nếu ghép Camino (con
đường) với Xantiagô thì có nghĩa là giải ngân hà. Lễ Noen trong ngày tận thế sẽ
xuất hiện ở giải ngân hà (theo Kinh Thánh)
Người được cụ nói điều
đó, người đầu tiên cụ chìa cho xem bức thư là tướng Hôsê Raken Môncađa, một người
thuộc phái Bảo hoàng. “Rất tiếc là - tướng Môncađa bình luận - Aurêlianô này lại
không phải là một người Bảo hoàng”. Ngài thật bụng khâm phục chàng. Cũng như rất
nhiều quan chức dân sự Bảo hoàng, Hôsê Raken Môncađa đã tiến hành cuộc chiến để
bảo vệ đảng mình và trong chiến đấu đã leo lên quân hàm cấp tướng, mặc dù ngài
không có tài thao lược. Trái lại, cũng như rất nhiều người trong đảng mình,
ngài là người phản đối chế độ quân phiệt. Ngài coi giới võ biền là đám người lười
biếng không có kỷ cương, thích mạo hiểm và tham lam, có kinh nghiệm chống đối
các quan chức dân sự để làm giàu trong tình cảnh hỗn độn. Là người thông minh,
nhã nhặn, da dẻ hồng hào, người thích ăn ngon và ham các cuộc chọi gà, thế mà
đã có lúc ngài là kẻ thù đáng gờm nhất của đại tá Aurêlianô Buênđya. Ngài đã
thiết lập được quyền chỉ huy của mình với các nhà quân sự nhà nghề trong cả
vùng duyên hải rộng lớn này. Có lần, theo những thỏa thuận chiến lược, ngài buộc
phải rút quân khỏi một thị trấn để trao lại cho lực lượng của đại tá Aurêlianô
Buênđya, ngài đã để lại hai bức thư cho chàng. Trong một bức thư dài gửi cho đại
tá, ngài mời chàng tham gia chiến dịch chung nhằm làm cho cuộc chiến đỡ khốc liệt
hơn. Bức thư khác ngài nhờ đại tá chuyển đến cho vợ mình sống trong vùng kiểm
soát của các lực lượng vũ trang thuộc phái Tự do. Từ dạo ấy, kể cả trong những
lúc chiến sự xảy ra ác liệt nhất, hai vị tư lệnh này đã thỏa thuận ngừng bắn để
trao đổi tù binh. Đó là những lúc hưu chiến với không khí vui vẻ đến mức tướng
Môncađa đã lợi dụng thời gian ấy để dạy đại tá Aurêlianô Buênđya chơi cờ đam.
Đã có những lúc cả hai người nghĩ đến khả năng phối hợp những yếu tố nhân dân
có trong cả hai đảng để loại trừ ảnh hưởng của các nhà quân sự và các nhà chính
trị nhà nghề, và thiết lập một thể chế nhân đạo nhờ khai thác triệt để những mặt
ưu việt của từng học thuyết. Khi chiến tranh kết thức, trong lúc đại tá
Aurêlianô Buênđya thường xuyên thất bại, phải chạy trốn theo những hẻm núi thì
tướng Môncađa được phong làm Quan thanh tra ở làng Macônđô. Ngài ăn mặc dân sự,
dùng cảnh sát không vũ trang thay cho đám dân lệ, ngài buộc mọi người phải tôn
trọng mọi quy định của luật ân xá và giúp đỡ một số gia đình là thân nhân của
những người Tự do tử trận. Ngài tìm mọi cách để Macônđô được chọn là thị trấn
huyện và do đó ngài được bổ nhiệm là thị trưởng và đã vun trồng được một bầu
không khí tin cậy lẫn nhau trong dân chúng khiến cho họ nghĩ về chiến tranh như
nghĩ về một nỗi cực khổ vô nghĩa lý của thời quá khứ. Cha Nicanô, bị những cơn
sốt đau gan hành hạ đã gày nhom và do đó đã bị cha Côrônen - từng được mệnh
danh En Cachôrô, một cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh của những người thuộc
phái liên bang tiến hành đến thay thế. Brunô Crêspi đã kết hôn với Amparô
Môscôtê. Nhờ cửa hàng đồ chơi và nhạc cụ của anh không ngừng phát tài, anh đã
xây dựng một nhà hát từng được các gánh hát Tây Ban Nha liệt vào các lịch trình
biểu diễn lưu động của họ. Đó là một phòng xa lông rộng ở ngoài trời với những
chiếc ghế gỗ dài, một tấm phông nỉ có gắn các mặt nạ Hy Lạp và ba phòng bán vé
hình đầu sư tử mà qua cái miệng há ra của nó người ta bán vé vào cửa cho khách.
