Dấu Bộ Tứ - Chương 10

Chương 10 - Hết đời tên dân
đảo

Bữa ăn thật vui vẻ. Khi nào anh muốn, Holmes là một tay nói chuyện tài
tình; tối hôm ấy, anh muốn như thế. Dường như anh ở trong tình trạng phấn chấn
hứng khởi vả tỏ ra rất hoạt bát. Chuyển nhanh từ chủ đề này sang chủ đề khác,
những vở kịch thời Trung cổ, những cây đàn violone của Stradivarius, Phật giáo
tại Srilanca[1], tàu chiến trong tương lai, anh thảo luận mỗi đề tài này tưởng
như đã từng nghiên cứu kỹ lưỡng. Tính tình vui vẻ lúc ấy hoàn toàn khác hẳn vẻ
thiểu não hai ngày trước. Athelney Jones thì tỏ ra lịch thiệp trong những giờ
giải lao ấy và tham dự buổi ăn tối rất vui vẻ. Phần tôi, tôi thấy nhẹ nhõm khi
nghĩ rằng chúng tôi đã đến gần chỗ kết thúc vụ án và cũng để mình xuôi theo
niềm vui dễ lây của Holmes.

Trong suốt bữa ăn, không một ai trong chúng tôi đề cập đến thảm kịch đã kết
hợp chúng tôi lại lúc ấy. Khi bàn ăn được dọn dẹp, Holmes liếc nhìn đồng hồ và
rót ba ly rượu.

- Một tuần rượu để chúc chuyến đi nho nhỏ của chúng ta thành công! - Anh ra
lệnh - Và bây giờ đã đến lúc lên đường. Watson, anh có súng ngắn không?

- Tôi có khẩu súng cũ trong bàn giấy.

- Anh nên mang nó theo. Phải dự
kiến mọi tình huống. Tôi thoáng thấy xe đợi ở cửa. Tôi đã gọi hẹn lúc sáu giờ
rưỡi.

Khoảng sau bảy giờ, chúng tôi đến
bến Westminster. Bằng con mắt lành nghề, Holmes xem xét chiếc đò máy đang đợi
chúng tôi.

- Có dấu hiệu gì cho biết nó thuộc
cảnh sát?

- Vâng, có. Có ngọn đèn xanh bên
hông.

- Thế thì phải gỡ nó ra.

Sau khi đã cải tiến chút đỉnh như
thế, chúng tôi ngồi vào tàu và người ta nhổ neo. Jones, Holmes và tôi ngồi phía
sau. Một người đứng ở đầu lái, một người đứng máy và hai viên thanh tra cảnh
sát vạm vỡ ở phía trước.

- Ta đi đâu đây - Jones hỏi.

- Đến Tower[2]. Nói họ ngừng trước ụ tàu Jacobson.

Rõ ràng chiếc tàu của chúng tôi chạy rất nhanh. Chúng tôi qua mặt từng đoàn
xà lan chất đầy hàng, nhanh tưởng như những đoàn đang bỏ neo. Holmes nở một nụ
cười thỏa mãn khi thấy tàu chúng tôi đuổi kịp một chiếc tàu máy khác và để nó
lại phía sau.

- Ta phải có khả năng đuổi kịp bất cứ ai trên đoạn sông này - Anh nói.

- Có thể là hơi nói ngoa nhưng không có nhiều đò máy có khả năng bỏ rơi
chúng ta đâu.

- Ta phải đuổi chân chiếc “The Aurora” vốn nổi tiếng phóng nhanh như giống
hải âu. Tôi sẽ giải thích bằng cách nào tôi đã tìm thấy chiếc “The Aurora”,
Watson. Anh còn nhớ tơi bực mình hết sức vì bị cản trở bởi một việc khó khăn
cỏn con chứ?

- Có.