Cũng trong thời kỳ
này nhà trường được xây dựng. ĐôngMênchô Escalôna, một thày giáo
già được phái từ miền đầm lầy tới trông coi trường học. Được sự đồng ý của các
phụ huynh, ngài bắt các cậu học trò ương bướng phải quỳ gối đi trên nền sân lởm
chởm đá sỏi và bắt những đứa trẻ lắm mồm phải ăn ớt cay. Aurêlianô Sêgunđô và
Hôsê Accađiô Sêgunđô, những đứa con sinh đôi của Santa Sôphia đê la Piêđat, là
những học trò đầu tiên ngồi trong phòng học với bảng đen, phấn viết, ca nhôm có
khắc tên mình. Rêmêđiôt thừa kế được sắc đẹp đích thực của bà mẹ và bắt đầu được
làm quen với cái tên Rêmêđiôt - Người đẹp. Mặc dù tuổi cao, mặc dù phải chịu
nhiều tang tóc và những hoạn nạn chồng chất, Ucsula vẫn trẻ khoẻ như thường. Được
Santa Sôphia đê la Piêđat giúp đỡ, cụ lại kinh doanh nghề kẹo bánh và trong thời
gian ngắn, cụ đã không chỉ thu lại tài sản bị con trai tiêu nhẵn trong chiến
tranh, mà còn nhồi vàng ròng vào đầy các quả bí khô đem chôn trong phòng ngủ.
“Thượng đế còn cho ta
sống. - Cụ thường nói. - Thì trong ngôi nhà những kẻ điên khùng này sẽ không
bao giờ thiếu tiền bạc”.
Mọi chuyện đang diễn
ra êm đẹp như thế, bỗng thình lình Aurêlianô Hôsê rời bỏ hàng ngũ quân đội liên
bang Nicaragoa, trốn lên một chiếc tàu Đức, rồi xuất hiện ngay tại bếp ăn nhà
mình. Cậu trở về người khỏe mạnh như một con ngựa, da sạm nắng và tóc rậm như
người Anhđiêng với ý nghĩ thầm kín định cưới Amaranta làm vợ.
Khi Amaranta nhìn thấy
cậu bước vào, dù cậu chưa hề nói gì cả cô biết ngay vì sao cậu trở về. Cùng ngồi
một bàn mà hai người không dám nhìn vào mặt nhau. Nhưng sau hai tuần trở về, dù
Ucsula có mặt, cậu vẫn cứ nhìn thẳng vào mắt cô và nói: “Lúc nào cháu cũng nghĩ
tới cô thân yêu”. Amaranta chạy trốn cậu. Cô dò đoán để tránh phải gặp cậu ở những
nơi, những lúc bất thình lình. Cô cứ bám lấy Rêmêđiôt - Người đẹp, không rời nửa
bước. Cô xấu hổ đỏ bừng hai má trong cái ngày thằng cháu hỏi mình còn mang dải
băng đen trên tay đến bao giờ, bởi vì cô hiểu câu hỏi đó như là một lời ám chỉ
sự trinh tiết của mình. Khi cậu trở về nhà, cô liền cài chặt cửa buồng mình ngủ.
Nhưng trong nhiều đêm nghe rõ tiếng ngáy đều đều hiền hậu của cậu ở phòng bên,
cô yên lòng đến mức không đề phòng nữa. Sau gần hai tháng Aurêlianô Hôsê trở về,
có một buổi đêm về sáng, cô cảm thấy cậu vào phòng mình ngủ. Thế là, đáng lẽ phải
chạy trốn, phải gào toáng lên như cô đã dự định trước, thì cô lại buông thả
mình trong cảm giác nhẹ nhàng được nghỉ ngơi, được thỏa mãn. Cô cảm thấy cậu
đang trườn trong mùng, như đã trườn từ lúc còn nhỏ, như xưa nay nó vẫn trườn thế,
rồi cô không tài nào ghìm được mồ hôi lạnh túa ra và hàm răng run lập cập khi
nhận thấy cậu đã hoàn toàn khỏa thân. “Cút đi!” Cô thì thầm đuổi mà cảm thấy
như mình đang chết ngạt vì tính tò mò. “Cút đi không tao sẽ kêu lên bây giờ”.
Nhưng Aurêlianô Hôsê lúc ấy biết rõ điều mình cần phải làm, bởi vì cậu đâu còn
là thằng nhóc sợ bóng đêm mà trái lại đã là một thằng lính chiến. Kể từ đêm ấy,
bọn họ lại tiếp tục các cuộc vật lộn thầm lặng với nhau cho đến lúc trời hừng
sáng. “Ta là cô mày.” Amaranta thì thào nói vẻ mệt mỏi. “Ta gần như là mẹ mày,
không chỉ vì tuổi tác mà còn vì ta đã nuôi dạy mày đủ điều chỉ còn thiếu cho mày
bú thôi”. Vào lúc trời hừng đông, Aurêlianô lỉnh đi và đến buổi đêm về sáng
ngày hôm sau lại trở lại phòng ngủ cô mình, ngày một thích chí hơn bởi thấy rằng
cửa phòng cô mình vẫn không cài then. Không lúc nào cậu không yêu da diết cô
mình. Cậu thường gặp hình ảnh cô mình trong những phòng tối nơi các làng bị chiếm
đóng, nhất là những phòng tồi tàn nhất, và nhận ra nàng một cách vật chất qua
mùi máu khô đọng trên những dải băng của người bị thương, trong nỗi sợ hãi chợt
đến trước tử thần. Ở đâu và lúc nào cậu cũng thấy cô mình.
Cậu đã chạy trốn cô
mình bằng cách cố tình xoá nhòa ký ức của mình không chỉ nhờ ở sự xa cách muôn
trùng mà nhờ ở cả những trận đánh đẫm máu rùng rợn từng được các bạn đồng ngũ
liệt vào hạng đáng sợ nhất, nhưng trong lúc cậu càng cố xóa nhòa hình ảnh cô
mình ở nơi khủng khiếp của chiến tranh thì chiến tranh lại càng giống Amaranta
hơn. Vì thế mà cậu đau lòng phải sống lưu vong, cố tìm cách giết cô mình bằng
chính cái chết của mình cho đến khi cậu nghe một người lính kể câu chuyện cổ tích
về một người đàn ông lấy người cô ruột đồng thời lại là cháu gái mình và người
con trai của ông ta lại chính là ông trẻ của nó.
- Người ta không thể
lấy cô ruột mình sao? - cậu hỏi vẻ hoảng hốt.
- Không những có thể
lấy được, - một người lính trả lời cậu, - mà còn hơn thế nữa. Chúng ta làm cuộc
chiến tranh chống lại các thày tu này cốt để người ta có thể lấy ngay chính mẹ
đẻ của mình.