- Thế này nhé. Lúc vùi đầu vào việc phân tích hóa chất, trí óc tôi được hoàn
toàn thanh thản. Một trong những chính khách lớn nhất của ta có nói cách nghỉ
ngơi tốt nhất là thay đổi công việc làm. Ấy thế mà đúng đấy! Khi tôi thành công
việc hòa tan hydrocarbon, một công trình tôi nghiên cứu từ trước, tôi quay về
vấn đề Sholto và một lần nữa duyệt xét lại toàn bộ vấn đề. Đám trẻ con của tôi
lục soát không kết quả con sông - ngược cũng như xuôi dòng. Chiếc đò máy không
nằm tại một bến đò nào mà cũng không trở về bến của nó. Bị đánh đắm để xóa mọi
dấu vết là điều khó có thể xảy ra. Tuy nhiên tôi vẫn giữ lại giả thuyết này
trong đầu trường hợp cần đến nó. Tôi biết cái anh chàng Small kia là một người
khá mưu mô xảo quyệt nhưng tôi không tin hắn có đủ tinh vi. Sau đó, tôi nghĩ
đến việc là hắn chắc đã ở tại London một thời gian, bằng chứng là hắn kiểm soát
chặt chẽ khu biệt trang Pondicherry. Như vậy hắn rất khó lòng mà bỏ đi tức khắc
được. Hắn cần một khoảng thời gian nào đó, dầu chỉ là một ngày để thanh toán
công việc. Ít ra những điều này cũng có thể xảy ra.

- Tôi lại thấy có vẻ khá độc đoán - Tôi nói - Điều có thể xảy ra hơn là hắn
đã thu xếp mọi sự trước khi ra tay chứ.

- Không, tôi không nghĩ như vậy. Hang ổ của hắn là một nơi trú ẩn quý báu
quá nên hắn không thể nghĩ đến việc rời bỏ nơi đó trước khi chắc chắn có thể
tìm ra một nơi khác. Rồi lại còn mặt này nữa của vấn đề: Jonathan chắc phải
nghĩ đến hình dáng khác thường khó lòng che mắt của tên tòng phạm, dù có cho y
ăn mặc cách nào chăng nữa cũng có thể gợi trí tò mò và còn có thể khiến một số
người liên hệ đến tấn thảm kịch ở Norwood nữa. Hắn đủ thông minh để nghĩ đến
điều đó. Bọn chúng rời khỏi nhà vào ban đêm và Small phải trở về trước rạng
sáng. Thế mà khi chúng đến nơi chiếc đò đậu thì đã quá 3 giờ sáng; còn một
tiếng đồng hồ nữa là ngày sẽ tỏ, thiên hạ bắt đầu đi lại... Tôi kết luận bằng
lối suy diễn là chúng không đi xa lắm đâu. Chúng trả tiền hậu hĩ cho Small để
ông này kín miệng và giữ chiếc đò máy sẵn sàng cho cuộc đào tẩu sau cùng; và
chúng hấp tấp trở về nhà cùng với kho báu. Hai, ba ngày sau, sau khi xem xét kỹ
báo chí trình bày sự việc như thế nào, và đã kiểm tra xem chúng có bị nghi ngờ
gì không, chúng sẽ ra đi bằng đò máy, nhờ bóng đêm che chở, về chiếc tàu nào đó
thả neo tại Gravesend hoặc Down. Chắc chắn bọn chúng đã lấy vé đi Mỹ hoặc các
xứ thuộc địa.

- Thế còn chiếc đò máy? Chúng đâu có thể mang theo!

- Đồng ý! Thế là tôi nhất quyết chiếc đò máy không ở đâu xa dầu tìm không
thấy. Tôi tự đặt vào địa vị Small và nhìn vấn đề theo góc cạnh của chính hắn.
Có lẽ hắn cũng ý thức mối hiểm nguy nếu đưa đò về bến chính hoặc giữ nó lại tại
một bến nào đó, nếu cảnh sát phăng ra dấu vết của hắn. Thế thì làm sao vừa che
giấu chiếc tàu đồng thời giữ nó trong tầm tay sẵn sàng để sử dụng. Tôi sẽ xử
trí ra sao ở vào địa vị của hắn và trong những hoàn cảnh tương tự? Tôi tìm kiếm
và chỉ thấy có một cách duy nhất là giao chiếc tàu cho một xưởng đóng tàu hoặc
sửa chữa, với lời dặn thay đổi đôi chút. Như thế là chiếc tàu nằm trong một
hãng nào đó, và được che giấu kỹ. Tuy nhiên, trong vài tiếng đồng hồ nữa nó lại
thuộc quyền sử dụng của tôi.

- Nghe ra khá đơn giản đấy.

- Y chính những điều rất đơn giản mới có nhiều cơ hội nhất để qua mắt thế
gian. Tôi quyết định mang suy nghĩ này ra ứng dụng thử xem. Mặc vào người bộ áo
quần thủy thủ vô hại này, tôi liền đi điều tra trong tất cả các xưởng xuôi
sông, không kết quả trong mười lăm xưởng. Nhưng đến xưởng thứ mười sáu, xưởng
của Jacobson, tôi được biết chiếc “The Aurora” được giao cho họ hai ngày trước
đó do một người đi chân gỗ than phiền về bánh lái tàu. "Cái bánh lái ấy
chẳng có sao cả". Viên đốc công bảo tôi thế - "Kìa, chiếc đò máy ấy
kia kìa, chiếc có những vạch đỏ".