Mười lăm ngày sau, cậu
đào ngũ. Cậu thấy Amaranta của đời thực mặn mà hơn Amaranta trong ký ức, thấy
cô buồn và thanh tao hơn nhiều và mặc dù trên thực tế cô đã ở vào thời kỳ sắc đẹp
tàn phai nhưng hơn bao giờ hết cô lại nồng nàn trong bóng tối nơi phòng ngủ,
hơn bao giờ hết cô buông thả mình trong sự điên cuồng cự tuyệt. “Cháu là một thằng
đê tiện.” Amaranta bảo cậu khi bị cháu truy đuổi. “Cái việc cháu đang làm với
người cô đáng thương của mình này là không đứng đắn đâu dù cho đức Giáo hoàng
có đặc ân tha thứ đi nữa.” Aurêlianô Hôsê hứa sẽ đi đến thành Rôm, hứa quỳ gối lê khắp châu Âu hôn
dép đức Giáo hoàng chỉ để xin cô mình “tha cầu thành” cho mình vào.
- Không chỉ vì thế
đâu, - Amaranta cố chống cự, - mà còn vì sẽ đẻ ra những đứa con có đuôi lợn.
Aurêlianô Hôsê cố
tình làm ngơ trước mọi lý lẽ.
- Dù có đẻ ra những
con tê tê đi nữa cũng cam lòng. - Cậu van xin.
Một buổi đêm về sáng
nọ, cậu đến tiệm bác Catarinô sau khi không chịu nổi cơn đau vì nhục dục bị ức
chế quá mức. Ở đây cậu bắt tình với một người đàn bà có bộ vú chảy, niềm nở dễ
tính, là người đã làm nhuần cái bụng cậu trong một lúc. Cậu định sẽ đối xử tệ mạt
với Amaranta. Cậu thấy cô ngồi ở hành lang, đang đạp máy khâu, - một nghề cô học
rất nhanh, - và cậu không chào hỏi cô mình. Amaranta cảm thấy mình trút bỏ được
gánh nặng và chính cô cũng không hiểu nổi vì sao lúc này mình lại nghĩ đến đại
tá Hêrinênđô Mackêt, vì sao mình lại da diết nhớ những buổi chiều chơi cờ đam,
vì sao mình lại muốn chàng làm chồng mình. Aurêlianô Hôsê vẫn chưa biết mình đã
mất chỗ đứng trong trái tim cô mình, cho nên một đêm nọ do không thể tự kiềm chế
nổi dục vọng, cậu lại mò vào phòng ngủ của Amaranta. Lần này cô đã cự tuyệt một
cách dứt khoát và kiên quyết. Từ đó đêm nào cô cũng cài chặt cửa phòng mình lại.
Ít tháng sau ngày
Aurêlianô Hôsê trở về, một người đàn bà vẻ cởi mở, vương mùi hoa nhài, bồng đứa
bé năm tuổi đến nhà. Chị ta nói rằng đứa bé là con của đại tá Aurêlianô Buênđya
và rằng chị ta mang nó đến để Ucsula đặt tên. Không một ai nghi ngờ gốc gác của
đứa bé chưa có tên ấy: nó giống đại tá như đúc thời chàng được cha dẫn đi xem
nước đá. Người đàn bà kể rằng cậu bé chào đời với đôi mắt mở thao láo nhìn những
người xung quanh với vẻ dò xét của một người lớn, và rằng chính chị ta phải giật
mình trước cái nhìn chăm chú không chớp mắt của nó.
�u ch�n ���P�ể
chàng ở lại, và tự đáy lòng mình bà cầu khẩn chàng hãy nhớ lại ý định lấy
Amaranta làm vợ. Những lời cầu khẩn của bà dường như được linh nghiệm. Những
ngày tới nhà để ăn cơm trưa, đại tá Hêrinênđô Mackêt lưu lại cả một buổi chiều
để chơi cờ đam với Amaranta ở ngoài hành lang bày những chậu thu hải đường.