Vừa lúc ấy, ai xuất hiện? Thì chính Mordecai Smith, người chủ mất tích. Ông
ta say bí tỷ. Dĩ nhiên tôi không thể nhận ra nếu ông ta đừng đem tên mình và
tên chiếc tàu ra mà gào lên đến vỡ họng: "Tôi cần nó đúng tám giờ, anh
nghe rõ chứ? Tôi có hai vị không chờ đợi được đâu đấy".

- Bọn chúng chắc đã chu cấp rộng rãi cho Smith. Y thừa thãi tiền và phân
phát những đồng shilling thoải mái cho thợ thuyền. Tôi theo y bén gót trong một
thời gian, nhưng y lại biến mất trong một quán rượu. Thế là tôi trở về xưởng và
trên đường gặp một chú trinh sát của tôi, tôi đặt nó canh chừng cạnh chiếc đò
máy. Tôi bảo nó đứng ngay cạnh bờ sông và vẫy khăn tay khi thấy chúng chạy. Bố
trí như vậy quả là điều lạ lùng nếu chúng tôi không tóm gọn được cả bọn và kho
báu.

- Dầu có phải đúng là bọn ấy hay không chăng nữa, thì ông cũng đã chuẩn bị
mọi thứ rất kỹ càng - Jones nói - Nhưng nếu tôi đảm trách vụ này, tôi sẽ lập
một vành đai cảnh sát quanh ụ tàu của Jacobson và bắt chúng ngay lúc chúng trở
về.

- Nghĩa là chẳng bao giờ. Vì Small là một tay khá quỷ quyệt. Hắn sẽ cho
người thám thính, và nếu có động tĩnh gì là hắn sẽ lẩn trốn trong một tuần lễ.

- Nhưng anh có thể bám gót Mordecai Smith và từ đó phát hiện ra nơi ẩn nấp
của chúng - Tôi biện bác lại.

- Nếu thế, tôi sẽ mất cả một ngày. Tôi tin rằng chẳng có lấy một phần trăm
may mắn để Smith biết được nơi ẩn nấp của chúng. Tại sao y lại đi thắc mắc này
nọ trong khi y được trả công rất hậu và nhận thả cửa? Chúng sẽ truyền đến y
những chỉ thị. Không anh ạ, tôi đã nghĩ kỹ đủ các phương cách hành động và cách
này là tốt nhất.

Trong lúc trao đổi, chúng tôi đã vượt qua một loạt những cây cầu bắc qua
sông Thames. Lúc chúng tôi vào đến trung tâm thành phố, những tia nắng cuối
cùng nhuộm vàng cây thập tự trên nóc nhà thờ St. Paul. Hoàng hôn trải rộng
trước khi chúng tôi đến Tháp London.

- Đây là ụ tàu của Jacobson - Holmes vừa nói vừa chỉ vào đám lố nhố chằng
chịt những cột buồm dây thừng bên phía Surrey - Ta hãy chạy lên xuống dọc sông
với tốc độ giảm. Ta chạy tuần tra nấp theo sau đoàn xà lan kia.

Anh lấy cặp ống nhòm trong túi ra và quan sát bờ bên kia một hồi.

- Tôi trông thấy chú trinh sát ở vị trí rồi - Anh tiếp - Nhưng nó không vẫy
mù-soa.

- Hay chúng ta đi xuống dọc sông một chút rồi đợi chúng tại đó - Jones vồn
vã đề nghị.

Giờ thì chúng tôi đều nôn nóng; ngay cả mấy cảnh sát viên và thợ máy là
những người chỉ có một ý niệm rất mơ hồ về những gì đang chờ đợi chúng tôi.

- Ta không được quyền phạm một sai sót nào, dầu nhỏ nhất - Holmes đáp - Rất
có thể là chúng xuôi sông, dĩ nhiên, nhưng chẳng có gì là chắc cả. Từ vị trí
chúng ta có thể kiểm soát lối ra vào các xưởng, ngược lại chúng khó lòng nhận
ra chúng ta. Đêm nay trời trong sáng và ta sẽ có đủ ánh sáng cần thiết. Anh có
thấy đám người chen chúc vội vã ở chân cột đèn đằng kia không?

- Họ rời xưởng. Đã hết giờ làm việc.

- Trông họ thật gớm ghiếc nếu cứ nghĩ người nào cũng ẩn giấu một tia nhỏ vô
luận nào đó trong đầu. Nhưng, ta lại không được quyền nghĩ thế: ta không thể
phát biểu cái "có lẽ" một cách võ đoán được. Con người là một bí hiểm
đến lạ lùng.

- Có ai đó nói rằng con người là một con thú mang xác người - Tôi bảo anh
ấy.

- Về điểm này, Winwood Reade thật
tuyệt. Ông ấy nhận xét rằng con người nếu tách riêng ra là một bài toán nát óc
không giải nổi, nhưng đứng giữa đám đông, nó lại biến thành một chính xác có
tính toán học. Chẳng hạn, anh không thể tiên đoán kẻ này kẻ nọ sẽ làm gì, chúng
anh có thể dự kiến một nhóm người sẽ cư xử ra sao. Cá nhân thì thay đổi, song
trung bình các cá nhân lại bất biến. Nhà thống kê học nói thế đấy. Ờ mà kìa,
chẳng phải tôi vừa trông thấy chiếc khăn tay đó sao? Kia kìa: có cái gì trăng
trắng đang động đậy.

- Đúng, chú trinh sát của anh đó -
Tôi kêu lớn - tôi thấy nó rất rõ.

- Và kìa, chiếc “The Aurora”. Nó
phóng nhanh như quỷ sứ. Ê thợ máy, mở hết tốc lực nhanh đi nào. Hướng về chiếc
đò máy có ánh đèn màu vàng kia. Trời đất? Thật hết chịu nổi nếu nó nhanh hơn
ta.

Nó len lỏi giữa lối ra vào xưởng,
lách mình qua giữa hai, ba chiếc tàu nhỏ hơn. Nó đã đạt lên tốc độ tối đa, hay
gần như thế, trước khi có thể trông thấy nó. Xả hết hơi, giờ nó xuôi sông nép
theo khá gần bờ, Jones nhìn theo nó, lắc đầu.

- Nó chạy nhanh quá - Ông nói - Tôi
e rằng ta không bắt kịp nó đâu.

- Phải đuổi kịp nó chứ? - Holmes
kêu lớn - Cho đầy nước vào nồi súp de đi, thợ máy! Hãy bám theo chúng, phải đạt
năng suất tối đa vào! Phải đuổi bắt kịp chúng nó, dầu có phải đốt cháy tàu ta!

Đến lượt chúng tôi bắt đầu gia tăng
tốc độ. Nồi súp-de gầm rít, mấy máy cực mạnh thở phì phì và rung lên như con
tim kim khí khổng lồ. Mũi tàu sắc nhọn rẽ nước ném ra hai bên hai lớp sóng gào
thét. Cứ mỗi nhịp máy nổ, con tàu lái nhảy chồm lên rung chuyển như con vật
sống động. Phía trước, ngọn đèn lồng màu vàng quét một tia sáng dài lung linh.
Một vệt tối trên sóng nước chỉ rõ vị trí của chiếc “The Aurora”. Bọt trắng sôi
sục phía sau nó cho biết tốc độ điên cuồng của nó. Chúng tôi đâm bổ tới trước
nhanh hơn. Chúng tôi qua mặt đoàn xà lan, tàu kéo, tàu buôn, lướt nhẹ qua chiếc
này, bọc vòng chiếc kia. Từ trong bóng tối vọt lên những tiếng la hét gọi réo
theo chúng tôi.

- Đốt lửa lò thêm nữa các bạn, đốt
thêm lên đi – Holmes hét lớn, nhìn vào buồng máy bên dưới. Nồi súp-de đỏ rực
chiếu sóng lên khuôn mặt nóng nảy của anh - Nạp hết hơi nước vào!

- Tôi nghĩ ta đã bắt kịp nó tí đỉnh
rồi đó - Jones nói, mắt không rời chiếc “The Aurora”.

- Chắc thế rồi - Tôi nói - Trong ít
phút nữa ta bắt kịp nó thôi.

Đúng vào lúc đó, một chiếc tàu kéo
ba chiếc xà lan xen vào giữa chúng tôi, như có một vị thần tai ác nào cố tình
đặt nó vào đấy. Chúng tôi chỉ có thể tránh khỏi sự va chạm bằng cách kéo mạnh
hết cỡ chiếc bánh lái. Thời gian vòng qua đoàn tàu và bẻ lái hướng về những kẻ
chạy trốn đủ cho chiếc “The Aurora” lấn tới

thêm 200 yard. Tuy nhiên nó vẫn còn
trong tầm nhìn.