Ucsula mang đến cho đôi trai gái nào cà phê sữa, nào bánh quy, trông nom đám trẻ
nhỏ để chúng khỏi quấy rầy hai người. Trên thực tế, Amaranta cố nhóm lại tình
yêu say mê thời trẻ của mình mà lúc này nó như một đám tro nguội lạnh bị lãng
quên trong trái tim mình. Với niềm khát khao đã đạt tới độ không thể thay đổi
được, cô chờ đón những ngày chàng sẽ đến nhà mình ăn trưa, chờ đón những buổi
chiều chơi cờ đam và chờ cho thời gian đi trong lúc mình ngồi bên cạnh một chiến
binh có tên gợi bao niềm lưu luyến mà những ngón tay của người ấy cứ run lên
khi đi quân cờ. Nhưng trong ngày đại tá Hêrinênđô Mackêt nhắc lại nguyện vọng
tha thiết của mình được cưới Amaranta thì cô đã từ chối:
- Em sẽ chẳng lấy ai.
- Cô nói, - lại cũng không lấy anh đâu. Anh yêu Aurêlianô quá tới mức anh sẽ lấy
em vì anh không thể lấy anh ấy mà.
Đại tá Hêrinênđô
Mackêt là người điềm tĩnh. “Anh sẽ kiên trì chờ đợi.” Chàng nói. “Sớm muộn gì
anh cũng sẽ cưới em”.
Chàng tiếp tục đến
chơi nhà. Tự giam mình ở trong phòng ngủ để khóc vụng, Amaranta lấy hai đầu
ngón tay bịt kín lỗ tai để khỏi nghe thấy tiếng người theo đuổi mình đang kể
cho Ucsula nghe những tin tức chiến sự mới nhất, và mặc dù thèm nhìn chàng đến
chết được nhưng cô vẫn đủ nghị lực để không ra tiếp chàng.
Lúc ấy, đại tá
Aurêlianô Buênđya đã sắp xếp thời gian để cử hai tuần một lần gửi một thông báo
tỉ mỉ về Macônđô. Nhưng chỉ có độc một lần, sau gần tám tháng ra đi, chàng mới
viết thư riêng cho Ucsula. Một sứ giả đặc nhiệm đã mang đến nhà một phong thư
được viết với lối chữ rất đẹp của đại tá: “Hãy trông nom cha thật cẩn thận vì
cha sẽ mất”. Ucsula thảng thốt. “Nếu Aurêlianô nói thì Aurêlianô đã biết.”
Ucsula nói, và nhờ người khiêng Hôsê Accađiô Buênđya vào phòng ngủ. Cụ không chỉ
nặng như trước đây vốn đã nặng mà còn nặng thêm lên rất nhiều trong suốt thời kỳ
nằm dưới bóng cây dẻ đến mức bảy người đàn ông lực lưỡng không khiêng nổi, buộc
họ phải kéo lê cụ vào nhà. Mùi rêu non lẫn mùi mộc nhĩ, thứ mùi của không khí ẩm
lâu năm và đậm đặc, làm sực nức cả căn phòng khi cụ già lực lưỡng dầm mưa đãi nắng
đã lâu ngày bắt đầu thở. Ngày hôm sau, cụ không thức dậy ở trên giường đặt
trong phòng. Sau khi đi khắp các phòng tìm kiếm, Ucsula lại một lần nữa thấy cụ
nằm dưới bóng cây dẻ. Thế là họ trói cụ vào giường. Dẫu khỏe mạnh nhưng Hôsê
Accađiô Buênđya đã bị loại ra ngoài vòng chiến đấu… Cụ bằng lòng với tất cả,
không phân biệt được nữa. Nếu cụ trở lại nằm dưới bóng cây dẻ không phải vì sở
nguyện mà vì thói quen của cơ thể. Ucsula chăm nom cụ, cho cụ ăn và kể cho cụ
nghe những tin tức về Aurêlianô. Nhưng thực ra, người duy nhất mà cụ tiếp xúc từ
đã lâu là Pruđênxiô Aghila.