Ánh hoàng hôn mờ đục nhường chỗ cho
ánh sao soi sáng trên bầu trời đêm, sức mạnh khổng lồ ném chúng tôi về phía
trước khiến vỏ tàu mỏng nhẹ của chúng tôi rung lên và nghiến rít. Chúng tôi
chạy băng qua vực, vượt qua khu bến tàu Tây Ấn, chạy xuống dọc theo khúc sông
Deptford rồi quay mũi lên sau khi vòng qua Isle of Dogs. Jones chụp được chiếc
“The Aurora” trong chụm tia sáng của chiếc đèn pha; chúng tôi trông thấy rõ
bóng người trên boong. Một người ngồi phía đuôi tàu, ôm giữ hai chân một vệt đen
và cúi mình lên đó. Nằm cạnh hắn là một khối đen mờ trông giống như con chó
giống miền Đất Mới. Cậu bé Smith giữ cần lái trong lúc cha nó lưng trần, bóng,
nổi rõ trước lò lửa đỏ rực, tiếp than từng xẻng lớn theo một nhịp độ khủng
khiếp. Có lẽ thoạt đầu bọn chúng chưa rõ ý định của chúng tôi, nhưng đến lúc
thấy chúng tôi bắt chước chúng theo từng khúc quanh, từng lối ngoằn ngoèo thì
chúng không còn ngờ vực gì nữa. Đến Greenwich chúng tôi cách sau tàu chúng độ
300 bộ[3]. Đến Blackwall, chỉ còn cách 250 bộ. Trong cuộc đời sôi nổi của tôi,
tôi đã săn bắn nhiều thú tại nhiều nước, nhưng môn thể thao đó chưa bao giờ tạo
cho tôi cái kích động man rợ trong cuộc săn đuổi người giữa dòng sông Thames
này. Cứ đều đặn, từng yard, từng yard, chúng tôi có thể nghe rõ tiếng máy tàu
thở hổn hển và đập ầm ầm. Người trên boong vẫn ngồi xổm, đôi tay cử động tưởng
như đang bận vào việc gì đó. Thỉnh thoảng hắn lại lấy mắt đo khoảng cách giữa
chúng tôi đang giảm xuống một cách khắc nghiệt. Jones gọi chúng. Chúng tôi chỉ
còn cách nhau bốn thân tàu. Hai chiếc vẫn chạy với một tốc độ kinh khủng.

Trước mặt chúng tôi, dòng sông trải
rộng mênh mông, bên này bờ là vùng Barking và bên kia là những đầm lầy
Plumstead hoang vắng. Nghe chúng tôi gọi, người trên boong nhảy nhổm dậy, đưa
hai nắm tay lên và chửi thề với giọng khàn đặc. Hắn có tầm vóc rất vạm vỡ. Lúc
đứng thẳng đối diện với chúng tôi, hai chân soạn ra để dữ thăng bằng, tôi có
thể thấy từ vế trở xuống chi là cái chân gỗ. Nghe tiếng la hét giận dữ của hắn,
cái khối đen ngòm bên cạnh hàn bắt đầu cử động. Khối đen ấy biến thành một con
người nhỏ da đen, một con người bé nhỏ mà tôi chưa từng thấy. Nó có cái đầu dị
dạng và một mớ tóc rối bời. Holmes đã rút khẩu súng ngắn của anh ra khi trông
thấy sinh vật quái dị ấy, và tôi bắt chước theo. Gã man di quấn quanh mình một
thứ áo choàng màu sẫm hay cái mền gì đó, chỉ để hở cái mặt, nhưng cái mặt ấy đủ
khiến ta không ngủ được. Đường nét trên mặt hằn sâu tính hung bạo súc vật. Cặp
mắt ti hí long lanh rực lên một thứ ánh sáng tối tăm. Đôi môi méo xệch thành
cái nhếch mép ghê tởm. Răng hắn nghiến vào nhau, đánh vào nhau lập cập khi thấy
chúng tôi với vẻ giận dữ thú vật.

- Cứ nổ súng nếu nó đưa tay lên -
Holmes bảo khẽ.

Lúc này chúng tôi cách nhau chưa
được một thân tàu và gần bắt được con mồi. Bây giờ tôi vẫn còn thấy rõ như in
hai người đứng trong ánh đáng ngọn đèn chúng tôi: tên da trắng chân dang rộng,
gào thét những câu chửi rủa và tên lùn dị tướng với bộ mặt gớm ghiếc, hàm răng
vàng khè rắn chắc như muốn ngoạm lấy chúng tôi.

Thật may là chúng tôi trông thấy nó
rõ ràng đến thế. Vì ngay dưới mắt chúng tôi, nó rút từ dưới mền ra một khúc gỗ
ngắn tròn, trông giống cây thước kẻ học trò và đưa lên miệng. Hai khẩu súng
ngắn của chúng tôi cùng nổ một lúc. Nó quay người, dang hai tay lên trời rồi
ngã xuống về một bên, rơi xuống dòng nước, kèm theo tiếng nấc nghẹn. Tôi thoáng
thấy cặp mắt đầy đe dọa giữa lớp sóng bạc. Nhưng cùng lúc đó, tên chân gỗ nhoài
người về bánh lái và bẻ hết cỡ. Chiếc đò máy xoay mình chạy thẳng về phía bờ
nam, vừa lúc chúng tôi qua mặt nó, chỉ nhích qua vài feet là va vào nó. Một lúc
sau, chúng tôi đổi hướng chạy, nhưng chúng đã gần đến bên kia bờ. Đó là một
vùng đất hoang vu, tiêu điều. Mảnh trăng chiếu ngời trên vùng đất rộng, đầm
lầy, đầy ao hồ nước đọng và loài cây cỏ úng thối. Sau một tiếng va mạnh, chiếc
đò máy mắc cạn lên bờ sình lầy, mũi tàu dốc ngược lên, đuôi chìm xuống nước.
Tên tôi phạm chạy trốn nhảy ra khỏi tàu, nhưng cái chân gỗ lún sâu trong đất
nhão. Hắn vùng vây, vặn mình đủ cách: vô ích! Hắn chẳng nhích lên hoặc lùi
xuống được lấy một bước. Gào thét trong cơn giận dữ bất lực, hắn dùng cái chân
kia điên cuồng đập vào bùn. Nhưng những cố gắng chỉ làm cho chiếc chân gỗ lún
sâu thêm. Khi đó máy chúng tôi đỗ ngay sát hắn ta, hắn bị neo chặt trong bùn
đến nỗi chúng tôi phải buộc một vòng dây quanh ngực mới kéo được hắn lên về
phía chúng tôi y như một con cá. Hai cha con Smith ngồi trên đò, nét mặt cau
có, nhưng vẫn ngoan ngoãn bước lên tàu chúng tôi khi Jones ra lệnh. Rồi lại
phải kéo chiếc “The Aurora” theo chúng tôi.

Trên boong tàu là một chiếc hộp sắt
chế tạo tại Ấn Độ. Đó dĩ nhiên là cái hộp đựng cái kho báu đã gây tang tóc cho
Sholto. Nó rất nặng và chúng tôi phải chở nó rất cẩn thận trong khoang tàu
chúng tôi. Ổ khóa không có chìa. Chạy chầm chậm ngược dòng sông, chúng tôi quét
đèn chiếu chung quanh nhưng chẳng thấy dấu vết con quái vật bé tí. Đâu đó dưới
đáy sông Thames, trong sình lầy, yên nghỉ nắm xương của gã du khách lạ lùng đó.

- Hãy nhìn vào đây mà xem này!
Holmes vừa nói vừa chỉ vào cửa buồng hầm tàu - Thật vừa đúng lúc ta nhanh tay
với hai khẩu súng ngắn.

Thật vậy, ngay phía sau chỗ chúng
tôi đứng lúc nãy có ghim một mũi tên giết người mà ta đã biết quá rõ. Chắc nó
đã bay đến giữa chúng tôi vừa lúc chúng tôi nổ súng. Holmes, theo cung cách
điềm tĩnh của anh, chỉ mỉm cười nhún vai. Riêng phần tôi thú thật là tôi vẫn
còn xúc động nghĩ đến cái chết khủng khiếp mà chúng tôi đã thoát khỏi trong
chân tơ kẽ tóc đêm ấy.

---

[1]
Nguyên văn: Ceylon

[2]
Tower of London: Tháp London, xây dựng vào thế kỷ XI, dùng làm cung điện và nơi
giam tù chính trị.

[3]
Nguyên văn: pace, khoảng cách ước chừng một bước chân

Báo cáo nội dung xấu