Với dáng vẻ tiều tụy
vì tuổi già trong cõi âm phủ, Pruđênxiô Aghila cứ một ngày hai lần đến nhà nói
chuyện với cụ. Hai người nói chuyện về gà chọi. Hai người hứa hẹn với nhau sẽ
xây dựng một chuồng nuôi những chú gà chọi tuyệt vời, không chỉ để vui vẻ trước
một số trận thắng mà còn để giải khuây trong những ngày chủ nhật man mát buồn ở
cõi âm phủ. Pruđênxiô Aghila là người tắm rửa cho cụ, cho cụ ăn, kể cho cụ nghe
những thắng lợi hiển hách của một người hoàn toàn xa lạ được gọi là Aurêlianô
và người này là đại tá trong chiến đấu. Khi ở một mình, Hôsê Accađiô Buênđya
khuây khỏa đôi phần với giấc mơ trong căn buồng vô cùng tận. Cụ mơ thấy mình đứng
dậy khỏi giường, mở cửa chính mà đi sang phòng bên có cái giường với đầu giường
làm bằng thép tôi, một chiếc ghế xích đu bằng gỗ liễu giỏ với chính một bức
chân dung Thánh bà Đồng trinh Rêmêđiôt treo trên bức tường cuối phòng. Từ phòng
này cụ đi sang phòng khác giống y hệt, mà cửa của nó mở ra dẫn sang phòng khác
giống y hệt, rồi sau đó sang phòng khác cũng giống y hệt, cứ như thế cho đến vô
cùng tận. Cụ thích đi từ phòng này sang phòng khác, như đi trong một hành lang
hai bên tường đều gắn gương, cho tới khi Pruđênxiô Aghila vỗ vai cụ. Thế là cụ
trở về lần lượt đi qua các phòng, trong lúc quay lại mà tỉnh giấc dần, cụ chạy
trên con đường ngược lại, để rồi lại gặp Pruđênxiô Aghila trong cái phông của đời
thực. Nhưng rồi có một đêm nọ, sau hai tuần Ucsula đưa cụ vào nhà, Pruđênxiô
Aghila vỗ vai cụ ngay ở phòng trung gian giữa cõi thực và cõi mộng và cụ mãi
mãi dừng lại ở đấy, mà cứ tưởng rằng đó là phòng của đời thực. Sáng ngay hôm
sau, khi mang bữa điểm tâm cho cụ, Ucsula bắt gặp một người từ ngoài hành lang
đi lại phía mình. Người ấy béo lùn, mặc bộ quần áo đen, đội một chiếc mũ đen rộng
vành chụp gần hết đôi mắt buồn rầu của ông ta. “Trời ơi.” - Ucsula nghĩ bụng. “Ai
như là Menkyađêt… Người đó là Cataurê, em trai Visitaxiôn, người tự bỏ nhà ra để
tránh dịch mất ngủ và từ đó đến nay không có tin tức gì. Visitaxiôn hỏi em mình
trở lại để làm gì thì ông ta dùng tiếng thổ dân trả lời:
- Em đến dự đám tang
của hoàng đế.
Thế là mọi người đổ
xô vào phòng Hôsê Accađiô Buênđya dùng hết sức lay cụ, gào to lên để gọi cụ, lấy
gương soi chiếu vào lỗ mũi cụ để gọi, nhưng không làm sao gọi cụ tỉnh được. Sau
đó ít lâu, khi người thợ mộc đo cụ để đóng áo quan, qua cửa sổ, người ta thấy
trời đổ xuống trận mưa hoa li ti màu vàng. Cả đêm ấy, những bông hoa nhỏ li ti
màu vàng rơi xuống một cái làng đang trong nỗi âm thầm đau khổ. Hoa phủ kín các
nóc nhà và hoa lấp kín các lối ra vào. Bầu trời sực nức mùi hoa khiến cho những
con vật ngủ ngoài trời phải ngột thở. Hoa trời rơi xuống không biết cơ man nào
mà kể, đến mức khi trời sáng các con đường phủ đầy hoa phẳng lỳ như một tấm
chăn. Người ta buộc phải dùng gậy, sào mà hất hoa đi để lấy lối cho đám tang đi
qua.

